DiscoverTạp chí Âm Nhạc
Tạp chí Âm Nhạc
Claim Ownership

Tạp chí Âm Nhạc

Author: RFI Tiếng Việt

Subscribed: 77Played: 986
Share

Description

Góc vườn âm nhạc của RFI

348 Episodes
Reverse
Thành danh trong làng nhạc Pháp vào đầu những năm 1970, C.Jérôme nổi tiếng hầu như cùng thời với những giọng ca nam chuyên hát nhạc tình như Mike Brant (Qui saura), Dave (Vanina) hay Patrick Juvet (La Musica). Trong số những bản nhạc ăn khách của C.Jérôme, có nhạc phẩm Derniers baisers (Những nụ hôn cuối), phóng tác từ bản gốc tiếng Anh Sealed with a Kiss, do nhóm The Four Voices phát hành vào năm 1960. C.Jérôme (1946-2000) không phải là người đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Pháp. Phiên bản tiếng Pháp lâu đời nhất là vào năm 1962 của Mike Shannon, ca sĩ chính của nhóm Les Chats sauvages (Những chú mèo hoang). Danh ca Laurent Voulzy cũng có ghi âm bài này vào năm 2006 trên album La septième vague (Làn sóng thứ bảy). Nhưng thành công nhất về số bán vẫn là phiên bản của C.Jérôme, phát hành vào năm 1986, cách đây đúng 40 năm.  Tên thật là Claude Dhôtel, sinh ra tại Paris, nhưng do mồ côi cha từ khi còn nhỏ, C.Jérôme được ông bà nội nuôi dưỡng tại ngôi làng Champenoux, gần thành phố Nancy. Thời niên thiếu, anh tham gia ban nhạc rock Les Storms, rồi sau đó đến Paris lập nghiệp, thường xuyên lui tới các sân khấu nhạc rock nổi tiếng thời bấy giờ  (câu lạc bộ Golf-Drouot và La Locomotive). Trong giai đoạn này, anh làm quen với ông Jean Albertini, giám đốc nghệ thuật của nam danh ca Christophe sau này cũng trở thành nhà sản xuất của anh.  Tuy nhiên, C.Jérôme không may mắn như các giọng ca xuất thân từ phong trào nhạc trẻ tại Pháp những năm 1960: Trong khi sự nghiệp của hai danh ca Christophe và Hervé Vilard đều lần lượt cất cánh vào năm 1965, những bản ghi âm đầu tiên của C.Jérôme trong giai đoạn 1967-1971 với hãng đĩa Barclay đều không thành công. Mãi đến năm 1972, bài hát ăn khách đầu tiên của C.Jérôme là nhạc phẩm Kiss Me về đầu bảng xếp hạng tại Pháp, chinh phục thị trường các nước Áo, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ ..... Thành công này mở đường cho nhiều bài hát ăn khách khác như Himalaya (1972), từng được nhạc sĩ Phạm Duy chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm Đưa nhau lên núi, Manhattan (1973) và nhất là bài hát C'est moi (1974), từng được dịch sang tiếng Việt thành giai điệu Biệt tăm cánh chim trời (lời Nguyễn Vương). Thành công vang dội này củng cố hình ảnh của C.Jérôme trong lòng người mến mộ.  Tuy tiếp tục ghi âm đĩa hát đều đặn, thường xuyên xuất hiện trong các show truyền hình, nhưng giống như nhiều ca sĩ cùng thế hệ, tên tuổi của C.Jérôme bi lu mờ vào giữa thập niên 1970, trước sự trỗi dậy của phong trào nhạc disco, chỉ có Claude François hay Patrick Juvet (phái nam) Dalida hay Sheila (phái nữ) mới thành công rực rỡ khi bắt nhịp trào lưu này. Vào năm 1985, nhờ vào sự hợp tác với nhà sản xuất Jean Albertini và tác giả Didier Barbelivien, C.Jérôme và nam danh ca Christophe đều có màn tái xuất ngoạn mục. Christophe thành công với nhạc phẩm Petite fille du soleil trong khi C.Jérôme lập kỷ lục số bán với hơn một triệu bản của ca khúc Et tu danses avec lui (Đầu tựa vai người ấy) ngự trị trên bảng xếp hạng của Pháp trong nhiều tháng liền. Riêng ban nhạc tiếng Pháp Derniers Baisers (Những nụ hôn cuối) phát hành vào năm 1986 (phóng tác từ giai điệu "Sealed with a kiss" của Peter Udell & Gary Geld) là bài hát cuối cùng của C.Jérôme chinh phục thị trường Pháp. Trong tiếng Việt, bài này có nhiều lời khác nhau : "Tình yêu trong đời" của nhạc sĩ Trường Kỳ và "Hạ vàng biển xanh" của tác giả Trường Hải có lẽ là hai phiên bản nổi tiếng nhất. Lời thứ ba "Nụ hôn đầu" là của tác giả Giáng Ngọc. Bài hát còn có một phiên bản thứ tư với tựa đề "Những nụ hôn cuối" do Khúc Lan viết lời. Vào những năm 1990, C.Jérôme đã ghi âm thêm nhiều đĩa đơn, nhưng hầu hết đều không thu hút được sự chú ý của công chúng. Dần chuyển sang ngành truyền thông, anh trở thành phát thanh viên cho đài Radio Monte Carlo (Les Années Tubes), cũng như tham gia giới thiệu trong nhiều show truyền hình trên kênh một và kênh ba. Vi ly do sức khỏe, anh ngừng hẳn mọi công việc vào cuối năm 1999. Chưa đầy 6 tháng sau, C.Jérôme đột ngột qua đời vì bệnh ung thư, để lại  nhiều dự án ghi âm dang dở. Trong vòng 30 năm sự nghiệp ca hát, anh đã bán được hơn 25 triệu đĩa nhạc, để lại trong lòng người hâm mộ hình ảnh một người nghệ sĩ chân thành, dễ gần gũi, lúc nào cũng lạc quan vui tươi, nụ cười luôn nở trên môi, đâu biết khi nào đánh mất tình yêu trong đời, nào ngờ định mệnh cho anh những nụ hôn cuối.
Cũng như ca sĩ gốc Nhật Marcia, Toshimi Tagawa (sinh năm 1975) là một trong những nghệ sĩ thành danh tại xứ hoa anh đào vào những năm 1990. Sở trường của cô là dòng nhạc enka (diễn ca) và nhất là thể loại "mood kayo" chuyên diễn đạt nội tâm day dứt u sầu. Một trong những bản nhạc gắn liền với tên tuổi này là nhạc phẩm "Shaku nage no ame" (Mưa ngàn hoa đỗ quyên).  Sinh truởng tại tỉnh Wakayama, Toshimi Tagawa từ thời niên thiếu đã có nhiều năng khiếu nghệ thuật. Thời còn học lớp trung học, cô thường tham gia các buổi văn nghệ nhà trường cũng như các hoạt động ngoại khóa. Tuy còn trẻ, nhưng giọng ca của Toshimi lại khá dày dặn, chín muồi, nhờ vậy mà lọt vào tai của nữ tác giả Keiko Yuki. Theo lời giới thiệu của bà Keiko, cô chuyển đến Tokyo lập nghiệp. Thời gian đầu, cô theo học thanh nhạc dưới sự đào tạo hướng dẫn của nhạc sư Jun Suzuki. Vào năm 17 tuổi, Toshimi Tagawa chính thức bước chân vào làng nhạc với đĩa đơn "Onna... Hitoritabi" do hãng đĩa Nippon Columbia phát hành. Bài hát này ngay lập tức thành công trên thị trường Nhật Bản. Nhờ bản ghi âm này, Toshimi Tagawa đoạt được nhiều giải thưởng quan trọng, trong đó có giải Japan Music Awards dành cho tài năng mới xuất sắc vào năm 1992. Trong tiếng Nhật, bài hát này có nghĩa là "Hành trình đơn độc". Còn trong tiếng Việt, giai điệu này được tác giả Khúc Lan chuyển thành nhạc phẩm "Màu nắng vẫn yêu" do ca sĩ Ngọc Bích ghi âm. Trên đà thành công của hai album đầu tay, Toshimi Tagawa muốn chuyển sang thể loại nhạc pop Nhật Bản mà theo cô có âm thanh trẻ trung hiện đại hơn. Nhưng theo lời khuyên của nữ tác giả Keiko Yuki, vào những năm 1990, thị trường Nhật Bản không thiếu gì những giọng ca theo phong trào nhạc trẻ tân thời. Việc chọn dòng nhạc enka đối với một giọng ca mới vào nghề, đôi khi lại trở thành ưu thế. Có lẽ cũng nhờ vào quyết định sáng suốt này mà Toshimi Tagawa đã trụ vững trong vòng ba thập niên liền. Từ khi ra mắt vào năm 1992, tính đến nay Toshimi đã ghi âm hơn 50  đĩa đơn và phát hành khoảng 30 album phòng thu. Tổng cộng, Toshimi đã bán được hàng chục triệu đĩa hát trong vòng 30 năm sự nghiệp. Mỗi lần biểu diễn trên sân khấu, cô thường xuất hiện trong bộ trang phục kết hợp kimono truyền thống với thời trang Tây Âu. Âm thanh của đàn ghi ta điện hay nhạc cụ điện tử giúp Toshimi Tagawa làm mới các bài hát diễn ca kinh điển, dòng nhạc vang bóng một thời. Nhờ phong cách này, gần một thập niên sau khi khởi nghiệp, Toshimi Tagawa đoạt giải thưởng thu âm Nhật Bản Japan Records Award lần thứ 43 (2001) dành cho giọng ca nữ xuất sắc nhất. Trong số những bài hát nổi tiếng của Toshimi Tagawa, có những  giai điệu như "Uminari", bản tình ca mang âm hưởng enka truyền thống đầy cảm xúc. "Inochi Kagerou" hay "Shimoda No Tsubaki", những bản nhạc trữ tình lãng mạn, với giai điệu ngọt ngào, sâu lắng. Một trong những tình khúc tiêu biểu trong sự nghiệp của Toshimi Tagawa vẫn là nhạc phẩm "Shaku nage no ame" từng được ca sĩ Julie Quang ghi âm dưới tựa đề "Màu tuyệt vọng" qua cách đặt lời của tác giả Khúc Lan. Trong bản gốc tiếng Nhật, bài này có nghĩa là "Mưa ngàn hoa đỗ quyên". Bài hát dùng ẩn dụ tình yêu tựa như cơn mưa, khi xưa bao khoảnh khắc nhiệm màu, bây giờ lại rơi xuống thành muôn ngàn nỗi đau. Mưa giông nào xui khiến  Cho đất trời ngả nghiêng  Ngỏ hồn thêm quyến luyến  Bao kỷ niệm chưa quên    Mưa nặng hạt thấm mềm  Trĩu muôn nhánh đỗ quyên  Ngàn nỗi sầu đưa tiễn Tim chẳng còn ngủ yên.
Nếu không có ngòi bút của tác giả người Pháp Vline-Buggy thì có lẽ Canada chẳng bao giờ có một diva nhạc pop mang tên Céline Dion. Chính cũng vì bà Thérèse Dion trong lúc đang mang thai, được nghe bài hát Céline do Vline-Buggy sáng tác viết lời, cho nên bà mới lấy tựa bản nhạc này để đặt tên cho cô con gái. Trên đây là giai thoại rất nổi tiếng mà nam danh ca người Pháp Hugues Aufray thường hay kể lại khi nhắc tới bà Vline-Buggy, vừa qua đời hôm 26/09/2026, hưởng thọ 97 tuổi. Tên thật là Liliane Konyn, bà sinh trưởng tại Paris trong một gia đình nghệ sĩ trứ danh. Từ thuở thiếu thời, bà đã thừa hưởng năng khiếu sáng tác của thân phụ là nhà soạn nhạc Georges Konyn, bút danh Géo Koger (1894-1975). Ông đặc biệt nổi tiếng vào những năm 1930 nhờ hợp tác với nhạc sĩ Vincent Scotto, sáng tác những nhạc phẩm kinh điển như « J'ai deux amours » (Tôi có hai mối tình) cho Josephine Baker, nàng « Marinella » cho Tino Rossi hay bài hát « La Java bleue » (Điệu Java màu xanh) cho Fréhel. Khi nối nghiệp thân phụ, bà Liliane không sáng tác một mình mà lại cùng viết lời với người chị ruột là Évelyne Konyn. Cặp bài trùng này (Évelyne-Liliane) lấy nghệ danh là Vline-Buggy, họ bắt đầu sự nghiệp sáng tác cho thế hệ đàn anh là Yves Montand hay Luis Mariano trước khi chuyển sang viết ca khúc cho các thần tượng nhạc trẻ, khi phong trào dịch các bản nhạc ăn khách của Anh-Mỹ sang tiếng Pháp, bắt đầu rộ lên vào cuối những năm 1950, đầu thập niên 1960. Trong thời gian khởi nghiệp, tên tuổi của nhóm sáng tác Vline-Buggy gắn liền với thần tượng nhạc trẻ Claude François. Trong vòng 5 năm, từ 1962 đến 1967, Vline-Buggy đã viết lời cho khoảng 70 ca khúc cho Claude François, trong số này phần lớn là những bản phóng tác từ tiếng Anh sang tiếng Pháp, điển hình là các ca khúc « Belles belles belles, J'y pense et puis j'oublie » và nhất là lời Pháp cho « Donna Donna » (bản nhạc gốc tiếng Do Thái phát hành vào năm 1940 là của hai tác giả Aaron Zeitlin và Sholom Secunda). Còn trong tiếng Việt, có phiên bản « Tiếc Thương » của Trần Tiến và phiên bản đầu tiên « Thương Tiếc » phát hành trước năm 1975 là của ca sĩ kiêm tác giả Tuấn Dũng, thành viên sáng lập cùng với ca sĩ Trung Hành ban nhạc Mây Trắng. Đang trên đà thành công, cô Évelyne tức là tác giả Vline trong cặp bài trùng Vline-Buggy lại đột ngột qua đời vì lâm bạo bệnh. Tuy chỉ còn một mình, nhưng bà Liliane quyết định tiếp tục sự nghiệp và giữ nguyên bút danh kép của hai chị em là Vline-Buggy. Sự nghiệp sáng tác của Vline-Buggy đạt đỉnh cao khi bà phóng tác nhạc phẩm « The House of the Rising Sun » (Căn nhà trong ánh bình minh) thành nhạc phẩm « Le Pénitencier » 1964 cho Johnny Hallyday. Hai năm sau (1966) bà viết lời cho nhạc phẩm « Céline ». Bài này ban đầu bị Claude François cũng như Richard Anthony từ chối, cho nên ca sĩ Hugues Aufray buộc phải tự thu âm lấy, nào ngờ đâu giai điệu này lại trở thành một trong những bản nhạc ăn khách nhất của ông. Trong số những thành công lớn khác của Vline-Buggy, có những bài hát được viết cho Dalida (Depuis qu’il vient chez nous), Michel Sardou (Les Bals populaires), France Gall (On t'avait prévenue), Vicky Leandros (La Lettre), Enrico Macias (Mélisa), Mireille Mathieu (Mon ami de toujours), Sheila (La Pluie), Hervé Vilard (Après tant d’amour). Bà đã góp phần làm nên tên tuổi của Linda de Suza (Le Portugais) và nhất là Herbert Léonard (Pour le plaisir) ... Vào năm 1973, bài hát « Tu te reconnaîtras » do Claude Morgan soạn nhạc và do Vline-Buggy viết lời đã giúp nữ ca sĩ Anne-Marie David, đại diện cho Luxembourg, giành lấy giải nhất cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision. Bài hát này từng được tác giả Nguyễn Duy Biên chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm « Xin tự hiểu mình » do Thanh Lan, Như Mai, Kiều Nga thu âm. Sau gần 50 năm hoạt động trong làng nhạc, Vline-Buggy đã quyết định giải nghệ vào những năm 2000. Sinh thời, bà đã viết lời cho hàng ngàn ca khúc và hầu hết các nghệ sĩ thành danh trong ba thập niên liền từ 1960 đến 1980 đều đã từng hợp tác với Vline-Buggy. Lần cuối bà xuất hiện trước công chúng là vào năm 2018 nhân lễ trao giải thưởng lớn đề cao sự đóng góp của Vline-Buggy cho làng nhạc, tại trụ sở Hiệp hội các tác giả Pháp Sacem. Bà Liliane nhắc lại những kỷ niệm khó quên với người chị ruột, thời hai chị em Vline-Buggy mới vào nghề sáng tác. Kỷ niệm này từng gợi hứng cho bà Liliane sáng tác nhạc phẩm « Les Anges du matin » (Những thiên thần buổi sáng) như một lời nhắn nhủ với người đã khuất : Thiên thần buổi bình minh Xua bóng đêm mờ ảo Cho hồn về bên nhau Giấc mơ nào yên tĩnh   Khi yêu đương nồng thắm Gieo vương vấn vào tim Để suốt đời đi tìm Những mùi hương sâu đậm   Đời còn ở phía trước Đường dài ta vẫn bước Hãy ra đi yên bình Thiên thần ánh bình minh...
Thành danh vào giữa những năm 1970, Hiromi Iwasaki là một trong những thần tượng nhạc pop Nhật Bản vẫn còn được nhiều người yêu mến cho đến tận bây giờ. Cho dù Hiromi không có nhiều ca khúc gốc được chuyển sang lời Việt như nhiều ca sĩ cùng thời, nhưng tên tuổi của cô vẫn ngời sáng nhờ chuỗi tập nhạc "Dear Friends", bao gồm nhiều bản phóng tác từ các bài hát ăn khách tiếng Anh hay tiếng Pháp. Sinh truởng (1958) tại quận Kōtō, thành phố Tokyo, Nhật Bản, Hiromi Iwasaki xuất thân từ một gia đình có nhiều năng khiếu âm nhạc. Cùng với người  em gái là Yoshimi, Hiromi  Iwasaki (còn thường được gọi một cách thân mật là Hirorin) sau này đều trở thành ca sĩ kiêm diễn viên nổi tiếng tại Nhật. Sau khi tốt nghiệp trường trung học phổ thông Horikoshi,  Hiromi Iwasaki vào năm 16 tuổi (1974) tham gia cuộc thi tuyển chọn tài năng mới "Star Tanjō!". Nhờ giọng hát trong trẻo cao vút, Hiromi đã giành lấy giải nhất cuộc thi hát với nhạc phẩm "Anata", bản nhạc gốc là của Akiko Kosaka . Bài này từng được dịch sang tiếng Việt là Căn nhà xinh (Mong ước người yêu). Thành công bước đầu này giúp cô ký hợp đồng ghi âm với hãng đĩa Victor Records. Hiromi đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Oricon ngay từ đĩa đơn thứ hai (Romance). Thành công vang dội của đĩa hát này, với gần một triệu bản bán chạy trong năm 1975, giúp tên tuổi của Hiromi vụt sáng. Vào năm 19 tuổi (1977) Hiromi thực hiện thêm một bước đột phá ngoạn mục, tiếp tục gặt hái thành công với nhạc phẩm "Shishūki" (Hoài cảm ngày thu). Bản tình ca mùa thu da diết, chứa chan hoài niệm này trở nên rất nổi tiếng và đã giành được nhiều giải quan trọng, trong đó có Giải thưởng Thu âm Nhật Bản. Bài hát Shishūki sau đó đã gợi hứng khá nhiều cho ca sĩ kiêm tác giả Naoko Kawai sáng tác giai điệu "Halfmoon Serenade" (Dạ khúc nửa vầng trăng). Tuy có nhiều nét tương đồng, nhiều đoạn gần giống nhau đến 70%, nhưng Hiromi Iwasaki chưa từng lên  tiếng phàn nàn hay khiếu nại về vấn đề bản quyền. Vào đầu những năm 1980, Hiromi đã thực hiện một loạt show ca hát truyền hình, giúp cô củng cố uy tín và hình ảnh thùy mị đoan trang của mình trong chiếc váy dài màu trắng trong mắt công chúng. Đây cũng là giai đoạn Hiromi thể hiện lại nhiều bài hát tiếng Pháp phóng tác sang tiếng Nhật như Les Parapluies de Cherbourg, La Bohème, Ne me quitte pas, Une belle histoire, Un été 42 ..... hay các bài hát nổi tiếng làng nhạc kịch như Giấc mơ đổi đời (J'avais rêvé d'une autre vie) phỏng theo tác phẩm "Những người khốn khổ" của Victor Hugo. Thời gian sau này, kể từ năm 2003 trở đi, Hiromi phát hành chuỗi tập nhạc "Dear Friends" bao gồm 8 album cover, ghi âm lại các bản tình ca kinh điển của Nhật, Ý, Anh hoặc Pháp với lối hoà âm nhẹ nhàng sâu lắng, gần gũi hơn với người yêu nhạc, hướng nhiều về nội tâm. Trong suốt 50 năm  sự nghiệp ca hát, Hiromi đã phát hành khoảng 60 tập nhạc, bao gồm 30 album gốc, 12 album live và 15 album cover. Thời kỳ huy hoàng của giọng ca này là vào những năm 1980, thời Hiromi ngự trị trên thị trường Nhật Bản. Trong số các bản cover xuất sắc của Hiromi từng được chuyển sang lời Việt, ngoài Căn nhà xinh Anata (Akiko Kosaka) còn có "Yuki no Hana" (Hoa tuyết) từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm  "Nỗi nhớ mùa đông" hay "Xin lỗi anh yêu em" dựa theo phiên bản tiếng Hàn của Park Hyo Shin. Nhưng bản cover nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn nhất chính là giai điệu "Sumire-iro no Namida" hiểu theo nghĩa Những giọt lê màu tím. Bản nhạc gốc của Junko Mayo từng được Hiromi Iwasaki ghi âm lại cho một show ca hát truyền hình vào mùa hè năm 1981. Phần đệm đàn piano là của Richard Clayderman và bài hát này từng được tác giả Khúc Lan chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Nhạc tình đêm mưa". Trái tim bỗng nhạt nhòa Khi tình chợt bay xa Bao dòng lệ chan hoà Trên bờ mi hoá đá Giọt nước mắt màu tím Thắm máu đào trong tim Nở rộ thành muôn phím Sầu vang cõi im lìm
Được mệnh danh là Cánh chim họa mi của Nam Mỹ, Graciela Susana là một trong nghệ sĩ nước ngoài hiếm hoi thành công tại Nhật Bản. Nhờ những bản phóng tác sang tiếng Nhật, cô đã giúp phổ biến thể điệu tango và các khúc nhạc dân gian tai xứ Phù Tang. Trong số những giai điệu của cô từng được đặt thêm lời Việt, nổi tiếng nhất vẫn là hai nhạc phẩm "Đi trong mùa thu" và "Vĩnh biệt tình ta". Sinh trưởng tại Buenos Aires trong một gia đình nhạc sĩ, Graciela Susana Ambrosio (1953-2024) từ thời còn nhỏ đã thừa hưởng năng khiếu nghệ thuật của thân phụ (Ricardo Ambrosio), nguyên là ca sĩ và nghệ sĩ dương cầm trong dàn nhạc của Tito Cosentino, nổi tiếng ở thủ đô Argentina. Thời niên thiếu, Graciela thường đi biểu diễn cùng với chị ruột (Cristina Ambrosio) trong ban song ca Las Hermanitas Ambrosio. Ban đầu hát dân ca Nam Mỹ, Graciela sau đó chuyển sang dòng nhạc tango, khi khởi nghiệp solo. Nhờ được đào tạo bài bản với các bậc thầy tango (Ángel Kelo Palacios, Roberto Lara và Alba Vellón), Graciela đoạt giải Tài năng mới nhân kỳ Liên hoan âm nhạc Tango La Falda năm 1970. Vào năm 18 tuổi, Graciela Susana thực hiện bước đột phá ngoạn mục khi lọt vào mắt của nam danh ca người Nhật Yōichi Sugawara. Ông xiêu lòng trước màn trình diễn của Graciela tại một quán nhạc tango (El Viejo Almacén) nổi tiếng ở Buenos Aires. Ông Yōichi sau đó đã mời Graciela đến Tokyo, giúp cô chinh phuc thị trường Nhật Bản, đánh dấu bước khởi đầu cho một sự nghiệp quốc tế, kéo dài trong nhiều thập niên liền. Đặt chân lên xứ hoa anh đào, Graciela ký hợp đồng ghi âm với công ty Toshiba-EMI, thành công ngay từ những album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên, trong đó có tập nhạc "Adoro, La Reine de Saba" phát hành vào năm 1973. Kết hợp tango, dân ca và nhạc folk, abum ăn khách này trụ vững trên bảng xếp hạng Oricon của Nhật Bản trong vòng hơn 3 năm, lập kỷ lục số bán với hơn một triệu bản. Nhạc phẩm chủ đề "Adoro" từng được tác giả Phạm Duy chuyển lời thành giai điệu "Vĩnh biệt tình ta".  Sau một thời gian lập nghiệp tại Tokyo, Graciela Susana tập trung vào việc học thêm tiếng Nhật. Vào năm 1982, cô nhận giải thưởng của đài truyền hình NHK dành cho nghệ sĩ nước ngoài xuất sắc nhất nhờ màn trình diễn "Hitori/goto". Đầu thập niên 1990, nhờ nói thông thạo tiếng Nhật, Graciela Susana đã dẫn chương trình phát thanh trên đài NHK trong vòng 3 năm liền, quảng bá tango và dòng nhạc La Tinh thông qua các cuộc phỏng vấn các nghệ sĩ trứ danh Nam Mỹ như Quilapayún hay Paco de Lucía. Nhờ thu hút đông đảo người hâm mộ trung thành, Graciela Susana thường đi biểu diễn thường xuyên tại nhiều liên hoan khắp Nhật Bản. Cũng từ đó, Graciela chuyên phóng tác các điệu tango kinh điển như "La Cumparsita" hay "Caminito" sang tiếng Nhật. Các album chuyên đề dành cho thị trường Nhật Bản càng củng cố uy tín của Graciela như một nghệ sĩ nước  ngoài hát tiếng Nhật điêu luyện, nhờ vậy mà các album phòng thu của Graciela những năm 1990 đều thành công rực rỡ như Amor (1991), Ai no Uta wo Ima Anata ni (1992), Seijo to Yobarete (1996), hoà quyện phong cách tango, chất trữ tình của dòng nhạc La Tinh với nhạc pop Nhật Bản. Tuy không còn thuần chất tango Argentina, nhưng lối diễn giải này vẫn tràn đầy cảm xúc, giúp các bản tango kinh điển chinh phục được thêm nhiều khán giả châu Á. Sau nhiều năm lập nghiệp ở Nhật Bản, Graciela trở về quê nhà vào năm 2011. Tuy không hẳn giải nghệ, nhưng Graciela dần xa lánh ánh đèn sân khấu vì lý do sức khỏe. Vào cuối năm 2024, nghệ sĩ này đột ngột qua đời do lâm bạo bệnh tại Buenos Aires, ở tuổi 71.  Trong suốt sự nghiệp của mình, Graciela Susana đã thu âm hơn 60 album, nhận được nhiều đĩa vàng cũng như nhiều giải thưởng quan trọng. Chất giọng trầm ấm của Graciela chỉ cần có tiếng đệm của đàn ghi ta, tạo ra được những cảm xúc khó tả, như tiếng hót mượt mà của loài họa mi Argentina.
loading
Comments