Discover
Tạp chí âm nhạc
326 Episodes
Reverse
Với sự nghiệp kéo dài hơn bốn thập niên, Takao Horiuchi là một ca sĩ kiêm tác giả nổi tiếng nhờ những đóng góp cho nhạc pop và dòng nhạc enka (diễn ca) của Nhật Bản. Ông bắt đầu sự nghiệp solo vào giữa những năm 1970 và tính đến nay đã phát hành hơn 40 album đủ loại. Trong số những bài hát ăn khách của ông, có giai diệu "Sake yo" (Rượusầu) từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tình như giấc mộng". Sinh trưởng tại thành phố Osaka, Nhật Bản, Takao Horiuchi lớn lên trong một gia đình khiêm tốn. Bố mẹ ông làm chủ quán ăn Yamaya ở quận Abeno, Osaka. Trong quán ăn gia đình, ông thường được nghe trên đài phát thanh những bản nhạc enka kinh điển và những giai điệu tân nhạc phổ biến. Vào những năm 1960, khi còn là học sinh trung học, niềm đam mê âm nhạc của Takuo Horiuchi ngày càng sâu sắc hơn, ông tự học đàn ghi ta, trau dồi tài nghệ chơi đàn trong các buổi biểu diễn nghiệp dư. Giai đoạn này trùng khớp với sự trỗi dậy của phong trào tân nhạc Nhật Bản, đánh dấu sự kết hợp giữa các truyền thống nhạc dân gian và nhạc pop rock Tây Âu. Khi vào nghề sáng tác, ông lấy cảm hứng từ các nghệ sĩ Mỹ như Bob Dylan hay nhóm tam ca Peter, Paul & Mary. Đầu những năm 1970, Takao Horiuchi cùng với Shinji Tanimura đồng sáng lập ban nhạc rock Nhật Bản tên là Alice. Nhóm này thành công nhanh chóng nhờ kết hợp điệu folk với nhạc pop rock. Những bài hát nói về tuổi trẻ, hoà quyện giai điệu nhè nhẹ với lời ca dễ nghe. Thành công nhanh chóng cũng tạo ra bất đồng trong nhóm. Ban nhạc Alice tan rã sau 4 năm hoạt động, ông Takao Horiuchi khởi nghiệp hát solo qua việc phát hành album đầu tay (Kotoba ni Naranai Okurimono) vào mùa thu năm 1975, đánh dấu một sự chuyển hướng từ phong cách folk rock ban đầu của nhóm sang những bản nhạc trữ tình sâu lắng, hướng nhiều về nội tâm, làm nổi bật chât giọng giàu cảm xúc của ca sĩ trẻ tuổi. Takuo Horiuchi thực hiện bước đột phá vào năm 1977 với album thứ nhì, nhờ vậy củng cố vị thế của ông như một nghệ sĩ hàng đầu. Có thể nói là trong lớp tác giả chuyên kết hợp truyền thống nhạc trữ tình của Nhật Bản còn thường được gọi là "diễn ca" (enka) với ảnh hưởng Tây phương, Takuo Horiuchi là ngòi bút tài tình nhất, và có lẽ cũng vì thế ông được xem như là một trong những cánh chim đầu đàn của phong trào enka-pop, song song với đà phát triển của kayōkyoku (tiền thân của J-Pop). Vào năm 1990, ông đã giành được Giải thưởng bản ghi âm xuất sắc nhất Nhật Bản lần thứ 32 cho bài hát "Koiuta Tsuzuri" làm nổi bật tầm ảnh hưởng cũng như những đóng góp của tác giả này trong việc hiện đại hoá thể loại enka. Hai năm sau, ông hợp tác với nữ ca sĩ Kei Eun-sook (gốc Hàn Quốc) trên đĩa hát song ca "Angels of the City". Nổi tiếng trong làng nhạc phổ thông Nhật Bản nhờ chất giọng biểu cảm và tài nghệ sáng tác trong khá nhiều thể loại. Trong vòng hơn 40 năm sự nghiệp solo, Takao Horiuchi đã ghi âm gần 40 album và khoảng 70 đĩa đơn, nay được tập hợp lại trên bộ toàn tập "45th anniversary : All Single Collection". Trong số các sáng tác của Takuo Horiuchi, có nhiều bản nhạc từng được chuyển sang lời Việt. Nhạc phẩm "Sake yo" theo cách đặt lời của tác giả Phạm Duy là "Tình như giấc mộng" (Ngọc Hương), lời thứ nhì "Quán nửa khuya" là của nhạc sĩ Lê Hựu Hà (Nguyễn Đức & Tú Linh). Lời thứ ba "Anh xa em rồi" là của tác giả Khúc Lan (Lưu Bích). Giai điệu "Tokai no tenshi/tachi" (Angels of the City / Thiên thần đô thị) trở thành "Chớ nói lời biệt ly" của tác giả Huỳnh Nhật Tân qua phần ghi âm của Anh Tú và Ngoc Thúy). Nhạc phẩm "Koiuta tsuzuri" (Tình ca) được tác giả Quang Nhật đặt lời thành khúc ca "Tan vỡ", trong khi nhạc sĩ Phạm Duy phóng tác bài này thành nhạc phẩm "Cho cuộc tình tàn phai" (Don Hồ). Dòng nước mắt chứa vô vàn kỷ niệm Bình rượu sầu nhỏ từng giọt vào tim Như giấc mơ tan theo bọt sóng vỡ Muôn dư âm tìm giấc ngủ im lìm
Trong lãnh vực nhạc phim, tên tuổi của Alan Menken được gắn liền với các bộ phim hoạt hình nổi tiếng như Nàng tiên cá, Pocahontas hay Aladin và cây đèn thần… Nhờ sáng tác cho hãng phim Disney, mà Alan Menken đã nhận được nhiều giải thưởng lớn, bao gồm 8 giải Oscar, 7 Quả cầu vàng và 11 giải Grammy. Một trong những sáng tác hay nhất của ông vẫn là nhạc phẩm "Beauty and the Beast" (Giai nhân và Quái thú), nổi tiếng toàn cầu nhờ bản ghi âm của Céline Dion. Sinh trưởng tại Manhattan, New York (năm 1949) Alan Irwin Menken xuất thân từ một gia đình khá giả, thân phụ là nha sĩ, còn thân mẫu là một vũ công kiêm diễn viên nhạc kịch. Từ thời còn nhỏ, ông đã có nhiều năng khiếu nghệ thuật, bắt đầu sáng tác bằng đàn piano và sau đó là đàn ghi ta. Vào năm chín tuổi, ông đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác dành cho thiếu niên tại bang New York, nhưng khi vào đại học, Alan lại chọn ngành y vì ông nghĩ rằng sau này, ông sẽ trở thành nha sĩ như bố mình. Cho đến khi, ông theo học khoá đào tạo sân khấu nhạc kịch BMI, dưới sự hướng dẫn của thầy Lehman Engel, thì lúc ấy ông chợt hiểu ra rằng, đây mới thực sự là điều ông hằng mong muốn. Sau khi tốt nghiệp, Alan Meken nuôi mộng trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng trong ngành thu âm. Trong giai đoạn khởi nghiệp, ông làm đủ mọi công việc để kiếm sống : đệm đàn piano cho các vở múa ba lê, viết nhạc quảng cáo, luyện thanh cho các diễn viên tham gia các buổi casting hoặc phụ trách phần hoà âm, phối khí trong phòng thu âm. Mãi đến năm 1979, Alan Meken mới thành danh như một nhà soạn nhạc khi ông hợp tác với kịch tác gia Howard Ashman. Hai vở nhạc kịch mà cặp bài trùng này đã viết trong giai đoạn 1979 đến 1982, đã nhận được sự hưởng ứng từ giới phê bình lẫn công chúng. Trên đà thành công này, hai tác giả Alan Menken và Howard Ashman được hãng phim Walt Disney Studios mời biên soạn nhạc cho bộ phim hoạt hình "The Little Mermaid" (Nàng tiên cá) vào năm 1989. Hai bản nhạc chính của bộ phim này là "Under the sea" (Đáy sâu đại dương) và "Part of your world" (Trần gian mộng mơ) đều gặt hái nhiều thành công trong mắt giới phê bình, lập kỷ lục về mặt doanh thu. Bộ phim này đã mang về cho nhóm sáng tác hai giải Oscar đầu tiên năm 1989 : Bài hát xuất sắc và Nhạc phim hay nhất. Cặp bài trùng Alan Menken và Howard Ashman lặp lại thành tích này vài năm sau đó. Các bản nhạc viết cho bộ phim hoạt hình "Giai nhân và Quái thú" (Beauty and the Beast) lại đoạt hai giải Oscar dành cho ca khúc và nhạc phim hay nhất. Bài hát này sau đó được ghi âm với nhiều phiên bản khác nhau : Quan trọng nhất là bản song ca của Céline Dion và Peabo Bryson, rồi sau đó nữa là phiên bản của Ariana Grande với John Legend. Thành công này báo hiệu một kỷ nguyên mới được gọi là thời kỳ "phục hưng" Disney. Theo các nhà phê bình, giai đoạn này đã cho ra đời nhiều bản nhạc phim hay nhất, kể từ thời hoàng kim của hãng phim Disney (1937-1959). Đang trên đỉnh cao danh vọng, Howard Ashman lại đột ngột qua đời vì bạo bệnh vào năm 1991 trong khi nhóm sáng tác đang làm việc trên bộ phim tiếp theo là "Aladdin và cây đèn thần" (1992). Vào thời ấy, Ashman chỉ mới viết xong ba bài hát cho bộ phim, cho nên Alan Menken mới nhờ đến sự hợp tác của tác giả Tim Rice. Tuy đang có kế hoạch làm việc với Elton John cho bộ phim Vua sư tử (The Lion King), nhưng Tim Rice vẫn nhận lời để viết phần còn lại của các bài hát cho bộ phim "Aladin". Bộ phim này cũng đã giành được giải Oscar năm 1993 cho bài hát hay nhất : giai điệu "A whole new world", từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm "Nhìn ra thế gian". Sau ngày ra đi của Howard Ashman, Alan Menken soạn nhạc cho các bộ phim hoạt hình tiếp theo, bằng cách hợp tác với nhiều tác giả khác như trường hợp của Stephen Schwartz cho bộ phim Pocahontas (1995) hay David Zippel cho bộ phim Thần Hercules (1997). Thế hệ trẻ sau này khám phá lại các bản nhạc của Alan Menken qua các phiên bản điện ảnh quay với diễn viên thật. Céline Dion thu âm bài hát "How does a moment last forever" (tạm dịch là Khoảnh khắc thiên thu) cho phiên bản năm 2017, với sự tham gia của Emma Watson. Theo báo The Hollywood Reporter, tuy năm nay đã hơn 75 tuổi, nhưng Alan Menken vẫn chưa giải nghệ. Là một trong những nhạc sĩ sáng giá nhất trong ngành, ông chẳng những có sức sáng tạo sung mãn dồi dào mà còn tiếp tục viết những bài hát hay, có chiều sâu và chất lượng. Có lẽ cũng vì thế, ông trở thành một trong 22 thành viên của "câu lạc bộ" khép kín EGOT, tức là người từng đoạt 4 giải thưởng quan trọng nhất của làng giải trí Hoa Kỳ là Emmy (truyền hình), Grammy (âm nhạc), Oscar (điện ảnh) và Tony (kịch nghệ). Nổi tiếng nhờ soạn những giai điệu tràn đầy cảm xúc, tha thiết sâu lắng, lời hay ý đẹp nhờ khung nhạc với muôn vàn âm sắc, Alan Menken muốn gieo vào hồn người nghe những rung động sâu thẳm, thoáng nghe dịu dàng mà thấm vang réo rắt. Người xem đồng cảm với nhân vật trong phim, có thể nở nụ cười tươi, dù trái tim đang buồn héo hắt, để rồi cảm nhận khoảnh khắc vui sướng tột cùng đến nỗi phải rơi lệ !
Có những bản nhạc ban đầu được viết cho một giọng hát duy nhất, nhưng sau đó lại càng ăn khách khi được ghi âm dưới dạng song ca. Đó là trường hợp của nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em). Ban nhạc này trong tiếng Việt từng được ca sĩ Thu Phương trình bày với Huy MC. Được phát hành vào mùa hè năm 1991, nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em), do hai nhạc sĩ Albert Hammond và John Bettis sáng tác cho thần tượng nhạc pop người Mỹ Diana Ross. Trong thời kỳ huy hoàng sự nghiệp, Diana Ross từng nổi tiếng nhờ những bản song ca kinh điển : trong số này có các nhạc phẩm như "My mistake was to love you" song ca với Marvin Gaye, "All of you" ghi âm với Julio Iglesias và nhất là "Endless Love" hát cùng với Lionel Richie. Riêng nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em) ban đầu được ghi âm như một bài đơn ca, trở thành một bài hát ăn khách trên thị trường quốc tế, trích từ album phòng thu thứ 19 của diva người Mỹ. Giai điệu này sau đó đã được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại thành một bài song ca, chẳng hạn như bản ghi âm của Julio Iglesias với Dolly Parton vào năm 1994, khi Albert Hammond sản xuất các album phòng thu tiếng Anh cho ông hoàng dòng nhạc tình La Tinh (1100 Bel Air Place và Crazy). Để chinh phục thị trường châu Á, Julio sau đó ghi âm thêm một phiên bản thứ nhì vào năm 1998, với ca sĩ người Mỹ gốc Hồng Kông Coco Lee (Ly Van). Bản ghi âm này được phát hành trên đĩa đơn kèm theo video ca nhạc để quảng bá cho tuyển tập "My Life : The Greatest Hits" của Julio Iglesias, chủ yếu nhắm vào thị trường châu Á, trong khi bài song ca với Dolly Parton được dành riêng cho Canada và Hoa Kỳ. Trên thị trường quốc tế, cho dù đây không phải là giai điệu thành công nhất về mặt doanh thu, nhưng trong mắt Diana Ross, "Khi anh nói lời yêu em" vẫn được xem là một trong những bài hát gắn liền với tên tuổi của mình. Vào năm 2005, tức hơn một thập niên sau ngày phát hành bản ghi âm đầu tiên, Diana Ross nhận lời mời song ca với ban nhạc người Ai Len Westlife. Song ca hoặc đơn ca, "Khi anh nói lời yêu em" là một tình khúc nhạc pop trau chuốt bóng bẩy, giai điệu dễ nghe nên rất hợp với các chương trình phát thanh trên băng tầng FM. Bài hát bắt đầu như một bản ballad tinh tế dịu dàng, với tiếng đàn piano sâu lắng cho giọng hát thêm nhẹ nhàng. Khi đến đoạn giữa, bản phối trở nên hoành tráng hơn, hòa quyện bộ đàn dây giao hưởng với đàn ghi ta điện, đánh dấu sự chuyển đổi tông điệu dẫn vào phần điệp khúc đầy kịch tính cao trào, nhiều cảm xúc dạt dào. "Thầm gọi muôn ánh sao trời, cho ngày thêm dài vô tận, dù mai đổi dời thế giới, yêu anh vẫn chi một lời. Ôm nhau thật chặt bóng đêm, bờ vai ướt đẫm thấm mềm, mưa rơi ngàn sao dập tắt, tình che lửa nến êm đềm, chỉ cần nói lời yêu em, hoang tàn phút chốc dịu êm".
Cùng với Christophe và Adamo, Françoise Hardy có lẽ là giọng ca Pháp thành danh vào thập niên 1960, có khá nhiều bài hát được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ. Theo nhà phê bình Éric James, một trong những giai điệu hay nhất của cô chính là nhạc phẩm "Le premier bonheur du jour", từng được ghi âm trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Việt, bài này theo cái tài đặt lời của tác giả Phạm Duy trở thành nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày". Nhưng điều công chúng ít được biết đến là tác giả của bài hát này chính là nhạc sĩ Jean Renard. Trước khi lập kỷ lục số bán nhờ sáng tác "La Maritza" (Dòng sông tuổi nhỏ) cho Sylvie Vartan, "Avant de nous dire adieu" (Trước khi từ giã nhau) cho Jeane Manson, hay "Laisse moi t'aimer" (Yêu trọn đêm này) cho Mike Brant, nhạc sĩ Jean Renard vào nghề sáng tác đầu những năm 1960, nhờ vào sự dìu dắt của nhà sản xuất Rolf Marbot, lúc bấy giờ điều hành nhà xuất bản Méridian. Theo lời kể của chính tác giả, Jean Renard gặp Françoise Hardy qua lời giới thiệu của nhà xuất bản tại văn phòng của ông ở quận 8, Paris. Vào thời ấy, Françoise Hardy sắp đi lưu diễn cùng với nam danh ca Richard Anthony và cô cần thêm vài bài hát bổ sung cho chương trình biểu diễn của mình trên sân khấu. Khi làm việc với nhau, Jean Renard mới đàn cho Françoise Hardy nghe nhiều bản sáng tác mới của ông. Nhưng dường như, không có bài hát nào làm cho cô vừa ý. Đột nhiên, ông sực nhớ lại một giai điệu rất ngắn : bài hát "Le premier bonheur du jour" (Niềm hạnh phúc đầu tiên trong ngày) mà ông từng viết với tác giả Franck Gérald, nguyên là anh rể của Pierre Delanoë, người chuyên viết nhạc cho nam danh ca Joe Dassin. Khi nghe xong bài hát, Françoise Hardy hoàn toàn im lặng, nhìn tác giả mà chẳng nói gi. Jean Renard tưởng rằng cô không thích bài hát, nhưng thực ra cô rất xúc động, không nói nên lời. Nhe nhàng vương vấn, trầm mặc sâu lắng, giai điệu này sau đó được phát hành vào năm 1963, trên album thứ nhì của Françoise Hardy và được gắn liền với tên tuổi của thần tượng nhạc trẻ Pháp những năm 1960. Đối với Jean Renard, thành công của bài hát này cũng thực sự là một dip may, mở đường cho ông sáng tác sau này nhiều bài hát hay, nhất là khi trong giai đoạn khởi nghiệp, vẫn chưa có nhiều ca sĩ trẻ muốn hát những sáng tác của ông vào thời ấy. Được phát hành vào cuối năm 1963, trong cùng một năm với nhạc phẩm "Le temps de l'amour" (Mùa tinh yêu), giai điệu "Le premier bonheur du jour" (Hạnh phúc đầu ngày) trở thành một trong những bài hát quen thuộc với giới hâm mộ cũng như bài "Những nụ tinh xanh" (Tous les garçons et les filles), "Nụ hồng mong manh" (Mon amie la rose) hay là "Ánh sáng mặt trời" (Soleil). Không phải ngẫu nhiên, con trai của Françoise Hardy là Thomas Dutronc gần đây đã ghi âm lại bài này với Clara Luciani. Theo Thomas, nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày" vẫn là một trong những giai điệu yêu chuộng của mẹ anh, lúc sinh tiền. Một trong bản nhạc được cho là hay nhất của Françoise Hardy rốt cuộc lại là sáng tác cô đọng nhất trong bộ sưu tập của tác giả này, chỉ vỏn vẹn có một phút năm mươi giây. Nhưng hạnh phúc nào mà chẳng mong manh, tựa giọt sương mai đầu ngày, ngắn ngủi như cụm mây trời thoáng bay.
Trong số những bản tình ca Nhật Bản từng được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ, nhạc phẩm Fantasy của Akira Fuse thuộc vào hàng nổi tiếng nhất. Trong tiếng Việt, giai điệu này có đến bốn lời khác nhau. Trong đó, quen thuộc nhất với giới yêu nhạc vẫn là Mộng tình Đêm mưa và Biển ru Niềm nhớ. Sinh trưởng ở Tokyo (1947), ca sĩ kiêm diễn viên Akira Fuse trở nên nổi tiếng nhờ những đóng góp quan trọng cho làng giải trí Nhật Bản kể từ giữa những năm 1960. Xuất thân từ một gia đình khiêm tốn nhưng có học thức, Akira Fuse sau đó không chọn ngành luật khoa hay sư phạm như những người anh trai, ông lại chọn con đường nghệ thuật biểu diễn sân khấu. Từ thời còn nhỏ, Akira Fuse đã có nhiều năng khiếu ca hát. Ông nhanh chóng trở thành một trong những giọng ca tiêu biểu của thời kỳ Showa, âm nhạc Nhật Bản phát triển mạnh trong giai đoạn hậu chiến, hòa quyện các yếu tố của thể loại diễn ca (enka), các khúc nhạc dân gian truyền thống với những ảnh hưởng nhạc pop Tây phương. Sự kết hợp này khai sinh dòng nhạc phổ thông kayōkyoku, tiền thân của nhạc pop Nhật Bản sau này (J-Pop 1988). Alira thành danh ngay từ khi mới vào nghề năm 1965 với bản ghi âm đầu tiên "Kimi ni Namida to Hohoemi o". Bài hát này đánh dấu bước khởi đầu của một sự nghiệp dài lâu. Với thời gian, ông được công nhận là một trong những giọng ca Nhật Bản hàng đầu. Thời kỳ huy hoàng của Akira Fuse là vào giữa thập niên 1970 với bản nhạc "Cyclamen no Kaori" (Mùi hoa anh thảo) đứng đầu bảng xếp hạng thị trường Nhật (Oricon) và giúp ông giành được hạng nhất nhân kỳ trao Giải thưởng Thu âm Nhật Bản vào năm1975, củng cố vị trí của Akira Fuse như một nghệ sĩ trứ danh của thời kỳ Showa. Thành công này mở đường cho nhiều bản ghi âm ăn khách khác, trong đó có bài "Meguriai Tsumui de" (1978) từng được tác giả Phạm Duy phóng tác sang lời Việt thành nhạc phẩm "Rượu buồn ta uống cho ta" qua phần ghi âm của nam ca sĩ Nguyên Khang. Trong hơn nửa thế kỷ sự nghiệp, Akira Fuse đã phát hành khoảng 40 album phòng thu và hơn 90 đĩa đơn. Ông có sở trường hát nhiều thể loại, dân ca Nhật Bản, soul, disco, jazz, pop, ballad và nhất là các bản nhạc phim. Song song với nghề ca hát, ông còn có tài diễn xuất, tham gia khoảng 40 bộ phim điện ảnh và truyền hình. Tên tuổi của Akira Fuse còn gắn liền với các bản phóng tác nhạc Pháp sang tiếng Nhật, bao gồm các bản nhạc nổi tiếng của Édith Piaf, Joe Dassin, Claude François hay Véronique Sanson… Về mặt âm nhạc, các album phòng thu của Akira Fuse ngay từ giữa những năm 1970, thường pha trộn ảnh hưởng của các nhịp điệu Tây phương với chất nhạc trữ tình da diết của Nhật Bản, trước khi chuyển sang phong cách nhẹ nhàng sâu lắng, hướng nhiều hơn về nội tâm. Về mặt diễn đạt, các chuyên gia trong ngành ghi âm từng xếp Akira Fuse vào danh sách 10 giọng ca hay nhất Nhật Bản. Nhờ chất giọng nam cao với vibrato trong sáng, mỗi lần rung giọng câu chữ mượt mà âm vang, luyến láy nhẹ nhàng, giàu cảm xúc lãng mạn. Ngoài kỹ thuật hát điêu luyện, Akira Fuse còn được đánh giá cao nhờ tài diễn đạt, ông từng thử sức hát các giai điệu thính phòng, cổ điển. Khi lên sân khấu, Akira thực sự là một showman, với tất cả những yếu tố mà người hâm mộ yêu thích, từ vóc dáng điệu bộ đến cách ăn mặc, nụ cười rạng ngời cùng với chất giọng tuyệt vời. Một trong những bài hát ăn khách của Akira Fuse là nhạc phẩm "Fantasy" (Ảo Tưởng), từng được chọn làm bài hát chủ đề của bộ phim truyền hình "Otosan Welcome Home" của đài TBS vào năm 1984. Trong tiếng Việt, bài này có bốn lời phóng tác khác nhau. Lời đầu tiên là "Biển ru niềm nhớ" của tác giả Nhật Hạ (bản ghi âm của Ngọc Hương, Ái Vân). Lời thứ nhì là "Mộng tình" của tác giả Khúc Lan (do Ngọc Lan trình bày). Lời thứ ba là "Thương nhớ người yêu" của Trịnh Nam Sơn (phiên bản của Lynda Trang Đài). Bài này còn có một phiên bản thứ tư với tựa đề "Người là ai, ở đâu" qua phần ghi âm của Dương Triệu Vũ, gợi hứng từ phiên bản tiếng Quan Thoại là "Đêm mưa lãng mạn", nhiều hơn là bản gốc tiếng Nhật. "Không muốn ngõ lời tạm biệt, dù trong tim ta vẫn biết, mai này chẳng còn gặp nhau, chuyện tình chưa đành hồi kết. Thôi chỉ cần nhắm mắt lại, rồi nhớ biết bao tháng ngày, dịu êm nhịp đập phút giây, tưởng chừng trọn cuộc đời này. Giờ chỉ còn lại cõi mộng, chân mây giấc ngủ bềnh bồng, ảo tưởng vòng tay hơi ấm, dù hồn chết giữa mùa đông…"
Nhắc đến Hélène Rollès, giới yêu nhạc Pháp nghĩ tới ngay gương mặt nổi tiếng vào những năm 1990 nhờ hai loạt phim truyền hình nhiều tập « Premiers baisers » (Những nụ hôn đầu) và «Hélène et les Garçons » (Hélène và những anh bạn học). Thời gian gần đây, cô it còn xuất hiện trên truyền hình Pháp mà chủ yếu đi biểu diễn tại Trung Quốc, nơi giọng ca này vẫn được nhiều người mến mộ. Công chúng không khỏi ngạc nhiên khi khám phá rằng hơn ba thập niên sau khi thành danh tại Pháp, Hélène Rollès tiếp tục gặt hái nhiều thành công ở Hoa Lục, nhờ một lượng fan đông đảo, trung thành với cô ca sĩ người Pháp từ những năm 1990, thời Hélène đóng phim truyền hình và chuyên ghi âm những ca khúc nói về lứa tuổi học trò. Tên tuổi của Hélène Rollès gần đây lại có cơ hội toả sáng nhân dịp Tết Nguyên đán, khi cô được mời biểu diễn cùng với nhiều ngôi sao quốc tế hồi trung tuần tháng Hai tại Bắc Kinh. Trong chương trình nhạc hội Gala mừng Xuân hôm 16/02/2026 của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CMG), ban nhạc Westlife của Ai Len đã trình diễn nhạc phẩm nổi tiếng của nhóm là "My Love". Về phần mình, Hélène Rollès cùng với nam danh ca người Mỹ John Legend trình diễn ca khúc kinh điển "Beauty and the Beast" (Giai nhân và Quái thú), bài hát chủ đề của bộ phim hoạt hình cùng tên. Bản song ca gốc là của Céline Dion với Peabo Bryson. Phiên bản ghi âm thứ nhì là của Ariana Grande với John Legend. Còn phiên bản gần đây nhất được Hélène Rollès song ca trực tiếp với John Legend trên sân khấu trước hàng trăm triệu khán giả truyền hình và sau đó theo trang thông tin PureMedias đoan video này đã thu hút hơn 24 tỷ lượt xem trên các mạng xã hội. Sinh trưởng tại thành phố Le Mans, Hélène Rollès (1966) vào nghề đóng phim truyền hình khá sớm và cô thành công trong thời gian đầu nhờ ghi âm những ca khúc chủ đề cho các bộ phim nhiều tập. Lần đầu tiên, Hélène Rollès đến Trung Quốc biểu diễn là vào mùa xuân năm 1990, cùng với Dorothée rất nổi tiếng ở Pháp với chương trình giải trí dành cho thiếu nhi Câu lạc bộ Dorothée (Club Dorothée). Trong giai đoạn này, Hélène chủ yếu thu âm những bài hát cho các bộ phim hoạt hình, ban đầu được chiếu thứ tư hàng tuần trên kênh hai, rồi sau do hầu như vào môi buổi chiều trên kênh một. Vào cuối năm 1991, khi được chọn vào vai diễn Hélène Girard, trong loạt phim (Premiers Baisers) Những nu hôn dâu/ rồi sau đó là "Hélène và những anh bạn học (Hélène et les Garçons) cô đã nhanh chóng gặt hái được nhiều thành công. Trong giai đoạn cưc thinh từ năm 1992 đến năm 1996, loạt phim này thu hút 6,5 triệu người xem mỗi buổi tối. Trên đà thành công của bộ phim truyền hình, Hélène ghi âm nhiều bài hát ăn khách, trong đó có các bản nhạc phim nhiều tập. Sự nghiệp của cô càng lên đỉnh cao vào mùa thu năm 1993 khi Hélène Rollès cho ra mắt album phòng thu thứ ba của mình với tựa đề "Je m'appelle Hélène", bán được gần một triệu bản trên thị trường Pháp, riêng ca khúc chủ đạo cùng tên lọt vào Top Ten trong vòng nhiều tháng liên tục và cho đến nay vẫn là ca khúc thành công nhất của Hélène. Sau một thập niên thành công vang dội, sự nghiệp của Hélène Rollès bắt đầu có dấu hiệu lu mờ vào đầu những năm 2000. Cô dần dần xa lánh làng giải trí tai Pháp, lập gia đình và nhận hai đứa con nuôi. Cô giữ cho mình một đời sống riêng tư kín đáo, nhưng vẫn duy trì quan hệ với công đồng người hâm mộ qua việc tham gia các show truyền hình hay các đợt lưu diễn ở nước ngoài. Chính cũng vì cô có một lượng người hâm mô đông đảo ở Trung Quốc, cho nên Hélène từng ghi âm lại một số ca khúc tiếng Quan thoại , chủ yếu cho thị trường Hoa Lục, trong đó có nhạc phẩm "The Moon represents My Heart", tựa tiếng Việt là "Ánh trăng lẻ loi". Cũng như nam ca sĩ Christophe Rippert thành danh nhờ phim truyền hình, Hélène Garçons tính đến nay đa cho ra mắt 10 album phòng thu, trong đó, những ca khúc ăn khách nhất là những bản ghi âm vào thập niên 1990 từng được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ. Chẳng hạn như giai diệu "Je m'appelle Hélène" được ca sĩ Kỳ Duyên chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Người tôi yêu", còn bài hát "Amour Secret" hiểu theo nghĩa Tình yêu thầm kín lại được tác giả Khúc Lan đặt thêm lời thành nhạc phẩm "Thoáng dấu yêu". Gió về cho buốt giá, nhạt nhoà mùa thu xa, cho nắng quên chan hoà, tình đến rồi vội qua. Về đâu dấu yêu xưa, cho hồn buồn một thoáng, đời mãi sầu nhẹ đưa, kiếp người hoài gió mưa .....
Lần đầu tiên thoáng nghe nhạc phẩm "Porque Yo te amo" có nghĩa là Vì ta yêu em (tựa đề tiếng Anh là How I love You), giới yêu nhạc Pháp nghĩ đến ngay một bài hát ăn khách của Aznavour. Cả hai giai điệu có nhiều nét gần giống nhau và bài hát tiếng Tây Ban Nha từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tình vẫn thiết tha". Trong nguyên tác, bản nhạc này do Oscar Anderle sáng tác vào năm 1968 cho nam danh ca Sandro (1945-2010). Sinh thời, Sandro là một ca sĩ kiêm diễn viên nổi tiếng ở Achentina. Ông được xem là một trong những nghệ sĩ đầu tiên hát nhạc pop-rock bằng tiếng Tây Ban Nha ở châu Mỹ La Tinh. Tên thật là Roberto Ocampo, Sandro xuất thân từ một gia đình nhập cư gốc Tây Ban Nha. Sinh trưởng ở vùng ngoại ô nghèo phía nam thủ đô Buenos Aires, Sandro từ thời còn nhỏ mê nghe nhạc rock đến từ Hoa Kỳ. Cũng như bao thiếu niên mới lớn vào thời bấy giờ, Sandro rất ngưỡng mộ ông hoàng nhạc rock (người Mỹ) Elvis Presley. Thời còn ở trung học, Sandro hay bắt chước thần tượng của mình khi hát lại các bản nhạc của ông hoàng Elvis. Nhờ vào phong cách biểu diễn bốc lửa ấy, Sandro thành danh vào những năm 1960 với ban nhạc Los de Fuego, nhưng nhóm này thay vì phóng tác các bản nhạc tiếng Anh giống như phong trào nhạc trẻ ở Pháp, lại chủ yếu trình bày các bản nhạc gốc bằng tiếng Tây Ban Nha. Cũng từ đó Sandro được mệnh danh là Elvis của Achentina hay là Sandro de América (Sandro của châu Mỹ). Nhiều năm sau đó, sau khi đã thành danh tại Nam Mỹ, Sandro mới có dịp đi xem ông hoàng Elvis biểu diễn từ hàng ghế đầu trên sân khấu Boston Garden. Sau khi chia tay với ban nhạc rock Los de Fuego, Sandro ký hợp đồng ghi âm solo với hãng đĩa CBS. Qua việc hợp tác với nhà sản xuất kiêm giám đốc nghệ thuật Héctor Techeiro, Sandro đã thực hiện những album phòng thu hay nhất của mình trong đó có bao gồm La Magia de Sandro, Sandro de América, Una Muchacha y Una Guitarra. Quan hệ nghề nghiệp này giúp Sandro thành công trong việc chuyển đổi hình ảnh và chọn đúng con đường nghệ thuật. Điều này được thể hiện trên album thứ tư "Alma y fuego" (linh hồn và ngọn lửa) mà Sandro đã thu âm vào cuối năm 1966, album này đánh dấu một sự chuyển hướng rõ ràng, từ nhạc rock chuyển sang các nhịp điệu La Tinh hơn. Một lần nữa, Sandro đạt được thành công trên thị trường quốc tế, chinh phục các cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha, khi album được phát hành tại Hoa Kỳ. Đó cũng là giai đoạn Sandro đồng hành với nhà soạn nhạc Oscar Anderle. Cặp bài trùng này chuyên sáng tác các bản slow rock và noi gương ông hoàng Elvis, tuy đến từ nhạc rock, nhưng Sandro cũng có tài nâng các giai điệu lãng mạn trữ tình lên một tầm cao mới. Trong số những tình khúc ăn khách của Sandro, có các bản nhạc phim "Quiero llenarme de ti, Puerto sin Amor" và nhất là "Porque yo te amo". Bài này từng thành công trên thị trường quốc tế với phiên bản tiếng Anh "How I love You" qua giọng ca người Anh Engelbert. Trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Khúc Lan chuyển thành nhạc phẩm "Tình vẫn thiết tha" do nam danh ca Tuấn Ngọc trình bày. Trả lời câu hỏi ai đã sáng tác nhạc phẩm "Porque Yo te Amo" có thể nói Aznavour mới chính là người đã soạn giai điệu. Giới yêu nhạc khi nghe lại giai điệu này sẽ cảm nhận có khá nhiều nét gần giống với nhạc của Aznavour. Khi đối chiếu các bài hát, ta sẽ thấy những câu mở đầu phiên khúc giống như bài "Bon anniversaire" (Sinh nhật ngày cưới) năm 1963, trong khi phần điệp khúc lại gần giống với bản "Hier Encore" (Mới hôm qua) năm 1964. Do cả hai bài này đều từng ăn khách trước đó qua giọng ca Aznavour, có thể nói rằng cặp bài trùng Sandro và Oscar Anderle đã gợi hứng khá nhiều từ bậc đàn anh người Pháp gốc Armenia, ghép hai giai điệu của Aznavour thành một bài ca, tiết tấu nồng thắm chan hòa, nhạc tình sâu đậm thiết tha.
Nhắc đến François Feldman, giới yêu nhạc Pháp nghĩ tới ngay những ca khúc của anh được dịch sang tiếng Việt, trong đó có nhạc phẩm « J'aurais voulu te dire » (Lời ta muốn nói), nguyên là ca khúc chủ đề album phòng thu thứ sáu của ca sĩ kiêm tác giả người Pháp. Được phát hành dưới dạng song ca, bản nhạc này ăn khách trên thị trường Pháp vào năm 1997 và từng được đặt thêm lời Việt thành giai điệu « Lời tình cho anh ». Tuy là đồng tác giả bản nhạc gốc, nhưng François Feldman không phải là người đầu tiên ghi âm bài hát này. Giai điệu « Lời tình cho anh » thật ra đã thành công gần một thập niên trước đó, vào năm 1988, qua phần trình bày của cô ca sĩ trẻ tuổi người Pháp Caroline Legrand. Sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris, Caroline Legrand từ thời còn nhỏ, đã nuôi mộng trở thành nghệ sĩ. Cô học múa học đàn từ năm lên 6, rồi vào nghề biểu diễn sân khấu từ năm lên 10. Thời gian đầu, cô tham gia các chương trình thiếu nhi, xuất hiện trong nhiều video clip ca nhạc. Vào nghề ca hát khá sớm, Caroline Legrand có cơ hội ghi âm đĩa đơn đầu tay vào năm 13 tuổi (ca khúc thiếu nhi Cool Raoul, Relax Max) nhưng mãi đến năm 18 tuổi, cô mới gặt hái được thành công đầu tiên trên thị trường đĩa hát vào năm 1988 sau khi gặp nam danh ca François Feldman. Theo lời kể của chính tác giả, hai người gặp nhau nhân một cuộc thi hát tổ chức trong hộp đêm L'Orange Bleue, gần khu phố Champs Élysées, ở Paris. Lúc bấy giờ, François Feldman chỉ là khán giả chứ không phải là giám khảo cuộc thi, nhưng giọng hát của Caroline đã làm cho anh cảm thấy thích thú say mê. Trong đêm hôm ấy, Caroline đi cùng với song thân và chính mẹ cô, khi được giới thiệu với François Feldman, mới nhờ tác giả này soạn nhạc cho cô con gái. Vào thời ấy, François Feldman đang thành công lớn tại Pháp, hai album phòng thu đầu tiên của anh đạt mức đĩa kim cuong, bán được hơn một triệu bản. Do khá bân rộn với việc thực hiện album mới cho nên mãi đến sáu tháng sau, François Feldman mới gọi lại cho Caroline, đề nghị cô ghi âm bản nhạc « J'aurais voulu te dire » (Lời ta muốn nói). Khi được phát hành vào mùa thu năm 1988, bài hát này ăn khách nhanh chóng trên thị trường Pháp, và sau đó thành công tại Canada, khi được ca sĩ vùng Québec (Johanne Blouin) ghi âm một phiên bản thứ nhì. Vào mùa xuân năm 1989, giọng ca của Caroline Legrand lọt vào Top Ten, thành công trong nhiều tuần liên tục trên bảng xếp hạng thi trường Pháp. Nhân kỳ liên hoan ca nhạc Bordeaux, cô đã nhận được giải thưởng dành cho đĩa đơn đầu tay hay nhất. Nhờ vào bước khởi đầu đầy hứa hẹn này, Caroline Legrand sau đó có thêm cơ hội hợp tác với hai tác giả quan trọng là Vincent Marie Bouvot vào năm 1992 (chuyên soạn nhạc cho Elsa hay Julie Pietri) và nhất là vào năm 1996 với Didier Barbelivien, tác giả của hơn hai ngàn bài hát tiếng Pháp, cho dù không có đĩa đơn nào trong những năm 1990, thành công bằng sáng tác của François Feldman. Nhạc phẩm « J'aurais voulu te dire » (Lời ta muốn nói) gần một thập niên sau đó đã được chính tác giả François Feldman ghi âm lại làm ca khúc chủ đạo, cho album phòng thu thứ sáu mang tựa đề « Couleurs d'origine » (Màu sắc nguyên bản). Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được tác giả Khúc Lan chuyển thành nhạc phẩm « Lời tình cho anh » qua phần trình bày của Ngọc Huệ. Cũng trên album phòng thu thứ sáu của François Feldman, bài hát thứ nhì phát hành trên đĩa đơn là nhạc phẩm « Évadée du volcan » (Thoát khỏi núi lửa). Bản nhạc này sau đó cũng có thêm lời Việt là « Tình buồn chinh chiến » lời Việt của tác giả Ngọc Thảo qua phần ghi âm của nam ca sĩ Don Hồ. Riêng đối với nam ca sĩ kiêm tác giả François Feldman, hai bản nhạc này khép lại một thập niên sự nghiệp huy hoàng. Lắng nghe cánh đom đóm tàn đêm, trú mưa giữa bóng tối êm đềm, thầm mong bao giấc mơ sắp đến, ước gì kể câu chuyện dịu êm. Người đi cho lòng hết ham muốn, nhạt phai rồi mật ngọt mùi hương, phía đông vườn địa đàng héo muộn, cho đau thương ngập lối tâm hồn …..
Dòng nhạc cổ điển phương Tây đã khai sinh nhiều trào lưu sáng tác quan trọng đầu thế kỷ XIX. Trong số đó có trường phái « Light Classical Music », tuy gọi là nhạc nhẹ, không nghiêm túc bằng dòng nhạc cổ điển, nhưng cấu trúc vẫn gợi hứng từ các bản giao hưởng hàn lâm. Một trong những giai điệu nổi tiếng của dòng nhạc Light Music là tác phẩm « In a Persian market» (Phiên chợ Ba Tư), từng được chuyển sang lời Việt thành « Dưới ánh nắng mùa xuân ». Trong nguyên tác, giai điệu « In a Persian market» (Phiên chợ Ba Tư) là của nhạc sĩ người Anh Albert William Ketèlbey (1875-1959), trở nên thịnh hành trên thế giới ngay sau khi được sáng tác vào đầu những năm 1920. Nhạc phẩm này được nhà xuất bản Bosworth phát hành lần đầu tiên tại Vương quốc Anh vào năm 1921. Tại Việt Nam trước năm 1975, giai điệu này từng được nhạc sĩ Phạm Duy phóng tác thành nhạc phẩm « Phiên chợ Ba Tư», dựa trên bản tiếng Pháp « Sur un marché persan ». Ngoài ra còn có một bản phóng tác khác, do nhạc sĩ Duy Thoáng soạn lời Việt cho vở nhạc kịch «Ngày xửa ngày xưa : Aladdin và đủ thứ thần» qua phần thể hiện của các nghệ sĩ Thành Lộc (thần nhẫn), Bạch Long (thần đèn) và Đại Nghĩa (thần ve chai) ….. Về mặt nội dung, tác phẩm « Phiên chợ Ba Tư » (In a Persian Market) là một tổ khúc tương đối ngắn so với các bản giao hưởng cổ điển, chỉ vỏn vẹn có 7 phút nhưng lại thể hiện một cách khéo léo khung cảnh đặc sắc của một phiên chợ ở vùng Trung Đông. Có thể nói giai điệu này là một bức tranh minh họa đầy màu sắc, mọi chi tiết được diễn tả bằng âm thanh : từ đoạn nhạc mở đầu mô tả đoàn người lái buôn dẫn bầy lạc đà, bước đi từ xa nhè nhẹ, khi cả đoàn vào trong thành phố, âm thanh bỗng dưng lớn dần ngay giữa phiên chợ ồn ào, huyên náo. Qua việc xen kẽ các nhạc cụ phương Tây với âm thanh phương Đông, khúc nhạc mô tả tài tình tiếng chào hàng mua bán, khúc hát của nhóm người khất thực, kẻ thổi sáo dụ rắn, điệu nhảy của những người tung hứng ….. Âm thanh ở đây có sức mạnh tượng hình, gieo vào tâm trí người nghe nhiều hình ảnh như đang xem phim mà không cần đến nhiều sức tưởng tượng. Độc đáo nhất vẫn là những tiết nhạc đối lập : khúc mở đầu dồn dập sống động trong phiên chợ náo nhiệt, rồi khúc nhạc dần lắng dịu để mô tả một cách nhẹ nhàng cảnh tượng nàng công chúa ngồi trên kiệu vào chợ, vẻ đẹp mặn mà kiêu sa, theo tiếng hạc cầm bay bổng thướt tha ….. Do « Phiên chợ Ba Tư » hòa quyện nhiều tiết nhạc đối lập, cho nên sau đó đã được các tác giả nhạc phổ thông phóng tác thành nhiều bản nhạc pop khác nhau. Đoạn nhạc tả cảnh nàng công chúa ngồi trên kiệu vào chợ từng được tác giả người Pháp Serge Gainsbourg chuyển thể vào năm 1977 thành nhạc phẩm « My Lady Heroin ». Vài năm trước đó, ca sĩ người Mỹ Jacky James từng phóng tác giai điệu này thành nhạc phẩm « Take my heart » (Hãy lấy trọn tim ta). Bài này từng ăn khách trên thị trường quốc tế vào năm 1973. Còn khúc nhạc mô tả phiên chợ huyên náo từng được nhóm nhạc của Jeff Christie chuyển thành ca khúc « Yellow River », cách hòa âm khiến cho nhiều người tưởng lầm đây là một khúc nhạc đồng quê của Mỹ. Nam danh ca Joe Dassin gốc Mỹ hát tiếng Pháp khi được nghe bài này mới có ý dinh chuyển sang tiếng Pháp thành nhạc phẩm « L'Amérique », nói về khát vọng đổi đời. Bản nhạc trong tiếng Anh sau đó còn có thêm nhiều bản phóng tác khác trong 12 ngôn ngữ. Còn trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Quang Nhật đặt thêm lời thành nhạc phẩm « Dưới ánh nắng mùa xuân » (còn có nơi ghi chép là Dưới ánh nắng hồng) qua phần thể hiện của ca sĩ Ngọc Huệ, lời tiếng Việt không có liên quan gì với nội dung của khúc nhạc nguyên tác. Giai điệu « Phiên chợ Ba Tư » tràn đầy những hình ảnh sinh động, âm thanh lung linh sắc màu, nên dễ thu hút giới yêu nhạc ngay từ những giây phút đầu. Nét quyến rũ kỳ lạ ấy, như thể có ma lực, không phải bản giao hưởng cổ điển nào cũng có, « Phiên chợ Ba Tư » cho dù không cần lời nhưng vẫn có sức cuốn hút tuyệt vời, nên tiếp tục làm say đắm, con tim của nhiều người yêu nhạc ở mọi thời.
Valentine's Day Golden Hits là tựa đề danh sách các tình khúc chọn lọc phát hành trên nền tảng Deezer nhân mùa lễ tình yêu. Những bản nhạc một thời vang bóng nay được phổ biến lại trên mạng như L.o.v.e (Tình viết từng chữ) của Nat King Cole, You're my everything (Em là tất cả) của Santa Esmeralda, The end of the world (Ngày thế giới không còn) dưới dạng liên khúc hay là Crazy (Tình si) của Willie Nelson. Về giai thoại "Crazy", bản nhạc này ăn khách lần đầu tiên vào năm 1961 qua giọng ca của Patsy Cline, rồi sau đó ra đời hàng trăm bản ghi âm khác, nhưng tác giả bài hát này chính là Willie Nelson. Vào thời bấy giờ, ông là một ca sĩ nhạc đồng quê (country) chưa nổi tiếng. Thời buổi khó khăn, ông làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Trả lời phỏng vấn trong chương trình Storytellers trên kênh VH1, ca sĩ kiêm tác giả Willie Nelson tiết lộ rằng ban đầu ông đã tìm cách bán bản nhạc này cùng với một số sáng tác khác của mình cho nam ca sĩ Larry Butler, với giá 10 đô la cho mỗi bài hát. Nhưng rốt cuộc, Larry Butler đã từ chối. Do vậy, bản nhạc này mới được gửi cho Patsy Cline. Mặc dù ban đầu Patsy không thích bản nhạc "Crazy", nhưng may mắn thay, chồng của cô là Charlie Dick và nhà sản xuất Owen Bradley đều cảm nhận được tiềm năng thương mại của bài hát này, cho nên họ đã thuyết phục cô thu âm bản nhạc. Nhờ chất giọng mượt trầm nồng ấm contralto của Patsy Cline, giai điệu này trở thành một bản hit lớn vào năm 1961. Đang trên đỉnh thành công, Patsy Cline lại đột ngột qua đời do tai nạn máy bay hai năm sau đó (1963) ở tuổi 30, khép lại một sự nghiệp huy hoàng dù ngắn ngủi, tính từ năm 1957 với thành công của bản nhạc "Walking after midnight". Giai điệu "Crazy" là bài hát nổi tiếng nhất của Patsy Cline, đồng thời tạo bước đột phá quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Willie Nelson. Ông thành danh trong làng nhạc country Hoa Kỳ từ giữa thập niên 1960 trở đi. Tuy sự nghiệp không được dài, Patsy Cline đã mở đường cho nhiều giọng ca nữ trong lãnh vực nhạc đồng quê. Do vậy, mười năm sau ngày qua đời, cô là nữ nghệ sĩ đầu tiên được tôn vinh vào năm 1973 tại Đại sảnh Danh Vọng nhạc Đồng quê (Country Music Hall of Fame). Vào năm 2002, Patsy Cline cũng về đầu danh sách 40 giọng ca nữ xuất sắc nhất trong làng nhạc đồng quê (The 40 Greatest Women of Country Music). Trên thị trường quốc tế, đã có khá nhiều nghệ sĩ nổi tiếng từng ghi âm lại ca khúc này, theo phong cách jazz có Norah Jones và Diana Krall (2003), theo lối hoà âm nhạc pop có BJ Thomas hay Julio Iglesias (1994), còn thuần chất country thì có phiên bản của LeAnn Rimes từng ăn khách trên thị trường Anh-Mỹ. Về phần Willie Nelson, ông đã từng song ca bài này với nhiều nghệ sĩ trứ danh như Johnny Cash vào năm 1998, Paul Anka năm 2013 và gần đây hơn là với Michael Buble vào năm 2022. Trong vòng hơn nửa thế kỷ qua, nhạc phẩm "Crazy" đã có hơn 500 phiên bản khác nhau, ghi âm trong 9 ngôn ngữ. Riêng trong tiếng Việt, bài này có ba lời khác nhau. Lời thứ nhất là nhạc phẩm "Si tình" của tác giả Khúc Lan qua giọng ca Sĩ Phú. Lời thứ nhì là nhạc phẩm "Lệ tình" để tên tác giả Lan Anh qua phần ghi âm của nghệ sĩ Thiên Phú. Lời thứ ba là nhạc phẩm "Tình Si" của tác giả Nguyễn Hoàng Đô qua phần trình bày của hai ca sĩ Vĩnh Yên và Phát Đạt. Theo chính lời kể của Willie Nelson, tựa đề ban đầu của bài hát là "Stupid", nhưng sau đó ông lại đổi tựa thành "Crazy", nhẹ nhàng hơn trong cách phát âm nhả chữ, nhưng lời hát vẫn có cùng một ý tứ : Cho dù đã hết tuổi ngây thơ, khi yêu, ai lại chẳng mù quáng đến ngốc nghếch, dại khờ.
Hiếm khi nào, một bài hát tiếng Ý đoạt cùng lúc hai giải thưởng lớn tại châu Âu, để rồi trở thành một trong những ca khúc ăn khách nhất thị trường quốc tế. Đó là trường hợp của nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) hiểu theo nghĩa chưa đến tuổi yêu người, từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Trọn đời bên anh ». Do hai nhạc sĩ Nicola Salerno và Mario Panzeri đồng sáng tác, nhạc phẩm « Non ho l'età (per amarti) » từng được đưa đi tranh giải tại liên hoan ca khúc tiếng Ý, tổ chức tại thành phố Sanremo vào năm 1964. Vào thời bấy giờ, bài hát được cô ca sĩ Gigliola Cinquetti, khi đó mới 16 tuổi, trình diễn trực tiếp trên sân khấu đài truyền hình Ý (RAI). Còn phiên bản tiếng Pháp "Je suis à toi" (Em thuộc về anh) do ca sĩ người Ý gốc Bỉ Patricia Carli viết lời và ghi âm. Theo thông lệ, người đoạt giải nhất liên hoan ca khúc tiếng Ý San Remo (còn được gọi là Festival della Canzone Italiana ra đời vào năm 1951) thường được quyền ưu tiên đại diện chonước Ý nhân cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision Song Contest diễn ra vài tháng sau đó. Bất ngờ thay, bài hát tiếngÝ « Non ho l'età » giành lấy thêm giải đầu cuộc thi hát châu Âu cùng năm (1964) ở Copenhagen, thủ đô Đan Mạch. Ca sĩ người Ý Gigliola Cinquetti trở thành người thắng giải trẻ tuổi nhất trong lịch sử cuộc thi, mở đường cho nhiều giọng ca trẻ khác như France Gall đoạt giải Eurovision một năm sau (1965) với nhạc phẩm « Poupée de cire, poupée de son » (Búp bê không tình yêu). Mãi đến năm 1986, kỷ lục này mới được cô ca sĩ người Bỉ Sandra Kim phá vỡ do cô đoạt giải Eurovision với nhạc phẩm "J'aime la vie" ở tuổi13. Gần đây hơn, chi có nhóm nhạc rock người Ý Maneskin mới lặp lại thành tích này vào năm 2021, khi giành lấy cùng lúc giải nhất tại liên hoan San Remo và tại cuộc thi hát Eurovision. Nhờ hai giải thưởng này, nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) sau đó đã đứng đầu bảng xếp hạng ở nhiều nước châu Âu. Bài hát được chuyển lời sang 10 ngôn ngữ khác nhau. Phiên bản tiếng Anh là « This is my prayer ». Bài này sau đó được ông hoàng Elvis ghi âm với một tựa đề khác là « Please don't stop loving me ». Riêng trong tiếng Pháp, Patricia Carli (đồng tác giả sau này của bài Mưa trên biển vắng) ghi âm bản nhạc này trong tiếng Pháp với tựa đề « Je suis à toi » (Em thuộc về Anh). Có lẽ cũng vì Patricia là người gốc Ý cho nên trong sự nghiệp ca hát, cô thường hay chọn phóng tác những lời ca gần gũi nhất với mình. Còn trong tiếng Việt, bản nhạc từng được nữ ca sĩ Julie đặt thêm lời thành giai điệu « Trọn đời bên anh » chủ yếu dựa vào phiên bản tiếng Pháp hơn là nguyên tác tiếngÝ. Dù gì đi nữa, hiếm khi nào một giai điệu tiếng Ý lại thành công rực rỡ như vậy, trong nửa thế kỷ gần đây, số bài hát đoạt cả hai giải thưởng này, có thể được đếm trên đầu ngón tay.
Tên tuổi của Chris de Burgh gắn liền với bản nhạc nổi tiếng « The Lady in Red », phát hành lần đầu tiên cách đây bốn thập niên (1986). Ngay cả những nhà phê bình không thích các bản nhạc slow rock cũng phải công nhận rằng Chris de Burgh đã sáng tác một giai điệu sau bao năm vẫn chưa lỗi thời, cho dù các trào lưu âm nhạc không ngừng thay đổi. Vào thời điểm Chris de Burgh cho ra mắt nhạc phẩm « The Lady in Red »(Giai nhân áo đỏ), tác giả này đã có hơn 10 năm tay nghề. Sinh ra ở Achentina nhưng lớn lên ở Ai Len, Chris de Burgh không nối nghiệp thân phụ là một viên chức ngoại giao, mà lại chọn nghề thu âm sáng tác. Ông đã phát hành album đầu tiên của mình vào năm 1974, đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng thị trường Ai Len với đĩa đơn « A Spaceman came travelling » vào năm 1975. Tưởng chừng như thành công sự nghiệp sẽ đến sớm hơn, nhưng rốt cuộc những album phòng thu tiếp theo lại không tạo ra được nhiều dấu ấn. Tuy nhiên, Chris vẫn giữ được hợp đồng thu âm và bắt đầu gây được tiếng vang vào năm 1982, lọt vào bản xếp hạng Top 40, trên thị trường Hoa Kỳ với đĩa đơn « Don't pay the ferryman ». Mãi đến năm 1986, khi Chris de Burgh phát hành album phòng thu thứ tám « The Lady in Red », ông mới bất ngờ lập kỷ lục số bán, một sự thành công mà dường như không gì có thể ngăn cản nổi, bài hát giành lấy hạng đầu tại 25 quốc gia, kể cả thị trường Anh và Ai Len, đồng thời vươn lên hạng ba tại Hoa Kỳ. Bản thân Chris de Burgh cũng không ngờ rằng bài hát lại thành công vang dội đến như vậy. Trong nhiều cuộc phỏng vấn sau này, Chris de Burgh cho biết « Giai nhân áo đỏ » không phải là bài hát hay nhất trên album « Into the Light » cho nên suýt nữa không được chọn làm đĩa đơn để quảng bá cho album này. Theo lời kể của chính tác giả, bài hát này đã được ấp ủ trong một thời gian dài. Ông bắt đầu sáng tác giai điệu như một cách để làm lành với vợ mình sau vài lần cãi vã. Do vậy, trong bài hát mới có câu « I'll never forget the way you look tonight » Anh sẽ không bao giờ quên, dáng em bừng sáng trong đêm. Ban đầu, bản nhạc này đáng lẽ ra được đặt tựa là « The way you look tonight », nhưng trước đó đã có một bài hát nổi tiếng cùng tên, từng đoạt giải Oscar dành cho nhạc phim do FredAstaire thu âm vào năm1936, rồi đến phiên Frank Sinatra ghi âm một phiên bản khác năm 1964 với dàn nhạc của Nelson Riddle. Trong bộ phim truyền hình Anh « This is your life », Chris de Burgh nói rằng bài hát gợi hứng từ lần đầu tiên anh thấy vợ anh là Diane trong một bộ áo đầy nét quyến rũ màu đỏ, nhưng theo Chris bài hát không chỉ nói về môt kỷ niệm cá nhân thuở ban đầu, mà còn là gìn giữ và trân qúy tình cảm của người bạn đời. Giai nhân áo đỏ « The Lady In Red » là một bản hit đình đám trên toàn cầu, được khai thác nhiều qua phim ảnh, nên trở thành một phần không thể thiếu trong dòng văn hóa phổ thông. Tuy nhiên, bài hát cũng đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều. Theo khảo sát của tờ báo The Observer, « The Lady in Red » từng lọt vào danh sách 10 bài hát phản cảm, nếu không nói là dễ ghét nhất những năm 1980, chủ yếu cũng vì trong mắt các nhà phê bình nhạc rock : « The Lady in Red » có những lời lẽ hơi sến, thậm chí ủy mị. Ngoài đời thực, hôn nhân giữa Chris và Diane đã gặp nhiều sóng gió vào giữa những năm 1990 khi tác giả tiết lộ rằng ông đã từng có quan hệ ngoại tình. Nhưng có lẽ vì không muốn làm khổ gia đình, cho nên Chris và Diane vẫn quyết định ở lại bên nhau. Cho dù nhiều nhà phê bình nghĩ rằng bài hát này thật ủy mị, nhưng thực ra nội dung bản nhạc nói về tâm trạng của một người đàn ông khi nhận ra rằng mình nên quan tâm nhiều hơn đến người bạn đời. Có lẽ cũng vì thế « Giai nhân áo đỏ » được phát thường xuyên trong các lễ cưới và nhiều cặp tình nhân xem « The Lady in Red » trước sau gì vẫn là : khúc nhân duyên muôn đời, giai điệu của lứa đôi
Trong nhiều thập niên liền, bài hát "Anata" của Akiko Kosaka đã được phổ biến rộng rãi trong các chương trình truyền hình, cũng như tại các quán karaoke ở Nhật Bản. Những người thích hát bài này thường có giọng ca ngọt ngào, trong sáng. Sinh trưởng tại thành phố Nishinomiya, tỉnh Hyogo, Akiko Kosaka xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ. Thân phụ cô là nhạc trưởng Tsutomu Kosaka, chuyên sáng tác và điều khiển dàn nhạc hòa tấu ở vùng Kansai. Từ thuở thiếu thời, Akiko học đàn piano với bố, rồi sau đó tốt nghiệp Nhạc viện thành phố Osaka. Vào năm 1973, khi mới 16 tuổi, Akiko đã tham gia Liên hoan âm nhạc Yamaha với một bài hát do chính cô soạn nhạc và viết lời. Mang tựa đề "Anata", bài hát kể lại câu chuyện buồn của một cô gái trẻ sắp thành hôn, nhưng không may người yêu đột ngột qua đời. Một mình, cô gái hình dung trong tâm trí về hạnh phúc cuộc sống lứa đôi, giấc mộng xây tổ ấm tan vỡ khi mọi chuyện đã hết rồi, không còn ngày hôn phối. Trong bản nhạc, Akiko hát câu cuối cùng một cách xúc động, bồi hồi : "Anata ga ite hoshii" (ước gì người còn ở bên ta). Lối diễn đạt trầm buồn, sâu lắng ấy đã chinh phục hàng triệu con tim người hâm mộ khi bản ghi âm ra đời. Tuy chưa đến tuổi trưởng thành, nhưng Akiko đã giành được Giải thưởng Lớn của liên hoan âm nhạc Yamaha. Khi được phát hành cuối năm 1973 dưới dạng đĩa đơn, bài hát này đã đứng đầu bảng xếp hạng trong 7 tuần liên tục và bán được hơn hai triệu bản, chỉ trong vài tháng. Nhờ giải thưởng này, lần đầu tiên, hai cha con Akiko cùng nhau biểu diễn trong show truyền hình của đài NHK (Kohaku Uta Gassen). Trong sự kiện này, Akiko hát live trên sân khấu, còn thân phụ Tsutomu Kosaka là nhạc trưởng điều khiển dàn nhạc giao hưởng. Thành danh kể từ năm 1974, Akiko trong vòng một thập niên sau đó đã phát hành 6 album và 12 đĩa đơn, trong đó có nhiều bản nhạc ăn khách như June Bride, Happy Now hay là Again với nhóm Full Moon. Sau khi lập gia đình và sinh con, cô ít còn xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu, mở lớp đào tạo thanh nhạc, chuyển sang sáng tác nhạc cho ngành giải trí kể cả nhạc cho trò chơi điện tử, các show truyền hình hay các bộ phim hoạt hoạ. Trong vòng hai thập niên sau đó, tính từ năm 1993 trở đi, Akiko là nhà soạn nhạc nền cho nhiều bộ phim hoạt hình nhiều tập nổi tiếng như "Sally, phù thủy tí hon" cũng như ca khúc chủ đề cho "Sailor Moon, thủy thủ mặt trăng", thành công của loạt phim này cho ra đời một phiên bản nhạc kịch trên sân khấu. Riêng nhạc phẩm Anata, hơn ba thập niên sau ngày thành công tại liên hoan Yamaha, giai điệu này ăn khách một lần nữa khi được tái bản năm 2006 trên album phòng thu "Pianish". Ca khúc "Anata, I wish You were here" giành lấy hạng nhất trong hạng mục New Age trên thị trường Hà Lan và hạng 5 trên bản xếp hạng thị trường nhạc trực tuyến châu Âu. Giai điệu Anata từng được nhiều nghệ sĩ Nhật Bản ghi âm lại. Trong số các bản cover nổi tiếng có Saori Minami, Ayumi Ishida, Seiko Matsuda hay Hiromi Iwasaki và được khai thác nhiều lần trong phim quảng cáo ... Tại châu Á, bài hát này cũng thành công qua bản ghi âm của diva Đài Loan Đặng Lệ Quân. Bài hát cũng từng được tác giả Phạm Duy đặt thêm lời Việt thành nhạc phẩm "Căn nhà xinh", qua phần ghi âm của các danh ca Thanh Lan, Ngọc Lan hay Khánh Hà. Xây một căn gác nhỏ, không cần gì trong đó, khi lửa chưa tàn tro, bên cửa sổ ấm nồng, chùm hoa hồng tươi thắm, trong góc vườn hoa đỏ .... Chú chó con nho nhỏ, chơi đùa ở ngoài sân, bỏ mình ta trong mộng, thơ thân duới gốc cây, ước gì người còn đấy, trăng khuyết mong tròn đầy.
Có những giai điệu nghe rất quen thuộc, nhưng ta không còn nhớ tác giả là ai ? Nhạc phẩm "More" nằm trong số này, bài hát đã được hàng trăm nghệ sĩ ghi âm lại, qua nhiều phiên bản phóng tác trong hơn mười ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, bản nhạc này từng được đặt lời thành nhạc phẩm "Cuộc tình thoáng bay". Trong nguyên tác, giai điệu này được hai nhạc sĩ người Ý Riziero Ortolani và Nino Oliviero sáng tác cho bộ phim "Mondo Cane", phát hành vào năm 1962. Do là nhạc phim, cho nên ban đầu, khúc nhạc này là một bản hoà tấu không lời. Trên album nhạc phim, đây là giai điệu bài ghi âm số 9, có tựa đề "Modelle in Blu" (Người mẫu áo xanh). Khi bộ phim được cho ra mắt khán giả, giai điệu này mới được tác giả Marcello Ciorciolini bổ sung thêm lời tiếng Ý với tựa đề "Ti guarderò nel cuore" có nghĩa là nhìn vào trong tim. Nhà soạn nhạc Riziero Ortolani lúc bấy giờ mới nhờ vợ ông là nữ ca sĩ Katyna Ranieri ghi âm lần đầu tiên bài này trong tiếng Ý, phát hành trên đĩa đơn vào tháng 05/1962 và sau đó được tái bản vào năm 1965 trên đĩa nhạc "Donna di fiori / Ti guarderò nel cuore". Mãi đến một năm sau vào tháng 04/1963, giai điệu "Ti guarderò nel cuore" mới được phát hành trên thị trường quốc tế với phiên bản tiếng Anh "More" do Norman Newell viết lời. Steve Lawrence là người đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Anh, và vài tháng sau đến phiên Vic Dana và Al Martino. Nhờ được nhiều nghệ sĩ thu âm lại, nhạc phẩm More ngày càng trở nên quen thuộc với công chúng, để rồi sau đó thực sự trở thành một bài hát kinh điển. Vào năm 1964, nhạc phẩm "More" đoạt giải Grammy dành cho bài hát hay nhất trong năm và sau đó được đề cử giải Oscar trong hạng mục ca khúc nhạc phim hay nhất. Trong buôi lễ trao giải Oscar cùng năm, bài hát này đã được nghệ sĩ gốc Katyna Ranieri, vợ của nhà soạn nhạc Ortolani trình bày. Cho đến bây giờ, Katyna Ranieri vẫn là ca sĩ người Ý duy nhất được mời biểu diễn trực tiếp trên sân khấu Oscar. Với thời gian, "More" đã trở thành một trong những bản nhạc phim được đánh giá cao, có tầm ảnh hưởng lớn nhờ khúc nhạc hoà tấu này được sử dung nhiều lần trong phim ảnh và quảng cáo. Trong số các phiên bản ghi âm nổi tiếng với các giọng ca tên tuổi, có phiên bản swing của Frank Sinatra với phần nhạc đệm của Count Basie và do Quincy Jones hoà âm trên album "It might as well be swing" (1964). Phiên bản cool jazz được Nat King Cole trên album "Love" (1965). Andy Williams cũng đã phát hành phiên bản của mình trên album chuyên đề bao gồm các bản nhạc phim từng đoạt giải Oscar ..... Nhiều nghệ sĩ khác cũng thành công không kém khi thu lại bản nhạc này như Tom Jones, Doris Day hay Connie Francis ..... Line Renaud hát bài này trong tiếng Pháp, Caterina Valente trình bày phiên bản song ngữ Anh-Ý, Simone de Oliveira ghi âm bằng tiếng Bồ Đào Nha ...... Riêng trong tiếng Việt, nhạc phẩm "More/ Ti guarderò nel cuore" được tác giả Kỳ Phát chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Cuộc tình thoáng bay" và từng được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại, trong đó có bản ghi âm của Vy Vân trước năm 1975, rồi sau đó có Kiều Nga, Ngọc Huệ, Thúy Vi; Lâm Thúy Vân ..... Bản phóng tác lời Việt khác han với bản nguyên tác tiếng Ý : Tim này, khi nhìn tận đáy, lắng nghe nhịp đập từng giây, thế nào rồi cũng sẽ thấy, tên người được vẽ bằng mây. Trong tim, mối tình đang viết, chợt đến như chuyện thần tiên, ẩn hiện màu tranh sóng biển, yêu từ lúc nào không biết. Hãy nhìn tận đáy tim sâu, rồi người bỗng dưng hiểu thấu, chẳng cần niệm câu thần chú, tình đến như có phép màu. Gió bay lời nói nhạt phai, chỉ còn dư âm đọng lại, muôn nốt nhạc còn rơi mãi, trong tim quyến rũ ngân dài ....
Ra đời cách đây70 năm, Eurovision là cuộc thi hát truyền hình rất nổi tiếng tại châu Âu. Kể từ năm 2003, giải này còn tổ chức một phiên bản dành cho thiếu nhi gọi là Eurovision Junior. Hồi trung tuần tháng 12 vừa qua, cô ca sĩ trẻ tuổi Lou Deleuze đã đem giải thưởng này về cho nước Pháp với nhạc phẩm "Ce Monde" (Thế giới này). Được tổ chức hôm 13/12 vừa qua tại thủ đô Gruzia, Lou Deleuze đã giành lấy hạng đầu trong số 18 thí sinh đến từ khắp châu Âu. Đây là lần thứ tư nước Pháp đoạt giải nhất kể từ khi cuộc thi hát truyền hình này thành lập vào năm 2003 một phiên bản dành cho các giọng ca trẻ từ 9 đến 14 tuổi. Năm nay 11 tuổi, Lou Deleuze sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris. Từ thời còn nhỏ, Lou đã có nhiều năng khiếu bẩm sinh. Thật vậy, Lou Deleuze lớn lên trong một môi trườnng nghệ thuật, thân phụ cô là một thợ chuyên làm đàn. Ông từng chế tạo một chiếc đàn piano cho con gái và Lou được gia đình cho học nhạc từ năm 7 tuổi. Cách đây 3 năm, Lou thu hút sự chú ý trên mạng khi phát hành bản cover nhạc phẩm "Papaoutai" của danh ca người Bỉ Stromae. Giải Eurovision Junior không phải là cuộc thi hát truyền hình đầu tiên mà Lou Deleuze tham gia. Vào năm 2024, Lou từng lọt vào vòng bán kết chương trình tuyển lựa các tài năng mới của nước Pháp (France's Got Talent). Vào lúc bấy giờ, Lou đã chinh phục ban giám khảo, trong đó có nữ danh ca Hélène Ségara, khi trình bày lại nhạc phẩm "Rêver" của Mylène Farmer. Tuy không đoạt giải nhất, nhưng cuộc thi này đã giúp cho cô bé Lou cảm thấy tự tin hơn, tự nhủ rằng thời cơ của mình có ngày sẽ đến. Mặc dù còn nhỏ tuổi, nhưng Lou Deleuze ngoài tài nghệ ca hát, còn có thêm nhiều kinh nghiệm phim trường. Cũng như thần tượng Elsa của những năm 1980, cô bé đã tham gia nhiều bộ phim truyện điện ảnh và truyền hình. Trong cuộc thi hát Eurovision Junior vừa qua, Lou Deleuze đã trình bày nhạc phẩm "Ce monde" (Thế giới này) do ca sĩ Pauline Thisse voi nghệ danh là Linh sáng tác. Dưới ánh đèn sân khấu Lou xuất hiện với chiếc mũ béret nho nhỏ và chiếc váy xếp xinh xắn cùng tông màu đỏ, lối diễn đạt của cô bé mang đậm dấu ấn của trường phái hiện thực lãng mạn trong dòng nhạc Pháp, giọng hát mạnh mẽ với những đoạn cảm hứng cao trào, theo phong cách của Édith Piaf và gần đây hơn nữa là Barbara Pravi. Giới yêu nhạc có thể nhận thấy nhiều nét gần giống với nhạc phẩm "Voilà" của Barbara Pravi, trong cách dùng nhịp valse trong điệp khúc cũng như lối sáng tác ở cung La thứ, có khả năng diễn tả "nỗi buồn" sâu sắc tha thiết hơn bất cứ cung thứ nào khác. Trái với những nhịp điệu nhạc pop trẻ trung vui nhộn, thường phản ánh thế giới tuổi thơ, Lou Deleuze qua nhạc phẩm "Ce monde" muốn gửi một thông điệp tràn đầy yêu thương. Một dạo khúc đầy cảm xúc tựa như một lời nhắn nhủ gửi đến tuổi trẻ thời nay, nói lên khao khát đóng góp phần mình dù thật nhỏ nhoi cách mấy, để có thể hy vọng một ngày, nhìn thấy thế giới này thực sự đổi thay. Phải chăng vì nỗi bất hạnh Thế giới này bỗng lạnh căm Con tim nhen nhúm âm thầm Trời xanh ấm lại hy vọng Hãy cho ta một ngày mai Dù đời chẳng còn tương lai Trong tay nụ hồng muôn sắc Ngàn hương thơm ngát hoa nhài Cứ cho ta tình hoang dại Dù tình yêu đã nhạt phai Lửa nào ta sẽ thắp lại Cho dù ướt đẫm sương mai Chân trời u ám tương lai Không thuộc về bất cứ ai Thế giới là của chúng ta Hãy nhớ làm cho tươi mãi
Sau Fabienne Thibeault và Céline Dion, Natasha St-Pier là làn sóng thứ ba đến từ vùng Québec chinh phục thị trường quốc tế. Riêng tại Pháp, Céline Dion lập kỷ lục số bán khi hợp tác với tác giả Jean-Jacques Goldman, trong khi Natasha thành danh vào đầu những năm 2000 nhờ làm việc chung với người em trai là nhạc sĩ Robert Goldman. Năm nay đánh dấu đúng 30 năm sự nghiệp ca hát của cô ca sĩ vùng Québec, vì Natasha phát hành album phòng thu đầu tiên vào năm 1996, lúc cô mới 15 tuổi. Nhân dịp này, Natasha thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh nước Pháp và phát hành album phòng thu thứ 15 mang tựa đề "Ma plus belle histoire d'amour" (Chuyện tình đẹp nhất đời tôi). Giới yêu nhạc Pháp hiểu ngay đây là bản nhạc nổi tiếng mà Barbara từng viết tặng cho người hâm mộ, vì câu chuyện tình đẹp nhất trong cuộc đời nghệ sĩ, trước sau vẫn là lòng thương yêu của công chúng. Không phải ngẫu nhiên mà Natasha chọn bài hát của Barbara để đặt tựa cho album gần đây nhất của mình. Album này gồm những bản nhạc tiếng Pháp kinh điển, một hành trình âm nhạc xuyên qua nửa thế kỷ để ngỏ lời tri ân những tác giả và nghệ sĩ mà cô hằng yêu mến : ngoài Barbara, còn có Piaf và các nhà soạn nhạc Michel Berger, Alain Souchon, Nino Ferrer hay Christophe. Những giai điệu quen thuộc ấy, Natasha từng được nghe trong gia đình từ thời còn nhỏ. Theo cô, tiếng Pháp có một nền âm nhạc vô cùng phong phú, đa dạng. Trong buổi trình diễn, Natasha hát lại những bài ca gắn liền với kỷ niệm của nhiều thế hệ người nghe. Một sự lựa chọn theo Natasha không hề dễ dàng, vì có rất nhiều nhạc phẩm xứng đáng được đưa vào album này, khi chỉ giữ lại khoảng 10 bài hát, Natasha đã cố gắng đem lại sự đồng nhất, trong các bản hoà âm, phối khí. Khác với những bản ghi âm trước, thường dùng nhiều nhạc cụ để tạo ra quy mô hoành tráng cho dự án, album của Natasha có một lối phối khí mộc mạc thuần khiết hơn, dùng tiếng đàn đệm piano và ghi ta để làm nổi bật vẻ đẹp của lời bài hát và sức truyền cảm trong lối diễn đạt. Album của Natasha St Pier thực sự là một lời gọi mời cho một hành trình xuôi dòng ký ức, khám phá lại những giai điệu còn lưu lại bao dấu ấn sâu đậm qua các thế hệ. Nhiều nghệ sĩ thời trước đã tạo ra những giai điệu tuyệt vời, đẹp như mơ. Với tập nhạc của mình, Natasha hy vọng tiếp nối kéo dài những giấc mơ ấy. Năm nay, Natasha St-Pier đã bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc sống. Trong quá trình thực hiện tuyển tập nhạc Pháp này, cô nhận ra rằng thời gian sống trên đất Pháp giờ dây, xấp xỉ với thời gian sinh trưởng ở Canada. Điều đó khiến Natasha quyết định nộp đơn xin nhập tịch Pháp, vào mùa thu năm 2025. Nhạc phẩm "J'ai deux amours" từng ăn khách qua giọng ca của Joséphine Baker, giờ đây trên album của Natasha tìm thấy một hơi thở mới : Dù nghìn trùng xa xôi ngăn cách diệu vợi, con tim vẫn ôm hai mối tình tuyệt vời, quê hương ngàn đời và Paris muôn lối.
Từng là một trong những nhóm nhạc Đông Nam Á đình đám nhất thập niên 80 với ca khúc “Within You'll Remain” và các bản nhạc Hoa được phối khí theo âm hưởng phương Tây, Tokyo Square dường như đã ngủ quên ngay trong chính thời kỳ hoàng kim của mình. Xích mích nội bộ, bất đồng lợi ích, rốt cuộc điều gì đã khiến nhóm nhạc tiên phong của Singapore, từng làm mưa làm gió tại thì trường âm nhạc châu Á, giờ chỉ còn là dĩ vãng ? Xuất thân bình dân Nhóm nhạc được thành lập bởi ca sĩ hát chính Linda Elizabeth Dana và nghệ sĩ guitar Peter Han. Sau đó năm thành viên khác gồm giọng ca nam Max Surin, đồng thời là anh họ của Elizabeth Dana, nghệ sĩ saxophone Henry Pereira, tay trống Tony Fonseca, nghệ sĩ keyboard Clarence Tan và tay bass Peter Idil gia nhập nhóm và tạo ra một đội hình hoàn chỉnh. Họ bắt đầu biểu diễn tại quán bar mang tên Rainbow, nơi đầu tiên chơi nhạc disco tại Singapore thời điểm đó. Đến từ Đảo quốc Sư Tử nhưng lại lấy tên là Tokyo Square, nhóm nhạc đã khiến nhiều khán giả không khỏi tò mò về nguồn gốc của cái tên này. Mỗi khi được hỏi như vậy, giọng ca nữ Linda Elizabeth Dana lại vui vẻ chia sẻ : “Thực ra hồi đó khi tìm tên, chúng tôi đã không quá nghiêm túc. Một người trong nhóm bỗng dưng nói rằng Nhật Bản đang rất nổi tiếng. Tôi cũng chẳng biết nữa, chỉ nhớ là người ấy bỗng dưng nhắc tới. Thế rồi chúng tôi bảo nhau hay lấy tên là Tokyo. Sau đó chúng tôi nghĩ rằng Tokyo Square nghe có vẻ hay, nên lúc đó quyết định chọn luôn.” Danh tiếng đến bất ngờ Những tưởng nhóm sẽ trải qua những ngày tháng bình dị, đi hát nhạc tại các quán bar địa phương, nhưng mọi thứ bắt đầu thay đổi khi Tokyo Square thu âm ca khúc “Within You’ll Remain” (tạm dịch Vẫn mãi có em) vào năm 1985. Thực ra ca khúc này vốn do tay rock Hồng Kông Donald Ashley, người sáng lập ban nhạc Chyna, viết tặng cho vợ của mình. Tại Hồng Kông, bài hát cũng đã đạt một số thành công nhất định, tuy nhiên nó chỉ thực sự vang danh khắp châu Á sau khi nhóm Tokyo Square phối khí lại, đến nỗi nhiều người nhầm tưởng nhóm này mới là tác giả thực sự của ca khúc. Điểm đặc biệt của ca khúc là cả bài hát được chơi bằng đàn tranh réo rắt, hoà với guitar và piano, tạo ra một giai điệu hoà trộn hoàn hảo giữa phương Đông và phương Tây. Điều thú vị là phiên bản “Within You'll Remain” của Tokyo Square ban đầu không hề tạo được tiếng vang tại quê nhà. Tokyo Square vẫn đi chơi nhạc mỗi tối tại các quán bar mà không hay biết rằng bài hát của mình đang trở thành một xu hướng tại Thái Lan. Chia sẻ trong bài phỏng vấn với Tropic Titbit, nữ ca sĩ Linda kể lại rằng một ngày nọ, nhiều người bạn của bà, khi đó đang làm ăn ở Thái Lan, đã gọi điện cho bà và nói : “Này, ca khúc của bạn nổi tiếng lắm. Ở đâu họ cũng phát ca khúc này. Sao ở Singapore còn chưa nghe ?”. Đến khi đó nhóm mới nhận ra bài hát của mình đang được yêu thích đến thế nào. Không lâu sau, bài hát bắt đầu trở thành hiện tượng tại Singapore. Với “Within You'll Remain”, Tokyo Square đã giữ ngôi vị quán quân bảng xếp hạng âm nhạc tại Singapore suốt 5 tuần lễ liên tiếp trong năm 1986. Đĩa nhạc đã bán được đến hơn 500.000 bản. “Within You'll Remain” còn thành công đến mức mà vào năm1987, nhóm được mời hát mở màn trong ngày Quốc khánh Singapore, nơi hơn 50.000 khán giả cùng hát vang ca khúc đó. Ở đỉnh cao danh tiếng của ban nhạc, nam ca sĩ Surin được ca ngợi như là “Hoàng tử Singapore”, với giọng hát mượt mà, bộ ria mảnh và phong cách biểu diễn lãng tử. Sau đó, nhóm lần lượt cho ra các bản phóng tác lời Anh của những ca khúc tiếng Hoa phổ biến thời bấy giờ. Người yêu nhạc Việt hẳn đã quen với những bài hát như “Keep on loving you”, bản gốc là bài “Người con gái dễ bị tổn thương” của Vương Phi, với phiên bản Việt là “Người tình mùa đông”, nổi tiếng qua giọng ca trong trẻo của nữ ca sĩ Như Quỳnh. Ngoài ra còn có thể kể tới bài “Caravan of life”, bản gốc là bài “Những ngày bên nhau đã qua” của Lưu Đức Hoa, còn bản Việt mang tên “Tình nhạt phai”. Hay bài “Can’t let go”, lấy từ bản gốc “Mộng uyên ương hồ điệp” của Hạo Thiên. Lời nguyền “One hit wonder” Tuy nhiên, tất cả các bài cover sau này đều không vượt qua khỏi cái bóng của “Within You’ll Remain”, khiến cho Tokyo Square bị gắn với cái mác “One hit Wonder”. Đây là một khái niệm đã trở nên quen thuộc trong âm nhạc nhằm ám chỉ các ca sĩ, nhạc sĩ chỉ có duy nhất một ca khúc nổi tiếng trong sự nghiệp, còn những sản phẩm sau đó đều mờ nhạt, không đạt được thành công như ca khúc ban đầu. Nhìn chung nguyên nhân có thể là thị hiếu âm nhạc thay đổi nhanh chóng khiến những ca khúc mới không được đón nhận, trong khi nhóm nhạc lại thiếu sáng tạo hoặc việc thử nghiệm phong cách mới thất bại. Việc thiếu chiến lược quảng bá cũng khiến các sản phẩm khác khó nổi bật. Ngoài ra còn phải kể tới các yếu tố bên ngoài như sức khỏe, đời sống cá nhân, hay những sự kiện bất ngờ cũng có thể ngăn trở nhóm tiếp tục sản xuất nhạc, khiến họ chỉ gắn liền với một bản hit duy nhất. Xung đột lợi ích Vậy đối với Tokyo Square, điều gì đã khiến nhóm không thể tiếp tục nối dài chuỗi ngày vinh quang của mình và bất ngờ tuột dốc khi đang trên đỉnh cao của danh vọng ? Câu trả lời nằm ở vấn đề lợi ích. Trong bài phỏng vấn với tờ The Straits Times, nữ ca sĩ Linda đã chua chát nói: “Chúng tôi chẳng có tiền bạc gì cả, chỉ có danh tiếng mà thôi.” Nam ca sĩ Surin chia sẻ thêm : “Mỗi người chúng tôi chỉ nhận được một, hai tấm séc đầu tiên rồi sau đó thì không còn gì nữa. Không phải là công ty thu âm không trả tiền cho Tokyo Square. Lỗi nằm ở chính ban nhạc.” Hóa ra bản hợp đồng giữa ban nhạc và công ty thu âm chỉ do một người ký, và không có chữ ký xác nhận của các thành viên khác, vì vậy người ký kết không có nghĩa vụ pháp lý phải phân chia số tiền đó cho phần còn lại của ban nhạc. Tuy nhiên Surin không muốn nêu tên người đó. Ông nói : “Chúng tôi đã quá ngây thơ. Chúng tôi quá nôn nóng để thu âm ca khúc đầu tiên” đồng thời khẳng định giờ mọi chuyện đều đã là quá khứ. Ông cũng cho biết không oán trách gì người đó, vì “album này đã mang lại cho chúng tôi một bước ngoặt lớn và giúp cho sự nghiệp của tôi, nên dù thế nào tôi vẫn biết ơn người đó.” Hiện giờ chỉ còn hai thành viên là Linda và Surin ở lại nhóm, các thành viên khác đều đã lần lượt dứt áo ra đi. Ngay cả Linda và Surin hiện giờ cũng hoạt động đơn lẻ, mỗi người một nơi. Surin hát chính tại bar Modz ở Tứ Xuyên, Trung Quốc, Dana thì yên vị tại bar Swissotel The Stamford ở Singapore. Hai người chỉ tái ngộ trên sân khấu khi có sự kiện đặc biệt. Khi được hỏi cảm thấy sao khi nhóm bị gán với cụm từ “One hit wonder”, Linda đã không ngần ngại chia sẻ rằng bà không cảm thấy có vấn đề gì, vì với bà ca hát là “đam mê, chúng tôi yêu công việc mình làm. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm hết sức có thể. Chúng tôi chưa bao giờ làm gì khác ngoài việc này. Ca hát là điều tuyệt vời nhất và là điều mà tôi vẫn hằng mơ ước”.
Sinh thời, Claude François nhờ đồng sáng tác nhạc phẩm « Comme d'habitude » (My Way) mà hơn nửa thế kỷ sau, con cháu của nam danh ca người Pháp vẫn sống dư dả nhờ tiền tác quyền. Một cách tương tự, Luis Gardey lúc đầu chọn nghề ca hát, nhưng sau đó lại thành công vượt trội nhờ sáng tác cho các nghệ sĩ khác. Bản nhạc nổi tiếng nhất của ông « Devaneos » từng được chuyển lời Việt thành « Khúc tình dối gian ». Được phát hành vào năm 1981, giai điệu « Devaneos » hiểu theo nghĩa đen là những lời tán tỉnh, còn hiểu theo nghĩa bóng là lời gian dối của kẻ đa tình. Bản nhạc này trở nên rất nổi tiếng nhờ phiên bản ghi âm trong nhiều thứ tiếng của Julio Iglesias. Ông hoàng nhạc La Tinh thu bài này với tiểu tựa « O me quieres, o me dejas » hiểu theo nghĩa : yêu ta hoặc bỏ ta, chứ đừng đùa với con tim. Về thân thế sự nghiệp, Luis Gardey sinh trưởng tại thị trấn Quintes, vùng Asturias, phía bắc Tây Ban Nha. Từ khi còn nhỏ, ông luôn nuôi mộng trở thành ca sĩ chuyên nghiệp, chỉ cần nghe vài lần một giai điệu, ông có thể hát lại thuộc lòng. Ông bắt đầu đi hát tại các quán nhạc năm ông 15 tuổi. Đến Madrid lập nghiệp, Luis Gardey (nhờ vào sự dìu dắt của hai người thầy là Raúl Matas và José Luis Pecker) bắt đầu xuất hiện thường xuyên trong chương trình Cadena Ser trên đài phát thanh thủ đô, bước đệm quan trọng cho nhiều ca sĩ trẻ thời bấy giờ. Năm 23 tuổi, Luis Gardey lần đầu tiên thực hiện được ước mơ của mình khi giành giải nhất cuộc thi hát nhân kỳ liên hoan ca khúc Duero, dành cho các tài năng mới đến từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Quan trọng hơn nữa là giải Đĩa Vàng do Đài Truyền hình Quốc gia trao tặng vào năm 1966. Nhờ giải này, nhiều bài hát của ông Somos tu y yo, Yo que no vivo sin Ti cũng như Mi vida (phiên bản phóng tác của bài "Ma vie" của Alain Barrière) trở nên phổ biến tại châu Mỹ La Tinh từ đầu thập niên 1970. Trong giai đoạn khởi nghiệp, Luis Gardey đã có được những thành công bước đầu đáng kể, nhưng chính ông cũng không ngờ rằng trong thập niên sau đó, sự nghiệp của ông lại tăng thêm một bậc nhờ soạn nhạc cho các nghệ sĩ tên tuổi. Về giai thoại sáng tác bài hát « Devaneos », ông cho biết là đầu những năm 1980, ông đang bận đi diễn ở Trung Mỹ và ông dự định nghỉ ngơi một thời gian sau chuyến lưu diễn này. Phía hãng đĩa mới đề nghị với ông rằng, họ sẵn sàng thanh toán toàn bộ chi phí của kỳ nghỉ dưỡng, với điều kiện ông sáng tác nguyên một album gồm 10 ca khúc mới để phát hành vào đầu năm sau. Luis Gardey hoàn tất album này sớm hơn dự kiến và nhạc phẩm « Devaneos » được chọn làm ca khúc chủ đạo để quảng bá cho album. Một cách rất tình cờ, giai điệu này lại lọt vào tai của Julio Iglesias. Ông hoàng nhạc tình La Tinh đã mua lại quyền phân phối bài hát cho thị trường Bắc Mỹ và châu Âu. Bản nhạc được đưa vào album phòng thu mang tựa đề "De Niña a Mujer", tập nhạc đầu tiên của Julio phát hành trên thị trường Hoa Kỳ. Nhân một buổi ăn trưa tại Mexico, Luis Gardey nhận được trước 100.000 đô la tiền bản quyền, còn tiền hoa hồng sẽ được trả sau, dựa vào doanh thu của việc bán đĩa. Đó không phải là bài hát duy nhất mà Luis Gardey đã sáng tác cho Julio. Vào năm 1986, Julio Iglesias đã chọn một trong những sáng tác mới của ông làm ca khúc chủ đạo, mở đầu album « Libra ». Với tựa đề « Ni te tengo, ni te olvido » (Tim vẫn chưa có, mà hồn chưa quên) bài hát này giành lấy hạng đầu thị trường Tây Ban Nha và thị trường Hoa Kỳ trong hạng mục pop La Tinh. Trong tiếng Việt, bài này từng được phóng tác thành nhạc phẩm « Tình mãi đam mê » qua phần ghi âm của ca sĩ Hoàng Nam. Thành công của nhạc phẩm Devaneos (tựa tiếng Pháp là Les dérobades) cho ra đời nhiều phiên bản phóng tác trong nhiều ngôn ngữ ăn khách trên thị trường quốc tế. Riêng trong tiếng Việt, bài này có ít nhất đến ba lời khác nhau. Lời thứ nhất « Khúc tình dối gian » là của tác giả Vũ Xuân Hùng. Lời thứ nhì mang tựa đề « Bài ca tình nhớ » là của tác giả Lữ Liên qua phần ghi âm của các danh ca Tuấn Ngọc hay Kasim Hoàng Vũ. Lời thứ ba « Và rồi nắng ra đi » là của nam ca sĩ Duy Hạnh. Tuy trong đời, Luis Gardey đã sáng tác khá nhiều bài hát, nhưng ít có bài nào ăn khách bằng các bản ghi âm của Julio Iglesias. Với hơn 10 triệu đĩa được bán mỗi năm chỉ trong thập niên 1980, chính ông hoàng dòng nhạc La Tinh đã giúp cho các giai điệu sâu lắng êm đềm của tác giả Luis Gardey càng trở nên khó quên, tên tuổi ông được nhiều trái tim hâm mộ biết đến.
Vào những ngày lễ cuối năm tại châu Âu, thời tiết trở lạnh càng làm cho mọi người cảm nhận được không khí mùa Giáng Sinh. Chính trong những ngày mùa đông băng giá ấy, nhạc phẩm "Winter Wonderland" đã ra đời cách đây 90 năm. Đặc điểm của giai điệu này vẫn là mặc dù ngày lễ Noël không một lần được nhắc đến trong bài hát, nhưng Winter Wonderland từ gần một thế kỷ qua, thường được xem là một trong những bài hát kinh điển vào mùa Giáng Sinh. Trong tiếng Việt, bài này mang tựa đề : Thiên Đường Mùa Đông. Nhạc phẩm Winter Wonderland được sáng tác vào năm 1934, do Richard Smith viết lời và do Felix Bernard soạn nhạc. Qua nhiều thập niên liền, bài hát này từng được hàng trăm nghệ sĩ thu âm lại trong nhiều ngôn ngữ, thực sự trở thành một trong những ca khúc Noël nổi tiếng nhất mọi thời đại. Giai thoại kể rằng tác giả Richard Smith đã có ngẫu hứng sáng tác một bài thơ, khi ông ngắm nhìn những đứa trẻ vui đùa trên tuyết, từ căn phòng của mình tại viện điều dưỡng West Mountain ở Scranton, bang Pennsylvania, nơi ông đang được điều trị bệnh lao. Từ khung cửa sổ căn phòng, tác giả nhìn ra toàn cảnh công viên Central Park tại Honesdale, phủ đầy tuyết trắng. Những đứa bé đắp băng thành người tuyết, dùng khúc cây làm thành đôi tay, gắn mũ trên đầu, quàng khăn trên cổ. Từ khung cảnh ấy, ông mới hình dung ra câu chuyện của một đôi tình nhân đang dạo bước, ngắm cảnh tuyệt vời của thiên nhiên khi trời mới vào đông. Trong trí tưởng tượng của tác giả, người tuyết trở thành nhân chứng cho lời thề kết hôn của đôi nhân tình. Bài thơ sau đó đã được nghệ sĩ dương cầm Felix Bernard phổ nhạc và được nam ca sĩ Joey Nash thu âm lần đầu tiên vào mùa thu năm 1934 cho hãng đĩa RCA với dàn nhạc của Richard Himber chuyên biểu diễn tại khách sạn Ritz-Carlton. Vài tháng sau, nhân mùa Noël năm 1934, Guy Lombardo và dàn nhạc của ông mới thu âm phiên bản thứ nhì. Thành công của bản nhạc này vào những ngày lễ cuối năm biến "Winter Wonderland" với thời gian thành một trong những bản nhạc hàng đầu về chủ đề Giáng Sinh. Từ bản thu âm đầu tiên đến nhạc Noël kinh điển Từ giữa thập niên 1940 trở đi, hầu như năm nào cũng có thêm phiên bản thu âm mới của nhạc phẩm Winter Wonderland. Trong số những bản ghi âm lại nổi tiếng nhất, có những bản cover của Perry Como, Pat Boone, Paul Anka, Frank Sinatra, Bing Crosby hay Elvis Presley. Vào tháng 11 năm 2007, Hiệp hội ASCAP chuyên bảo vệ tác quyền tại Hoa Kỳ đã xếp nhạc phẩm Winter Wonderland vào hạng đầu danh sách các bài hát được phổ biến và phát sóng thường xuyên nhất trong những ngày lễ cuối năm, có lẽ cũng vì có rất nhiều phiên bản hoà tấu và Winter Wonderland do nói về mùa đông, cho nên thường được nghe sớm hơn các ca khúc Giáng Sinh khác. Trong tiếng Pháp, phiên bản của bài Winter Wonderland là nhạc phẩm "Au royaume du bonhomme hiver" (Nơi xứ sở của người tuyết) do ca sĩ kiêm tác giả người Québec, Lucien Brien, sáng tác và thể hiện. Còn trong tiếng Việt, giai điệu này từng được tác giả Nguyễn Thảo viết lời, do Lê Vũ hòa âm phối khí và do nam ca sĩ Quý Anh trình bày. Trong những công viên mùa đông, những gốc thông xanh che chở những con thú nhồi bông trắng, băng tuyết xinh xắn. Tại châu Âu hay Bắc Mỹ, vào mùa này đều có những ngôi làng hay phiên chợ Noël với nhiều trò chơi như sân trượt băng, hay xích đu cầu vòng. Khi màn đêm buông xuống, ánh đèn lung linh khiến khung cảnh phiên chợ làng, càng trở nên huyền ảo. Dù xuất xứ từ đâu, nhưng những bài hát này đều làm bừng sáng mùa lễ hội, mang đến cho mùa đông một chút niềm vui khó quên lạ thường, trong khung cảnh diễm tuyệt thiên đường, vương quốc của người tuyết dễ thương.
Ca sỹ, nhạc sỹ, diễn viên Bruno Mars trụ vững trên đỉnh vinh quang một thập niên qua nhờ âm nhạc pop/soul/R&B, cùng chất giọng trữ tình, mượt mà. Đĩa đơn mới nhất Bruno hợp tác cùng Lady Gaga, Die with a smile (Chết trong nụ cười) leo lên hạng nhất Billboard và lập kỷ lục về lượt nghe trên kênh trực tuyến Spotify. Tài năng được công nhận Nghệ sỹ Bruno Mars sinh năm 1985 tại Hawaii Mỹ, pha trộn hai dòng máu Philipin và Puerto Rico. Anh được nuôi dưỡng trong môi trường âm nhạc từ nhỏ, mẹ là ca sỹ kiêm vũ công, cha anh là nhạc sỹ chuyên chơi nhạc Little Richard. Tuy nhiên, cuộc sống nam nghệ sỹ không phải màu hồng. Khi cha mẹ anh ly dị lúc còn nhỏ, Bruno sống lang thang phiêu bạt trên trên xe hơi. Trước khi nổi tiếng với tư cách nghệ sỹ solo, anh là nhạc sỹ sáng tác và thành viên sáng lập cho nhóm sản xuất Smeezingtons. Nhắc tới Bruno, khán giả nhớ ngay tới một nghệ sỹ nhỏ bé nhưng thoát ra khỏi vùng an toàn, thể hiện được nguồn năng lượng sáng tạo mạnh mẽ. Anh giành được tiếng vang đầu tiên nhờ đĩa đơn leo lên hạng nhất Nothing on you (Không ai sánh bằng em) năm 2009. Kể từ đó, Bruno liên tục nắm giữ chuỗi giải thưởng danh giá và gặt hái thành công thương mại khổng lồ: chiến thắng 16 giải Grammy gồm những giải quan trọng nhất Album của năm, Ghi âm của năm, Bài hát của năm. Nam nghệ sỹ có 9 đĩa đơn xếp hạng nhất tại bảng xếp hạng Billboard. Bruno Mars cũng là nghệ sỹ đầu tiên có trên 150 triệu lượt nghe một tháng trên kênh Spotify. Ba album solo của Bruno, Doo-Wops & Holigan (2010), Unorthdox Jukebox (2012), 24K Magic (2016) là ba dấu mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp của nam nghệ sỹ. Theo thời gian, tầm vóc và thành công thương mại của anh tăng trưởng đều. Trong đó, album 24K Magic được đánh giá xuất sắc nhất, hoàn toàn chinh phục Ban giám khảo Grammy năm 2016, ẵm hết các hạng mục quan trọng nhất. Rõ ràng, anh chịu ảnh hưởng lớn từ vua nhạc pop quá cố Micheal Jackson và ông hoàng rock n roll, Elvis Presley từ cách hát, vũ đạo, tiết tấu funky (nhún nhẩy), ca từ hoài cổ. Tất cả những điểm mạnh kể trên định hình phong cách Bruno Mars trở thành biểu tượng nhạc pop đương đại. 10 năm không có album solo mới Gần 10 năm qua kể từ 24K Magic, Bruno không phát hành album solo mới. Điều đó không có nghĩa anh ngừng sáng tạo hay lui vào ở ẩn. Trái lại, anh chú trọng vào sản phẩm hợp tác với các nghệ sỹ tên tuổi khác và đồng thời, sáng tác đĩa đơn có hấp lực thương mại cao. Điển hình như đĩa đơn Wake up in the sky (Tỉnh giấc trên bầu trời) pha trộn hip hop, pop, soul, đồng sáng tác cùng Gucci Mane và Kodak Black. Ra mắt năm 2018, ca từ bài hát ca ngợi cảm giác tốt đẹp và tận hưởng cuộc sống. Bruno còn ghi tên mình trong sản phẩm hợp tác với Ed Sheeran, ngôi sao Anh quốc hay Cardi B rapper người Mỹ. Năm 2021, anh kết hợp cùng rapper Anderson Paak ra mắt album An Evening with Silk Sonic (Buổi tối cùng Silk Sonic - Âm thanh mượt mà). Album leo hạng 5 trong các bảng xếp hạng Mỹ, Canada. Nam nghệ sỹ chứng tỏ đam mê sáng tạo vượt khỏi giới hạn bản thân. Bruno chứng tỏ tư duy cởi mở khi làm nghề, khác biệt với các nghệ sỹ cùng thời: thay vì tách nhóm để hoạt động solo, anh lại tìm nghệ sỹ cùng phổ âm nhạc để hợp tác, thành lập nhóm nhỏ. Ca khúc Leave the door open (Hãy để cửa mở) dưới tư cách bộ đôi Silk Sonic xếp hạng nhất tại Mỹ. Thành công này cho thấy khán giả ưa chuộng gu âm nhạc của Bruno Mars. Ở góc độ nghệ sỹ, Bruno có trực giác nhạy bén, nắm bắt được thị hiếu số đông công chúng. Giới phê bình nhìn nhận anh như chú tắc kè hoa, có độ phủ lớn với đa thể loại âm nhạc, nhưng thế mạnh đi đôi với gu âm nhạc khá cũ, quen thuộc. Sức hút của Chết trong nụ cười (Die with a smile) Die with a smile, đĩa đơn phát hành tháng 8 năm 2024 nhanh chóng trở thành hiện tượng trên Spotify và bảng xếp hạng Billboard. Ca khúc đánh dấu sự hợp tác thành công mỹ mãn giữa Bruno và Lady Gaga, dành được giải Grammy Trình diễn Pop nhóm/bộ đôi xuất sắc nhất. Tác phẩm được sản xuất theo phong cách soft rock, ballad khoe được sự ăn ý và hòa hợp của bộ đôi. Năm 2016, nam nghệ sỹ và Lady Gaga có dịp hợp tác biểu diễn chung trên sân khấu thời trang Victoria Secret. Tám năm sau, tháng 6 năm 2024, Bruno gợi ý muốn hợp tác cùng Lady Gaga một ca khúc hoặc trình diễn chung trên sân khấu Las Vegas Residency. Cả hai nghệ sỹ hiện thực hóa mong mỏi bấy lâu khi Bruno giới thiệu cho Gaga bản nhạc anh đang viết dở. Rất nhanh chóng, Lady Gaga hoàn toàn bị chinh phục bởi giai điệu của sản phẩm anh thai nghén. Cả hai nghệ sỹ dành tặng nhau lời có cánh trên mạng xã hội trong quá trình sản xuất. Chỉ trong vòng hai tháng, bộ đôi trình làng ca khúc hợp tác đầu tiên, Die with a smile. Không nghi ngờ, cơn bão lời khen ập đến với bộ đôi từ cả phía khán giả lẫn giới phê bình. If the world was ending, I'd wanna be next to you ; If the party was over and our time on Earth was through ; I'd wanna hold you just for a while and die with a smile. Nếu thế giới này kết thúc, anh chỉ muốn được gần bên em ; Nếu bữa tiệc đã tàn và thời gian còn lại trên Trái đất sắp qua đi ; Anh chỉ muốn ôm em trong giây lát và chết trong nụ cười. Tờ New York Times nhận xét “bản nhạc dance chậm rãi, lãng mạn trong ngày tận thế cho cả hai cơ hội khoe khoang nốt cao nhất bằng giọng ngực (belting )”. Thêm một lần nữa, Bruno Mars chứng tỏ anh là “chú lùn” tài hoa, nắm được thị hiếu nghe nhạc đại chúng và kỹ năng biểu diễn với mức thẩm thấu cao. Anh biết chơi rất nhiều nhạc cụ trong đó có guitar, piano, keyboard, trống, bass, ukulele, trống conga. Tuy nhiên, lắm tài thường đi đôi nhiều tật, anh từng có tai tiếng liên quan tàng trữ cocaine hay nợ nần 50 triệu đô với sòng bạc MGM Las Vegas. Tuy nhiên, MGM Las Vegas bác bỏ tin đồn nợ nần. Lý do cát xê 90 triệu đô/năm biểu diễn tại MGM hoàn toàn có thể xóa được món nợ như tin đồn. Bruno Mars được bình chọn là Top 20 ngôi sao nhạc pop vĩ đại nhất thế kỷ 21 do nhiều tạp chí uy tín như Times, Billboard. Tài năng thuộc loại hiếm của “chú lùn” được minh chứng trên nhiều phương diện nhạc sỹ, nghệ sỹ biểu diễn. Anh là người tạo nên kỳ tích chuỗi bản hit thành công thương mại. (Theo People, Billboard, New York Times)



