DiscoverTạp chí văn hóa
Tạp chí văn hóa
Claim Ownership

Tạp chí văn hóa

Author: RFI Tiếng Việt

Subscribed: 21Played: 328
Share

Description

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

304 Episodes
Reverse
Trong những tuần lễ đầu tháng Giêng, người Pháp thường có truyền thống ăn Bánh Ba Vua « Galette des Rois » nhân mùa lễ Hiển Linh « Épiphanie ». Năm nay, ngoài các hương bánh phổ biến như hạnh nhân, quả táo hay hồ trăn, còn bắt đầu xuất hiện loại bánh galette nhân trà xanh matcha. Thế nhưng, loại bánh này không hề rẻ, gần 60 euro một ổ bánh 8 phần, do trà xanh matcha đang rơi vào tình trạng khan hiếm nguồn cung. Matcha là loại bột trà xanh được làm bằng lá trà non (tencha) phơi khô, loại bỏ phần cuống và gân lá, rồi dùng cối đá để nghiền nhuyễn, xay mịn. Nổi tiếng là rất tốt cho sức khỏe, bột trà xanh matcha đã nhanh chóng trở thành biểu tượng của lối sống lành mạnh, được sử dụng rất nhiều trong ngành ẩm thực. Cô Andie Ella là một người gây ảnh hưởng ở Pháp với hơn nửa triệu người đăng ký theo dõi tài khoản trên mạng xã hội. Trên kênh truyền hình France 24, cô cho biết cơn sốt trà matcha không phải là điều mới mẻ, nhưng các trào lưu trong giới tiêu dùng đã tăng nhanh gấp bội, nhờ tốc độ lan truyền của các mạng xã hội : « Theo tôi, matcha trở nên thịnh hành phổ biến chủ yếu nhờ vào các mạng xã hội. Đầu tiên hết, màu sắc của matcha khá bắt mắt nên dễ thu hút giới thích chụp ảnh trên Instagram. Thật vậy, loại bột trà màu xanh nhuyễn mịn này, khi được khuấy đều hay được pha với sữa, tạo ra nhiều thức uống đẹp mắt, chỉ cần nhìn thoáng qua là người ta bỗng dưng thèm ngay, muốn uống thử loại trà này. Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng là một điểm đến hấp dẫn trong mắt nhiều khách du lịch quốc tế. Hai hình ảnh bổ sung cho nhau, làm tăng thêm nét quyến rũ của matcha. Cuối cùng, matcha càng trở nên phổ biến vì thức uống truyền thống của Nhật Bản rất hợp với các xu hướng đề cao lối sống lành mạnh hiện thời : ẩm thực giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, làm đẹp làn da, gìn giữ sức khỏe. Bột trà xanh của Nhật Bản đáp ứng các tiêu chuẩn này. » Sau vài chuyến đi Nhật Bản, cô Andie Ella đã cho ra mắt thương hiệu « Milia Matcha », sử dụng loại trà xanh Okumidori với nhiều mùi thơm tự nhiên và hầu như không có vị đắng, được sản xuất tại miền nam quần đảo Nhật Bản. Bột trà xanh matcha giờ đây được khai thác dưới nhiều hình thức : ngoài các thức uống pha sữa (matcha latte) hay trân châu (bubble tea) còn có nhiều món tráng miệng như mochi, bánh flan, kem trà xanh...  Giờ đây lại có thêm nhiều loại mỹ phẩm cũng như kem dưỡng da kết hợp với bột trà matcha. Theo nhà sản xuất người Nhật Masahiro Okutomi sống trong một gia đình trồng trà từ 15 đời qua, sự khai thác quá mức này có nguy cơ tạo ra tình trạng khan hiếm, do nguồn cung không đuổi kịp mức cầu. « Với tư cách là một người chế biến matcha, tôi rất vui mừng khi thấy bột trà xanh Nhật Bản thu hút được nhiều sự chú ý như vậy. Có thể nói là có rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới, dù không hẹn nhưng đều cùng quan tâm đến matcha của Nhật Bản. Tuy nhiên, mọi chuyện đang trở nên căng thẳng, nhu cầu của người tiêu dùng không ngừng gia tăng, tạo ra nhiều sức ép lên ngành sản xuất matcha : từ các nhà trồng trọt cho đến các gia đình thu hoạch trà xanh để sản xuất bột trà. Trước mắt, chuỗi cung ứng đang bị đe dọa, có nguy cơ bị thiếu hụt sản phẩm. Bản thân tôi cũng đang chịu nhiều áp lực và trong ngắn hạn, tôi cảm thấy dù có cố gắng cách mấy, tôi vẫn không thể đáp ứng nổi nhu cầu ngày càng lớn từ người tiêu dùng. » Theo ông Shigehito Nishikida, nhà quản lý tiệm trà Jugetsudo nằm tại khu phố trung tâm Tsukiji ở Tokyo, cửa hàng này đang tìm cách hạn chế lượng trà trong mỗi lần mua bán. Trong vài năm qua, cơn sốt ghiền matcha ngày càng tăng mạnh, do nhiều khách hàng muốn mua thêm matcha để tự pha ở nhà, sau khi xem các đoạn video trên TikTok. Theo kênh truyền hình France 24, thị trường toàn cầu đang bị ảnh hưởng vì người tiêu dùng đang thay đổi thói quen dùng trà matcha. Chỉ trong năm qua, mức sản xuất đã không theo kịp đà tăng của mức cầu, khiến giá matcha đã tăng hơn 170% tại Nhật Bản.  Nhật Bản : matcha chủ yếu được dành cho xuất khẩu Ông Zach Mangan, nhà sáng lập chuỗi quán trà « Kettl » ở Los Angeles và New York, giải thích trong số 25 loại matcha được bán ngoài tiệm, có đến khoảng 20 loại nay đã hết hàng. Bột trà xanh matcha thường được bán trong các gói 20 gram, giá cả tùy thuộc vào từng loại, từ 25 đến 140 euro, tức từ 1.250 đến 7.000 euro một kí lô. Vào đầu năm 2026, công ty Gozen Ui của Nhật Bản lập kỷ lục mới khi bán một túi trà 20 gram với giá 340 euro, tức gần 17.000 euro một kí matcha. Theo Bộ Nông nghiệp Nhật Bản, trong năm qua, hơn một nửa sản lượng trà matcha (gần 9.000 tấn) được dành cho xuất khẩu. Cho dù các hộ trồng trọt ở Nhật đã mở rộng thêm đất canh tác, nhưng quá trình sản xuất với nhiều khâu thủ công đòi hỏi khá nhiều thời gian, cho nên nguồn cung vẫn còn chậm so với mức cầu. Nhà sản xuất Masahiro Okutomi, điều hành nông trại ở Sayama, cho biết :  « Các nhà sản xuất trà ở Nhật Bản đang gặp nhiều khó khăn, công việc của họ bị quá tải khi nhu cầu tăng nhanh. Gia đình tôi vẫn nhận được nhiều tin nhắn mỗi ngày, cho dù trên trang web của công ty, chúng tôi đã thông báo với khách hàng rằng công ty không còn nhận thêm bất kỳ đơn đặt hàng matcha nào nữa. » Việc sản xuất bột trà xanh là một quá trình công phu và tỉ mỉ : lá trà non « tencha » được trồng trong bóng râm trong bốn tuần trước khi thu hoạch, sau đó được hái bằng tay, loại bỏ cuống trà và gân lá trước khi được cho vào cối đá xay mịn. Theo nhà sản xuất Masahiro Okutomi, quá trình thủ công này đòi hỏi thời gian và sự chịu khó, chưa kể đầu tư vào các loại máy móc dùng để sấy khô lá trà. Câu hỏi đặt ra là liệu các nhà chế biến có thể sản xuất trên quy mô lớn mà không làm giảm chất lượng của matcha hay không ? Dù muốn hay không, cơn sốt trên toàn thế giới khiến giá trà xanh matcha tăng nhanh trong một thời gian ngắn. Ông Fumi Ueki, nhà điều hành Leaf Brand Group, thuộc tập đoàn Ito En, công ty phân phối lá trà hàng đầu ở Nhật Bản cho biết, hiện giờ người Nhật nói chung không uống nhiều matcha, trong khi thế giới lại « nghiện » loại trà xanh này hơn bao giờ hết. Đôi khi người tiêu dùng muốn thưởng thức matcha mà lại quên xem xuất xứ rõ ràng của sản phẩm. Trên thị trường quốc tế, bắt đầu xuất hiện nhiều gói trà bán lẻ, trong đó người bán có thể độn thêm những loại bột trà khác kém chất lượng, trộn với nhiều chất tạo mùi, tạo màu sao cho gần giống với các loại matcha thượng hạng, được bán với giá cao hơn ! 
Cách nay 60 năm, ngày 16/07/1965, tổng thống Pháp Charles de Gaulle và lãnh đạo Ý Giuseppe Saragat đã khánh thành tuyến đường hầm xuyên núi, dài 11,4km, bên dưới đỉnh Aiguille du Midi, trong dãy núi Mont Blanc. Giấc mơ xuyên núi kéo dài hai thế kỷ, không chỉ thể hiện những tiến bộ về kỹ thuật trong nửa đầu thế kỷ 19, mà còn phản ánh quan hệ Pháp – Ý trong chiều dài lịch sử đầy biến động. Vào năm 1787, nhà tự nhiên học người Thụy Sĩ Horace-Bénédict de Saussure từng tiên đoán: “Sẽ đến ngày người ta khoan một con đường dưới chân Mont-Blanc”, theo trích dẫn trong bài luận án của tiến sĩ lịch sử Stéphane Mourlane, trường đại học Nice Sophia - Antipolis. Lúc đó, vấn đề kỹ thuật là một thách thức lớn và giấc mơ này khó khả thi. Đến giai đoạn những năm 1840-1850, ý tưởng nối Chamonix và Courmayeur đã được nêu lại nhằm xóa bỏ sự cô lập của các thị trấn ven núi biên giới giữa hai nước. Năm 1844, luật sư Laurent Martinet đã mô tả một đường hầm dài 12 km, giữa Boissons (Pháp) và Entreves (Ý). Ý tưởng này đã được cụ thể hóa bởi kỹ sư Joseph Alby, thuộc trường Ecole Centrale de Paris, bảo đảm có thể thực hiện được, với các thiết bị khoan hiện đại hơn. Hai thế kỷ đầy khúc mắc chính trị Thế nhưng, phải mất gần hai thế kỷ sau đó, giấc mơ đó mới thành hiện thực bởi những rối ren chính trị. Vào tháng 07/1965, đường hầm xuyên dãy núi Alps dưới đỉnh Mont-Blanc, ngọn núi cao nhất châu Âu, mới chính thức được khánh thành, khép lại một trang sử đầy trắc trở trong lịch sử giữa Pháp và Ý. Cụ thể, dãy Mont-Blanc trở thành biên giới tự nhiên giữa Pháp và Ý ngay sau khi nước Ý thống nhất và vùng Savoie được sáp nhập vào Pháp vào năm 1860. Tuy nhiên, lúc đó, ý tưởng về việc khoan một đường hầm xuyên núi bị phe bảo thủ coi là một hành động « mở cửa biên giới », khó được chấp nhận. Trong khi đó, Ý lại tập trung vào dự án hầm Gothard để kết nối với Đức, thay vì hợp tác với Pháp. Vào năm 1882, khi Ý chính thức gia nhập liên minh quân sự với Đức và Áo-Hung, quan hệ Pháp - Ý bước vào giai đoạn căng thẳng, khiến mọi kế hoạch hợp tác đều bị đình trệ. Phải đến cuối thế kỷ 19, quan hệ hai nước được cải thiện mới tạo điều kiện để tái khởi động ý tưởng xây hầm. Các cuộc gặp ngoại giao cấp cao và đề xuất kỹ thuật khả thi từ kỹ sư Monod đã mở ra hy vọng. Tuy nhiên, mâu thuẫn ngân sách, tranh chấp thương mại và chiến dịch quân sự của Ý tại Libya lại khiến dự án rơi vào bế tắc. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất tiếp tục làm đình hoãn mọi tiến trình. Giai đoạn giữa hai cuộc đại chiến thế giới, ý tưởng về đường hầm Mont-Blanc gần như bị lãng quên bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít và căng thẳng Pháp - Ý dưới thời Mussolini. Khi Ý tuyên chiến với Pháp năm 1940, hy vọng về một dự án chung hoàn toàn tan vỡ. Chỉ sau Đệ Nhị Thế Chiến, trong bối cảnh châu Âu tái thiết, dự án này dần trở lên khả thi hơn. Từ năm 1946, doanh nhân Ý Dino Lora Totino cùng các đội ngũ chuyên môn về kỹ thuật của hai nước khởi động lại nghiên cứu dự án hầm xuyên núi. Dù vẫn gặp trở ngại tài chính, một hội nghị liên chính phủ năm 1949 đã thống nhất chọn Mont-Blanc làm vị trí khoan hầm. Trả lời trang RCF, nhà sử học Stéphane Mourlan nhấn mạnh rằng “đòn bẩy thực sự để thực sự để triển khai dự án là việc Hiệp ước Roma được ký vào ngày 25/03/1957, thiết lập thị trường chung châu Âu, tạo điều kiện thúc đẩy trao đổi thương mại Pháp Ý.” Trong bối cảnh châu Âu thúc đẩy xây dựng một khối thống nhất, công trình đã được khởi công vào ngày 08/01/1959. Tổng thống Pháp lúc đó, Charles de Gaulle, coi dự án Mont-Blanc là biểu tượng của “tình hữu nghị đặc biệt” giữa hai dân tộc và là điểm tựa để đẩy mạnh liên kết chính trị châu Âu. Trong buổi lễ khánh thành, tổng thống Ý Giuseppe Saragat khẳng định : Đường hầm này thống nhất hai dân tộc chúng ta và quan trọng hơn là hiệp ước hữu nghị, liên minh hoặc cam kết về một cộng đồng chung vận mệnh”. Tướng De Gaule thì nhấn mạnh đến một “bữa tiệc chính trị”, đã làm trì hoãn công trình mang tính lịch sử này trong nhiều năm, theo trích dẫn từ Viện nghe nhìn quốc gia Pháp (INA). Nhà sử học Stéphane Mourlane cho rằng “đây là thời khắc lịch sử, bởi vì khi xét đến quan hệ Pháp - Ý, Tướng De Gaulle vẫn luôn bị nghi là có ý định sáp nhập vùng Val d’Aouste của Ý”. Trước khi đường hầm được hoàn thành vào năm 1965, việc đi lại, vượt dãy núi Alpes là một thách thức lớn, thậm chí là nguy hiểm, do thời tiết thất thường và đường núi hiểm trở, đôi khi phải mất hàng tuần để vượt qua tuyến đường quan trọng này giữa Pháp và Ý. Việc xây dựng đường hầm dài 11,6 km đã tạo nên một cuộc cách mạng trong giao thông vận tải, rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển và thúc đẩy kinh tế khu vực. Thách thức về khoa học kỹ thuật Để hoàn thành công trình được cho là một kỳ tích. Đường hầm được xây dựng trong vòng 6 năm. Mỗi ngày, các công nhân đào xuyên đá, với tốc độ 7 đến 8 mét từ cả hai đầu núi Alpes, Ý và Pháp. Các cỗ máy đào khoan đá khổng lồ được đặt tên là Jumbo. Hơn 700 tấn thuốc nổ đã được sử dụng. Theo tư liệu của Viện nghe nhìn quốc gia Pháp (INA), 15 máy khoan đào 120 hoặc 150 lỗ rộng khoảng 4 mét, sau đó lấp đầy bằng 500 kg thuốc nổ. Tổng cộng, 1 triệu mét khối đá đã được đưa ra để xây dựng đường hầm. Nhà sử học Stéphane Mourlane cho biết công việc này vào lúc đó không dễ dàng. Bụi được sản sinh trong quá trình đục và khoan, đá thường xuyên rơi xuống, đặc biệt là ở phía Ý. Tại Mont-Blanc, có nhiều loại đá phong hoá, với độ cứng và tính thấm nước khác nhau, do đó không thể ứng dụng một phương pháp cố định, mà phải thay đổi liên tục cách khoan tùy theo từng lớp đá. Đường hầm dài 11,6 km, khiến áp lực đá (lithostatique) gia tăng theo độ sâu, cần hệ thống chống đỡ vách chịu lực lớn như bệ kim loại, tấm bê tông, theo trang construmat.ch. Thêm vào đó, nước ngầm, hơn 10 triệu m³, phải được bơm và xử lý trong suốt quá trình đào. Khí độc như méthane cũng là thách thức lớn trong quá trình xây dựng, đòi hỏi hệ thống thông khí và giám sát liên tục môi trường không khí tại công trường. Theo INA, trong suốt 44 tháng xây dựng, 21 công nhân đã thiệt mạng: 14 người Ý và 7 người Pháp. Khi hai đội cuối cùng gặp nhau vào ngày 14 tháng 8 năm 1962, sau một vụ nổ cuối cùng, đường hầm đã hoàn thành. Với chiều dài 11,6 km, đây là hầm đường bộ dài nhất thế giới vào thời điểm đó. Năm 1965, Charles de Gaulle và tổng thống Ý đã khánh thành đường hầm với sự chào đón nồng nhiệt, sáu năm sau khi bắt đầu xây dựng. Những ngày sau đó, nhiều người đã lái xe đã đổ xô đến, tò mò và háo hức đi qua đường hầm dài này. Trong tư liệu của INA, một lái xe người Ý thốt lên : “Đây là một thành tựu tuyệt vời”. Một người phụ nữ thì hết lời khen ngợi chiều dài của đường hầm và các trang thiết bị, như hệ thống đèn cảnh báo, và tốc độ.  Lúc đó, đường hầm Mont-Blanc được coi là một trong số các trục giao thông chính tại châu Âu. Vào năm 1966, một năm sau khi đường hầm đi vào hoạt động hoàn toàn, 600 000 xe đã đi qua tuyến đường này. Vào năm 2024, con số này lên đến 1,4 triệu lượt qua lại, dù đường hầm đã đóng cửa một thời gian để tu bổ. Cột mốc về tiêu chuẩn an toàn xây đường hầm Tuy nhiên, hình ảnh về đường hầm “lịch sử” đã bị hoen ố bởi vụ hoả hoạn năm 1999, khiến 39 người bỏ mạng. Theo điều tra, hệ thống thông gió trong đường hầm không đủ để thoát khói và khí độc, thiếu lối thoát hiểm và đội ngũ cứu hộ ít ỏi, không được đào tạo bài bản. Đường hầm phải đóng cửa để tu bổ trong 3 năm và thực hiện một số chỉnh sửa. Ví dụ như xây các hốc tường cách nhau 100 mét, một trạm cứu hộ được bố trí ở giữa hầm. Các lối thoát hiểm được kết nối với một hành lang sơ tán. Vụ tai nạn được cho là một bước ngoặt khiến châu Âu phải thay đổi các tiêu chuẩn về an toàn trong các hầm giao thông. Công trình đường hầm Mont-Blanc được coi là tuyến đường hầm xuyên núi dài nhất, được xây dựng ở thế kỷ 20. Mặc dù kỷ lục về chiều dài này đã bị đánh bại bởi các đường hầm khác được xây dựng sau này (đường hầm xuyên núi Gotthard Base Tunnel, 57,1 km, Thụy Sĩ, dài nhất thế giới, tính đến năm 2016), Mont-Blanc vẫn được coi là “cựu binh huyền thoại” của các đường hầm xuyên núi.
Ngày 28/09/2025, nam ca sĩ Thế Sơn từ Hoa Kỳ đã sang Paris để trình diễn trong chương trình kỷ niệm 30 năm định cư tại Pháp của nữ ca sĩ Lệ Thu Nguyễn. Chuyến lưu diễn tại Pháp lần này cũng đánh dấu 40 năm sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn, vốn đã nổi tiếng từ khi còn ở Việt Nam và sau khi đến Hoa Kỳ định cư đã cộng tác trong suốt nhiều năm với các trung tâm Thúy Nga và Asia, trở thành một tên tuổi quen thuộc trên các sân khấu hải ngoại. Nhân dịp sang Paris, Thế Sơn đã dành cho RFI Việt ngữ một bài phỏng vấn sau đây: Hôm nay RFI Việt ngữ rất vui mừng được tiếp chuyện với nam ca sĩ Thế Sơn tại Paris. Trước tiên Thế Sơn xin kính chào quý vị khán thính giả của RFI và xin mến chào anh Thanh Phương. Đây không biết là lần thứ bao nhiêu rồi Thế Sơn đến với thủ đô nước Pháp. Đối với Thế Sơn, Paris chắc không có gì xa lạ? Kính thưa quý vị, Thế Sơn rất yêu mến Paris ngay từ khi còn ở Việt Nam và Thế Sơn cũng có rất nhiều họ hàng định cư ở Paris trước đây rất lâu.  Sơn cũng có may mắn là trước đây cộng tác với Paris by night, cho nên qua thu hình cũng như qua trình diễn tại Paris rất nhiều. Thế Sơn học Lasan Taberd, lúc đó không còn chương trình Pháp nữa mà là chương trình Việt, nhưng Sơn học sinh ngữ là Pháp văn. Sơn rất thích nhạc Pháp, rất thích phát âm tiếng Pháp, tại vì Sơn thấy Pháp ngữ phát âm rất là gọn, rất là bén, nghe hay lắm, êm tai lắm! Bây giờ trở lại từ khởi đầu sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn. Lúc đầu chắc là Thế Sơn đâu có tính chọn con đường ca nhạc, vì hình như là trước đây Thế Sơn học trường Trung học Sư phạm? Thưa anh và thưa quý vị, trong dòng họ Thế Sơn, ai cũng đi theo con đường học vấn. Đa số đều thành tài ở những lĩnh vực như kỹ sư, bác sĩ. Gia đình đều hướng con cái đi theo con đường học. Nhưng có thể là do duyên Trời hay đó là một cái nghiệp, trong họ hàng chỉ có mình Thế Sơn là rẻ qua đường ca nhạc thôi. Lúc đầu ba má Sơn cũng không ủng hộ. Má Sơn là giáo viên thành ra bà rất mẫu mực, vẫn còn theo xưa, bà không có thích giới văn nghệ, nên không ủng hộ Sơn vô con đường ca hát. Nhưng mà như Sơn đã nói, chính cái nghiệp cái duyên đưa đẩy Sơn vô con đường ca hát vào năm 1985.  Vậy thì cơ duyên nào đã đẩy Thế Sơn vào con đường này? Khi Thế Sơn học Trung học Sư phạm, nhân dịp sinh hoạt hè ở Duyên Hải Cần Giờ khoảng năm 83, 84, buổi tối buồn không biết làm gì hết, cả lớp kéo nhau ra ngoài trời, đốt lửa trại rồi cầm đàn nghêu ngao hát, văn nghệ văn gừng với nhau. Thì Sơn cầm đàn và hát bài "Đó! Quê hương tôi" của Vĩnh Điện, thì bạn bè trong lớp ai cũng thích hết và thích giọng hát của Sơn. Có một thằng bạn thân nói: “Giọng mày hay lắm, học thêm thanh nhạc, luyện thêm là làm ca sĩ được”. Thì từ đó nó gieo vào đầu Sơn một tư tưởng là đi làm ca sĩ, chứ từ trước đến giờ Sơn chỉ hát chơi thôi và tánh mình cũng nhút nhát nên không nghĩ tới chuyện ra trước đám đông để trình diễn.  Sơn đi học ngoài giờ ở nhạc viện, thì cũng rất may mắn có người thầy tên là Bùi Trần Tiến cũng thích giọng của Thế Sơn lắm, cho nên gợi ý với Thế Sơn là nếu muốn thi vô trường nhạc chính quy thì tới nhà thầy, thầy sẽ luyện thi miễn phí để thi đậu vô trường nhạc. Sơn nghe lời thầy và tới để thầy luyện, rồi sau đó thi đậu vô trường nhạc. Đó là lúc bắt đầu nghiệp ca hát luôn. Chúng tôi được biết là trong trường nhạc, Thế Sơn được dạy hát opera chứ không phải là hát nhạc pop như bây giờ. Như vậy là lúc đầu, đối với một người tuy có giọng ca bẩm sinh, có phải mất rất nhiều công sức để luyện tập hát được opera không?  Opera là một môn nghệ thuật về ca hát rất khó. Có những người luyện cả đời cũng không được, vì không có giọng, không có giọng Trời cho. Lúc Sơn bắt đầu học, vì từ trước giờ mình hát giọng tự nhiên, nên không cảm nhận được thể loại opera. Lúc đó Sơn không thích, thật sự không thích opera, nhưng vô trong đó là bắt buộc phải hát opera. Hát loại nhạc modern ở ngoài, hát bằng giọng tự nhiên là bị thầy la liền! Nhưng sau thời gian học miệt mài ba năm thì giọng của Sơn mở ra theo đường hướng opera, nghe nó vang lắm. Đến chừng đó mình mới cảm nhận được và mới bắt đầu thích opera. Mình kiếm những cassette của Pavarotti nghe để học hỏi thêm, nghe những cassette của các ca sĩ cổ điển của Ý, của Nga để bắt chước luyện theo.  Có lẽ nhờ học hát opera thành ra cái âm vực của Thế Sơn rất là rộng, Thế Sơn có thể đi từ cái nốt khá là trầm lên cái nốt rất là cao. Thì điều đó có giúp gì nhiều cho Thế Sơn trong con đường ca nhạc khi trở thành một ca sĩ nhạc pop? Thưa anh, giúp rất là nhiều. Hồi mới bắt đầu vô trường nhạc, Sơn chỉ lên được nốt mí thôi, mà đã căng thẳng lắm, rát cổ lắm! Nhưng tới bây giờ Sơn lên được tới nốt đô thăng lúc mà mình khỏe, tức là một khoảng rất rộng đối với một người ca sĩ, thành ra nó giúp ích rất nhiều khi mình hát. Mình không sợ hát bất cứ bài nào mà âm vực cao. Nhờ opera mình sẽ có thể hát được hết những bài nhạc của Việt Nam. Thế Sơn không chỉ hát những nốt rất cao mà có thể kéo dài cái nốt đó rất là lâu. Khi mà kết thúc mỗi bài hát chúng tôi thấy Thế Sơn thường là ngân chữ cuối cùng rất là lâu. Vâng, đó là do trong trường họ dạy mình luyện hơi, mình lấy hơi bụng và luyện để cho hơi của mình không mau hết, tức là mình xì ra từ từ để cho  hơi mình kéo dài được. Nhưng nếu chúng ta ra ngoài mà hát như được học ở trường thì chắc khó mà thu hút được khán giả. Vậy thì làm sao Thế Sơn có thể làm cho giọng hát của mình thích ứng với loại nhạc phổ thông? Nếu đem nguyên si kỹ thuật hát opera ra ngoài thì rất ít khán giả biết thưởng thức thể loại nhạc đó. Mình hát kiểu đó là có thể bị đuổi vô. Ở Việt Nam hồi xưa khán giả khó tính lắm. Không đúng ý họ là họ đuổi thẳng vô! Khi Sơn học kỹ thuật opera rồi thì ra ngoài Sơn vẫn hát với giọng bình thường, giọng tự nhiên của mình. Sơn chỉ áp dụng kỹ thuật opera là lấy hơi. Tức là mình lấy hơi cho đầy phổi đầy thì mình hát câu dài hơn và không bao giờ bị hụt hơi. Khán giả họ không thấy  gì khác biệt với những ca sĩ khác hết. Chỉ khi lên cao thì Sơn mới sử dụng một chút kỹ thuật opera là mở cái vòm họng và cuốn họng thật lớn để mình có thể lên cao được.  Với hành trang âm nhạc đó thì Thế Sơn đã bắt đầu bước vào con đường ca nhạc từ năm 1985. Thế Sơn giữ được những kỉ niệm nào về những ngày đầu tiên bước lên sân khấu? Kỷ niệm thì nhiều lắm, vì ở Việt Nam Sơn đi hát mỗi đêm ở các tụ điểm và nhiều khi hát những suất buổi trưa ở nhà hát Hòa Bình nữa. Rất là nhiều kỷ niệm. Nhưng Sơn nhớ một kỷ niệm là hồi Sơn hát ở nhà hát Hòa Bình, lúc đang học ở trường nhạc. Bữa đó thì nhà hát bị cúp điện ngay lúc Sơn đang hát. Lúc đó Sơn mới ngẫu hứng, nói với khán giả: "Trong lúc chờ họ mở máy phát điện riêng thì Sơn hát opera cho quý vị nghe, quý vị chịu không?" Thì khán giả ở dưới thích lắm, đồng ý, vì thấy lạ. Sơn hát bài hình như là "Mười năm tình cũ" hay bài gì đó bằng kỹ thuật opera, tức là hát cho nó vang thì cả khán phòng mấy ngàn người đều nghe được. Sơn hát một vài câu thôi là họ thích lắm, vỗ tay rất là nhiều. Điểm lại thời gian hát ở Việt Nam từ năm 85 cho đến khi Thế Sơn sang Hoa Kỳ định cư, con đường đó đã đóng góp như thế nào, làm phong phú hơn ở những điểm nào cho sự nghiệp âm nhạc của Thế  Sơn? Thưa anh, trước tiên là mấy năm học ở trường nhạc cho mình vốn kiến thức, kỹ thuật opera để mình bổ sung ca nhạc nhẹ của mình ở ngoài. Đó là một cái may mắn và là một điều rất đáng quý đối với một người ca sĩ. Bên cạnh đó, trong 9 năm ở Việt Nam thì Sơn hát hằng đêm, hát mỗi ngày và có những ngày, vào những dịp lễ, Sơn hát một ngày tới 40 bài, từ sáng cho tới tối luôn, hát chỗ này, chỗ kia. Sơn hát miệt mài mỗi ngày trong suốt 9 năm. Đó là một hành trang rất đáng quý, là nơi để mình coi như là rèn luyện bản lĩnh sân khấu, để khi Sơn bước ra một xứ lạ, một chỗ mới là hải ngoại, thì không bỡ ngỡ, vững vàng để tiếp tục ngay con đường ca hát của mình. Thế Sơn sang định cư ở Hoa Kỳ từ năm nào? Từ tháng 3 năm 1994 tại California, San Jose. Khi sang Hoa Kỳ thì Thế Sơn có được đi hát trở lại ngay hay là cũng phải đợi một thời gian? Sơn rất may mắn là qua Mỹ 10 ngày sau Sơn hát liền ở vũ trường Lido tại San Jose. Hát cuối tuần thôi, nhưng cũng có đi show một vài nơi ở Stockton này kia. Sơn may mắn được hát liền tại San Jose. Khoảng vài tháng sau là Paris by Night bay lên San Jose để ký với độc quyền với Thế Sơn. Thế Sơn đã hát độc quyền cho Paris by Night hình như khoảng 20 năm phải không? Dạ đúng 20 năm. Tháng 7 năm 1994 là Sơn ký contract ( hợp đồng ) với Thúy Nga Paris by Night. Tới tháng 7 năm 2014 là đúng 20 năm, Sơn rời Thúy Nga để trở thành một một ca sĩ tự do.  Chúng tôi biết là khi ở Việt Nam thì Sơn cũng có hát khá nhiều trong những đoàn ca nhạc như là Hương Miền Nam. Sang đến Hoa Kỳ, hát trên sân khấu Paris by Night, Thế Sơn thấy có sự khác biệt nào nhiều không? Thời mà Sơn hát ở Việt Nam thì văn nghệ chưa phát triển mạnh như bây giờ, còn đơn sơ lắm và còn nhiều thiếu sót lắm, chưa có chuyên nghiệp, chưa có professional. Nhưng khi Sơn qua hải ngoại mà được vô ngay một trung tâm lớn nhất tại hải ngoại là Paris by Night, Sơn thấy một sự khác biệt rất lớn, đó là họ tổ chức chặt chẽ lắm, đúng giờ, đúng giấc và đâu ra đó. Họ có một team để lo từng chi tiết trong một chương trình thâu hình. Sơn được cộng tác với những vũ công của Hollywood, rồi có những bài hòa âm bởi những nhạc sĩ người Mỹ rất là hay. Sơn học hỏi được rất nhiều điều có lợi cho nghề nghiệp trong thời gian cộng tác với Paris by Night về trình diễn với dancers. Trong phòng thâu thì có những chi tiết mà mình chưa thấy ra, thì chị Tô Ngọc Thủy với anh Huỳnh Thi đã gợi ý hướng dẫn để Sơn sửa những cái đó. Đó cũng là một trong những điều mà mình học hỏi được từ Paris by Night. Hai mươi năm đó đã giúp cho Thế Sơn trở thành một ca sĩ kỳ cựu của Paris by Night. Sau đó Thế Sơn cũng đã chuyển qua hát cho trung tâm Asia. Thời gian đó có những thay đổi gì đặc biệt đối với con đường nghệ thuật? Khoảng cuối năm 2014 thì Thế Sơn cộng tác với trung tâm Asia, với nhạc sĩ Trúc Hồ, cho tới 2018. Thật sự thì ở Paris by Night thời gian đó phải nói là thời hoàng kim của nhạc hải ngoại và cũng vì đó mà sự cạnh tranh rất là khốc liệt. Ai cũng muốn vô nhữ
Trước khi trở thành một trong những vở opéra nổi tiếng nhất nhờ một giai điệu quen thuộc, quyến rũ và nóng bỏng, Carmen của nhà soạn nhạc người Pháp Georges Bizet từng bị một « cái dớp » : Bị khán giả la ó trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên, rồi tác giả đã qua đời sau vỏn vẹn 33 lần vở kịch được diễn xuất. Bizet chết trẻ và không hề biết  ông là cha đẻ của một tuyệt tác từng làm siêu lòng những nhạc sĩ bậc thầy như Tchaikovsky, Brahms. Riêng triết gia người Đức Friedrich Nietzsche thì từng thú nhận Carmen đã giúp ông trở thành một con người tốt hơn ! Carmen lấy cốt truyện từ một sáng tác cùng tên của nhà văn Pháp Prosper Mérimée. Vai nữ chính là cô Gypsy - bohémienne nóng bỏng, đầy ma lực quyến rũ chàng hạ sĩ Don José, để rồi rơi vào vòng tay của hiệp sĩ đấu bò Escamillo. Vở nhạc kịch mang tên cô gái làm nghề quấn thuốc lá trong một nhà máy ở Sevilla vùng Andalucia, miền nam Tây Ban Nha này do nhà hát Opéra Comique Paris đặt hàng với Georges Bizet và ông đã vất vả lắm mới hoàn tất tác phẩm này. Để chiều lòng ca sĩ chính, người thủ vai Carmen, Bizet đã phải viết lại đến 13 lần nhạc khúc hát nổi tiếng nhất trong vở kịch « L’Oiseau est un enfant rebelle ».   Con số 3 xui xẻo Cũng đã vất vả lắm giữa rất nhiều công việc để tìm kế sinh nhai, Bizet mới tìm được thời gian và một không gian thích hợp để sáng tác nhưng để rồi chỉ nhận lấy những lời chê bai và thu về những thất vọng sau buổi ra mắt công chúng Paris đầu tiên ngày 03/03/1875. Có lẽ ngày Ba Tháng Ba không mang lại may mắn cho Bizet. Bị giới phê bình bài xích tột độ, khán giả tẩy chay vì một nàng Carmen vượt ra ngoài lễ giáo, dám phản bội người tình, dám tự do yêu đương, không phù hợp với hình ảnh tuyệt vời của người con gái chung thủy, dịu dàng, nhà hát Opéra Comique thường xuyên vắng khách vì Carmen … Bizet vốn đã túng thiếu lại càng phải bươn chải nhiều hơn, soạn nhạc nhiều hơn để bù đắp vào lỗ hổng tài chính vì … Trái tim tan vỡ Làm việc đến kiệt sức, Georges Bizet qua đời sau một cơn đau tim ngày 03/06/1875, đúng vào buổi vở Carmen được trình diễn lần thứ 33, thọ 36 tuổi … Lại là những con số Ba định mệnh! Vào lúc Bizet trút hơi thở cuối cùng ở Bougival cách Paris hơn 20 km, thì trên sân khấu Opéra Comique, lần thứ 33 nhập vai Carmen, nữ diễn viên chính Célestine Galli – Marié ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, như bị ma nhập, bà la khóc và nói Bizet đã từ trần !   Vienna, bệ phóng cho một vở opéra của Pháp Vào lúc mà khán giả Paris khinh rẻ vở opéra tâm huyết của Georges Bizet thì Carmen lại được khán giả của thành Vienna, Áo, nồng nhiệt chào đón. Hình ảnh một phụ nữ yêu hết mình, không cho phép ai – kể cả người tình chà đạp, rẻ khinh, một người đàn bà không khuất phục trước cái chết … Sức mạnh của Carmen đã hoàn toàn chinh phục  giới phê bình và khán giả Vienna trong buổi ra mắt công chúng đầu tiên ngày 23 tháng 10 cùng năm 1875. Lại một lần nữa con số 3 xuất hiện. Từ đó Carmen chắp cánh bay xa từ Roma đến Luân Đôn và sang mãi đến tận New York hay Matxcơva, Saint Petersbourg … Nhà soạn nhạc người Nga Tchaikovski báo trước « chỉ trong 10 năm, Carmen sẽ là vở opéra ăn khách nhất hành tinh ». Nhạc sĩ dương cầm và cũng là một nhà soạn nhạc nổi tiếng của trường phái lãng mạn Johannes Brhams đã 20 lần đi xem và nghe tuyệt tác của Brizet. … Carmen đã nhiều lần được được dựng thành phim, mà một trong những người đầu tiên đưa tác phẩm này của Georges Bizet đến với nghệ thuật thứ Bảy là danh hài Charlie Charplin năm 1915. Bản La Habanera cũng đã vượt thời gian, cả ngàn lần, cả chục ngàn lần là nhạc nền cho các thí sinh tại các cuộc thi đấu quốc tế ở những thể loại từ vũ ba lê đến trượt băng nghệ thuật hay ba lê dưới nước … Từ năm 1994 bản nhạc này không thể thiếu trong mỗi lễ trao giải đua xe Công Thức 1. Biểu tượng của tự do và sức sống Làm sao có thể giải thích thành công này ? 150 năm sau buổi ra mắt đầu tiên vở kịch này, nhà phê bình Eric Emmanuel Schmidt giải thích : Không ai có thể dửng dưng với vở opéra Carmen, bởi vì đối với cô gái vùng Andalucia này, « không có Thượng Đế, quy củ nào trói buộc cô. Carmen hoàn toàn sống vì khoảnh khắc hiện tại, sống hết mình với tất cả nghị lực. Tác phẩm phẩm này kết thúc bằng cái chết của Carmen, nhưng tuyệt đối cô không hề nao núng hay lo sợ trước tử thần ». Carmen trước hết là hình tượng của một phụ nữ tự do, một tinh thần độc lập, một cá tính mạnh mẽ : dám yêu, dám giành quyền tự định đoạt cuộc đời. Khát vọng tự do đó là điều năm 1875 khán giả Paris, nhất là khán giả lui tới Opéra Comique của Paris chưa thể chấp nhận. Sự khắt khe đó với nhân vật chính Carmen đã tồn tại cho đến thập niên 1960. Diva Maria Callas đã bao lần nhập vai cô bohémienne không chung tình và tiếng hát, cách thể hiện của La Callas đến nay vẫn là độc nhất vô nhị, vậy mà bà không thể chấp nhận Carmen. Callas chỉ trích Carmen « hành xử như một người đàn ông đa thê. Nhưng phụ nữ thì không được phép có nhiều người tình ». Trong mắt nữ danh ca Maria Callas, « Carmen không thuộc về thế giới hoàn hảo ». Trái lại ca sĩ tenor Roberto Alagna người đã nhiều lần nhập vai hạ sĩ quan Don José, người tình bị Carmen phản bội, lại rất ngưỡng mộ các nhân vật được nhà văn Merimée và Bizet dựng lên. Với ông « Carmen là một tác phẩm hoàn hảo, bởi vừa phong phú về mặt hình ảnh, sắc màu, vừa khơi dậy rất nhiều tâm trạng của mỗi con người chúng ta, từ sự hào hứng đến nỗi lo sợ. Carmen là một tuyệt tác » Bạn diễn của nam danh ca ténor Roberto Alagna, nữ ca sĩ Elina Garania, đã nhiều lần thủ vai Carmen, nhận xét : « Thành công của vở opéra này chính là ở chỗ các tác giả, cả về lời thoại lẫn âm nhạc, đã khơi dậy nhiều cảm xúc khác nhau của con người. Ai thì cũng muốn tự do, ai cũng mưu cầu hạnh phúc, nhưng mỗi chúng ta lại có quan niệm riêng về hạnh phúc, về tự do. Ai cũng theo đuổi những giấc mơ, nhưng thực ra có mấy người biết được mình đang mơ về những gì ». 150 năm sáng tạo Đây cũng là điều đã đưa Carmen đến với những sân khấu rất xa lạ với khung cảnh của thành phố Sevilla miền nam Tây Ban Nha ban đầu : trên sân khấu ở Bắc Kinh hay Thượng Hải, nàng Carmen không phải là cô công nhân trong nhà máy cuốn thuốc lá, mà là một cô thợ giặt … Carmen đã chinh phục con tim của khán giả ở châu Mỹ Latinh khi vở opéra Georges Bizet từng dày công biên soạn được cải biên đôi chút để trở thành một vở Hip opéra, mang một chút phong thái của thể loại hip hop. Carmen cũng đã nhiều lần được các nhà soạn kịch tùy ý diễn giải, người thì quan niệm không thể để cho cô gái xinh đẹp và nồng cháy này chết thảm trong tay người tình Don José, vì những tràng pháo tay của khán giả khi vở opéra này hạ màn có thể bị ngộ nhận như một hành động cổ vũ cho các vụ bạo hành phụ nữ. Năm 2018 khán giả Ý trên sân khấu nhà hát ở Florence đã bàng hoàng thấy một Carmen giết chết người tình, vì một nhà soạn kịch đã dám thay đổi cả cốt truyện của Mérimée. Nhưng bất luận trong hoàn cảnh nào, Carmen vẫn là biểu tượng của tình yêu và tự do, của sức sống mãnh liệt và những con số 3 tưởng chừng là xui xẻo với vở ca nhạc kịch nổi tiếng nhất và tâm huyết nhất của Bizet thực ra chỉ là một chuỗi trùng hợp …
Tác giả người Úc Morris West (1916 – 1999) là một nhà văn tài năng xuất chúng. Ông đã viết hàng chục cuốn sách được đánh giá cao, đạt được thành công quốc tế và đã được dịch sang 27 ngôn ngữ. Sách của ông vẫn được tái bản, chủ yếu bằng tiếng Anh. Trong khoảng thời gian từ 1959 đến 1963, ông làm việc ở Vatican với tư cách là phóng viên cho tờ London Daily Mail. Kiến thức mà ông có được trong thời này này về hoạt động và nội bộ Vatican đã được phản ánh trong các tiểu thuyết của ông. Đặc biệt trong bộ ba tiểu thuyết « The Shoes of the fishman » (1963), « The Clowns of God » (1963) và « Lazarus » (1990). ----- ***** ----- Giorgio càu nhàu vẻ không vui rồi nhét tiền vào túi. « Mẹ tôi muốn tôi làm linh mục. Có lẽ bà ấy đúng. » - Linh mục cũng có vấn đề của họ, Kiril nhẹ nhàng nói. Ngay cả Giáo hoàng cũng có vài vấn đề, tôi nghe nói vậy. « Giáo hoàng ư ! Thật buồn cười ». Người bán báo thốt lên, vốn là người bán tin tức, nên cũng có quyền bình luận về nó. « Lần này họ đã thực sự làm chúng ta say mê. Một người Nga ở Vatican ! Có chuyện để kể cho anh nghe đây ! » Anh ta trải tờ báo lên bàn và chỉ tay một cách đầy ẩn ý vào bức chân dung Giáo hoàng chiếm gần nửa trang nhất. « Nói cho tôi biết liệu ông ta có phải là một người kỳ quặc để gán cho người Roma chúng ta không. Nhìn khuôn mặt đó và… » Anh ta ngừng lại và nhìn chằm chằm vào khuôn mặt râu ria của người mới đến. Giọng anh ta nhỏ dần, nhỏ dần. « Dio ! » Trông anh giống hệt ông ta. - Tôi là Giáo hoàng, anh nói với họ, và họ há hốc mồm nhìn anh như thể anh là một bóng ma. - Tôi không tin, Giorgio nói. Trông anh giống hệt ông ấy. Chắc chắn rồi ! Nhưng anh lại ngồi đây không một lira trong túi, uống cà phê, mà cà phê thì chẳng ngon chút nào. - Nó còn tốt hơn những gì tôi nhận được ở Vatican. ----- ***** ----- « Đôi giày của người ngư phủ – The Shoes of the fishman » Trên đây là trích đoạn từ tiểu thuyết « Đôi giày của người ngư phủ – The Shoes of the fishman » (1963) của nhà văn người Úc Morris L. West (1916-1999). Câu chuyện này cũng được đạo diễn Michael Anderson dựng thành phim vào năm 1968 với diễn viên Anthony Quinn trong vai giáo hoàng Kiril. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh đạt đến đỉnh điểm, Kiril Pavlovich Lakota, Tổng giám mục Lviv, Liên Xô, bất ngờ được trả tự do sao 20 năm trong trại lao động ở Siberia bởi cựu quản giáo Piotr Ilyich Kamenev. Ông được sai đến Roma và được phong hồng y. Rồi Giáo hoàng đột ngột qua đời. Và tiến trình mật nghị bầu giáo hoàng mới bắt đầu. Hồng y Lakota tham gia với tư cách là một cử tri. Sau bảy vòng bỏ phiếu không kết quả, Lakota bất ngờ được bầu làm giáo hoàng và ông miễn cưỡng chấp nhận, lấy hiệu là Kiril. Trong khi đó, thế giới đang bên bờ vực chiến tranh hạt nhân do mối thù Trung-Xô, càng trở nên trầm trọng hơn bởi nạn đói do mất mùa lan rộng ở Trung Quốc. Tối hôm sau khi đắc cử, giáo hoàng Kiril lẻn ra khỏi Vatican để vi hành thành Roma trong trang phục của một linh mục bình thường. Và xảy ra chuyện như ta thấy ở trên. Trong những năm tháng trong trại, Kamenev là người thường xuyên thẩm vấn giám mục Kiril Lakota. Vào cuối thời gian cải tạo, Kamenev đã được thăng tiến và quyết định bí mật thả Kiril với ý định đòi tiền chuộc vào một thời điểm trong tương lai. Khi Kiril Lakota trở thành Giáo hoàng, Kamenev đã liên lạc với ông và nhờ giúp đỡ về các vấn đề quốc gia. Nhờ thế, giáo hoàng đắc cử trở về Liên Xô trong trang phục thường dân để gặp riêng Kamenev và chủ tịch Bành của Trung Quốc để thảo luận về cuộc khủng hoảng đang diễn ra. Giáo hoàng Kiril nhận ra rằng nếu những bất ổn ở Trung Quốc tiếp diễn, cái giá phải trả có thể là một cuộc chiến tranh tàn phá thế giới. Trong lễ đăng quang, Kiril đã cởi bỏ vương niệm của mình và cam kết bán tài sản của Giáo hội để giúp đỡ người dân Trung Quốc, trước sự hân hoan của đám đông tại Quảng trường thánh Phê-rô. Hành động mang tính cách mạng này mang đến cho thế giới một cơ hội hòa bình mới và quyết định của Kiril được quốc tế hoan nghênh. Tiểu thuyết không hẳn là câu chuyện hư cấu. Thực tế, « Đôi giày của người ngư phủ » đã tường thuật lại những gì xảy ra ở Vatican và thế giới trong những năm 1960. Thời điểm diễn ra Công đồng Vatican II (1962-1965), làm thay đổi sâu rộng Giáo hội Công giáo và thế giới chìm dưới bóng của cuộc chiến tranh lạnh với mối đe dọa hạt nhân. Cuốn tiểu thuyết đã tiên báo cho vị giáo hoàng người Ba Lan Karol Wojtyla – Gioan-Phaolô II. Người lên ngôi vào ngày 16 tháng 10 năm 1978. The Clowns of God – Les gouffons de Dieu – Những chú hề của Chúa (1981) Tiếp theo thành công của cuốn đầu tiên lấy bối cảnh Vatican và câu chuyện xung quanh Giáo hoàng, Morris West tiếp tục phần hai. Lần này, giáo hoàng của ông là một người Pháp 65 tuổi, ông cũng phải đối diện với một cuộc khủng hoảng hạt nhân nhưng trong bối cảnh khác. Câu chuyện mở đầu cũng bằng sự ra đi của một giáo hoàng, nhưng không phải là một tang lễ mà là một sự thoái vị. Giáo hoàng Gregory XVII tự nhận mình được Chúa báo cho biết là thế giới sắp tận thế. Các hồng y ở Vatican tin rằng ông bị điên và đe dọa tuyên bố ông mất trí nếu ông không chịu từ chức. Ngài đã phải ký vào văn kiện thoái vị trước sự chứng kiến của hồng y đoàn và chúc họ may mắn trong việc tìm kiếm một người tốt nhất để đeo chiếc nhẫn ngư phủ. Jean Marie Barette, giờ đây đã là giáo hoàng danh dự, lao vào cuộc hành trình đơn độc để tìm cách ngăn chặn thế giới rơi vào vòng xoáy hỗn loạn và cuồng bạo của ngày tận thế. Với tài kể chuyện khéo léo, Morris West đã xây dựng sự hồi hộp của chuyến phiêu lưu, bằng cách đặt bên cạnh cựu giáo hoàng người bạn thân Carl Mendelius. Nhưng liệu người này có đáng tin hay không ? Ông có phải là điệp viên của CIA và sẽ đóng vai trò gì ? Tiểu thuyết của West nổi bật giữa nhiều tác phẩm hư cấu ngày nay nhờ vào những nhân vật tử tế, tốt bụng và mối quan hệ mà ông xây dựng giữa họ chính là trọng tâm của tác phẩm này. Trong một cảnh cảm động, cậu con trai đang tuổi đại học của Mendelius thú nhận mình không còn giữ đạo nữa. « Cha rất tiếc khi nghe điều đó, con trai ạ » cha cậu đáp. « Nhưng cha mừng vì con đã nói với cha. » « Không ai, cha cậu tiếp tục, có thể sai khiến lương tâm của người khác », và nói thêm, « Nhưng hãy nhớ một điều, con trai ạ. Hãy giữ cho tâm trí con luôn rộng mở, để ánh sáng luôn chiếu rọi. Hãy giữ cho trái tim con luôn rộng mở để tình yêu không bao giờ bị ngăn cản. » West có niềm tin lớn lao vào sức mạnh của đức tin, nhưng không mấy khoan nhượng với những tranh cãi về học thuyết và phẩm trật nơi tôn giáo có tổ chức. Trong thời đại mà các giáo hội truyền thống đang mất dần giáo sĩ và các cộng đoàn, những phân tích đạo đức của ông về hệ thống phẩm trật của giáo hội lại rất đúng lúc. Lararus (1990) Trong phần ba, Morris West kể về Giáo hoàng Leo XIV hư cấu, một người bảo thủ kiên định, sản phẩm hoàn hảo của hệ thống phẩm trật Vatican. Với ngài, các học thuyết và tín điều quan trọng hơn các tiêu chuẩn con người. Ít nhất là cho đến khi ngài gặp vấn đề tim mạch và phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Bác sĩ phẫu thuật chính, người Do Thái, đã cảnh báo Giáo hoàng rằng một bệnh nhân cận kề cái chết có thể bước ra khỏi ca phẫu thuật với những quan điểm khác, thậm chí là những tính cách khác. Trong khi Giáo hoàng bước vào cuộc chiến sinh tử, thì bên ngoài những cuộc chiến khác cũng diễn ra một cách khốc liệt. Các hồng y âm thầm chuẩn bị cho một cuộc bầu giáo hoàng mới cho Giáo hội. Bên trong và bên ngoài bệnh viện, các nhân viên tình báo Mossad của Israel tăng cường an ninh, vì một tổ chức khủng bố Hồi giáo có tên « Thanh Gươm Hồi giáo » muốn lợi dụng cuộc phẫu thuật này để ám sát giáo hoàng. Tuy nhiên, Giáo hoàng Leo XIV ra khỏi phòng giải phẫu với cái nhìn ôn hòa hơn về đời sống tôn giáo trong Giáo hội. Ngài phải bước vào cuộc chiến khác khi đảo ngược lại mọi đường lối trước đây và ngài phải đối mặt với một Giáo hội mà ngài không còn nắm quyền điều hành. Căng thẳng và âm mưu, xung đột nội bộ và các mối đe dọa bên ngoài, tất cả cùng nhau gây ra một giáo hoàng suy yếu và một Giáo hội dễ bị tổn thương. Các cuộc đấu tranh của đức Leo XIV đề cập đến những chủ đề luôn luôn thời sự và phù hợp cho đến ngày hôm nay : vấn đề độc thân linh mục, vị trí của phụ nữ trong Giáo hội, kiểm soát sinh sản và phá thai. Những tiểu thuyết lấy bối cảnh Vatican của Morris West không chỉ là những câu chuyện trinh thám hư cấu, mà khi đọc qua, độc giả thấy được những sự kiện và những nhân vật đã xảy ra và dần được hiện thực. Chúng được kiểm chứng qua các giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Benedicto XVI và Phanxicô. Đó chính là sự tài tình của nhà văn người Úc khiến chúng ta phải tìm đọc những tác phẩm của ông.
Ngày 15/08/2021, quân đội Mỹ rút đi, phe Taliban giành lại chính quyền ở Afghanistan, hai mươi năm sau khi bị lật đổ. Sau những năm tháng tương đối tự do, người dân tại quốc gia Trung Á này lại sống dưới một chế độ vô cùng hà khắc, nhất là đối với nữ giới: Trẻ em gái bị loại khỏi giáo dục trung học, phụ nữ khi ra ngoài phải che kín từ đầu đến chân, thậm chí trên đường phố không được nói chuyện với nhau. Họ gần như bị xóa bỏ khỏi không gian công cộng. Cuộc sống tăm tối của phụ nữ Afghanistan ngày nay đã được nữ phóng viên nhiếp ảnh người Pháp Sandra Calligaro ghi lại trong một phóng sự ảnh được trưng bày gần đây tại Pháp. Năm 2007, Sandra Calligaro mới 25 tuổi và đang làm thêm tại một quán bar trong thời gian học nghệ thuật và nhiếp ảnh. Ước mơ của cô là trở thành một phóng viên kỳ cựu và đưa tin về các quốc gia đang có xung đột. Khi biết một người bạn phóng viên sẽ đi Afghanistan, Sandra đã xin đi theo. Một tháng rưỡi sau, cô phóng viên trẻ người Pháp đặt chân đến Kabul. Rồi vì say mê đất nước này, Sandra đã sống ở đó mười năm, trước khi trở lại Paris, nhưng vẫn thường xuyên đi lại giữa Pháp và Afghanistan. Người nữ phóng viên nhiếp ảnh này đã quyết định ghi lại cuộc sống thường nhật của người dân Afghanistan, nhất là của phụ nữ, dưới ách thống trị của Taliban. Sau khi đoạt Giải thưởng Françoise Demulder ( tên của phóng viên nhiếp ảnh chiến trường người Pháp ) vào năm 2024, Sandra Calligaro đã một lần nữa tham gia triển lãm tại Liên hoan ảnh báo chí quốc tế Visa pour l'image ở thành phố Perpignan, miền nam nước Pháp, đầu tháng 9/2025. Loạt ảnh được trưng bày có tựa đề “Afghanistan: Dưới Bóng Cờ Trắng”. Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Visa pour l’image ngày 03/09/2025, Sandra Calligaro cho biết:  “Tôi đã làm việc ở Afghanistan hơn 15 năm, với thời gian sống ở đó là khoảng mười năm. Giờ đây, tôi vẫn thường xuyên đi lại giữa hai nước Pháp và Afghanistan. Cho đến bây giờ, tôi luôn muốn ghi lại những hình ảnh về toàn bộ xã hội Afghanistan, cả nam lẫn nữ. Nhưng đúng là từ khi Taliban trở lại, tôi nhấn mạnh hơn một chút về những người phụ nữ đang sống một cuộc sống thường nhật như bị giam cầm. Đó là điều cần thiết và quan trọng.  Chính sách đàn áp đã được thực hiện từng bước khá nhanh chóng. Khi Taliban trở lại nắm quyền vào năm 2021, không phải mọi thứ đều bị dừng lại cùng một lúc. Đầu tiên, các trường học bị đóng cửa đối với các bé gái đã qua tuổi dậy thì. Sau đó phụ nữ bị cấm vào các công viên, rồi các tiệm làm đẹp cũng bị đóng cửa. Hàng loạt biện pháp như vậy đã được áp dụng trong nhiều tháng sau đó. Trước sự đàn áp này, trước những sắc lệnh ngày càng hạn chế quyền tự do, tôi muốn cho thấy phụ nữ Afghanistan đang kháng cự như thế nào.” Tuy Afghanistan nay sống dưới chế độ hà khắc của Taliban, nhưng do cũng là phụ nữ nên Sandra Calligaro có phần nào dễ dàng tiếp cận những người mà nay hầu như chỉ sống trong không gian hạn hẹp của những căn nhà, căn hộ: “Hiện nay, làm việc ở Afghanistan hay đi đến nước này là rất khó khăn. Nhưng mặt khác, vì tôi là phụ nữ và hầu hết phụ nữ nay phải sống trong nhà, cho nên gặp gỡ trò chuyện với họ thực sự là khá dễ dàng. Hầu hết các bức ảnh chúng ta thấy trong triển lãm này đều được chụp trong nhà.  Tôi muốn cho thấy sự phân đôi của xã hội Afghanistan thông qua các bức ảnh, với một không gian công cộng, không gian bên ngoài chủ yếu dành cho đàn ông và một không gian bên trong, nơi mà phụ nữ phần nào được tự do hơn một chút vì không bị quấy rầy. Những người phụ nữ, những cô gái trẻ mà tôi gặp đều có những cảm xúc khác nhau, vừa chán nản, vừa cam chịu và nhưng cũng vừa hy vọng. Đó chính là điều tôi muốn thể hiện trong loạt ảnh này: Trong nỗi tuyệt vọng tột cùng, chúng ta vẫn thấy rất nhiều hy vọng, hoặc ít nhất không chỉ là sự cam chịu, mà là rất nhiều sự chống chọi, rất nhiều sự thích nghi. Tôi muốn ghi lại bằng hình ảnh tất cả những điều đó.” Minh họa cho hai không gian cách biệt này là một bức ảnh của Sandra Calligaro chụp một nhà hàng truyền thống ở Shar-e Naw, trung tâm Kabul, vào giờ ăn tối ngày 12/04/2025. Trong nhà hàng này, phụ nữ không được phép ngồi trong phòng ăn chính. Đàn ông chỉ được phép ngồi cùng con gái chưa đến tuổi dậy thì.  Bị cấm đoán, bị hạn chế đủ điều, sống như những cái bóng lặng lẽ, tâm trạng của phụ nữ Afghanistan hiện nay ra sao, Sandra Calligaro kể lại: “Tôi nhớ đến một câu mà một cô gái trẻ từng nói với tôi: “Sandra, trạng thái tâm lý bình thường của người dân Afghanistan hiện nay đó là trầm cảm. Đó là điều mà cô cảm nhận trong cuộc sống thường nhật của người dân Afghanistan. Nhưng không phải vì chán nản mà họ không làm gì cả. Họ không thể ngừng sống, họ vẫn đấu tranh cho những điều dù nhỏ nhặt. Đối với tất cả những người mà tôi đến gặp, được chụp ảnh hay làm nhân chứng là điều rất quan trọng.  Họ muốn tôi ghi lại sự khắc nghiệt, khó khăn trong cuộc sống hàng ngày của họ, cùng với tất cả những hình thức kháng cự dù là nhỏ nhoi để họ tiếp tục sống sót, với những lớp học đang được thành lập, những tiệm làm đẹp đang mở cửa lại. Thực sự điều rất quan trọng đối với họ là được gặp tôi và để tôi cho thấy họ vẫn đang cố gắng để sống. Tôi nghĩ việc phơi bày sự khắc nghiệt trong cuộc sống thường nhật của họ, cũng như tất cả những hình kháng cự nhỏ nhặt đó thực sự mang lại cho họ một chút hy vọng để tiếp tục chiến đấu, tiếp tục sống, và cảm thấy bớt 'vô hình' hơn một chút.” Ngay cả những thiếu nữ cũng không cam chịu với cuộc sống thiếu vắng học đường. Trong một bức ảnh của Sandra Calliaga, Fatima, 17, ở Kabul, đang theo học một lớp trên mạng qua smartphone. Những thiếu nữ khác thì lén lút đến các lớp học tại gia. Sandra Calligaro đã đến một trong những lớp học này, nơi mà các “cô giáo” chỉ lớn hơn học trò có vài tuổi. Đó là những cô gái trẻ nay không còn được tiếp tục học đại học, hoặc không được đi làm cho nên muốn truyền đạt kiến thức cho những em gái cũng không được cắp sách đến trường. Sandra Calligaro giải thích:  “Đây là những lớp học hoàn toàn không chính thức. Chính quyền Taliban biết là có những lớp học như vậy, nhưng họ không biết gì về những môn được dạy, cho nên họ để yên, mặc dù thỉnh thoảng họ cũng đến kiểm tra. Khi bị kiểm tra thì các cô giáo bảo họ chỉ dạy may vá, thêu thùa, dạy Kinh Coran, dạy các môn về tôn giáo, giống như ở các trường Hồi Giáo.  Đó là điều thực sự rất, rất đau đớn đối với những người phụ nữ thuộc thế hệ đã trải qua chế độ Taliban đầu tiên vào những năm 90 và nay chứng kiến ​​lịch sử lặp lại với con gái mình. Thật khó khăn cho những người mẹ đó và tôi nghĩ cũng rất khó khăn đối với những cô gái trẻ lớn tuổi hơn một chút, những người trong 20 năm trước đó đã được hưởng một chút tự do, rồi đột nhiên, cánh cửa đóng sầm lại trước mắt họ. Trong 20 năm, họ đã được thoáng thấy một thế giới khả dĩ sống được và đột nhiên, mọi thứ dừng lại, từ học tập đến sinh hoạt giải  trí. Vào năm 2001, chế độ Taliban đã bị lật đổ nhờ có sự can thiệp mạnh mẽ của quốc tế, nhưng bây giờ tình hình không giống như trước và rõ ràng là quốc tế sẽ không quay lại đó. Thật không may là thế giới đang trở nên tồi tệ hơn. Điều thực sự phức tạp với Afghanistan, đó là dầu sao Taliban vẫn là người Afghanistan, đang ở trong nước họ và tôi nghĩ rằng rất khó mà quốc tế can thiệp vào, nhất là vì Taliban không hề có ý đồ bành trướng, họ chỉ làm những gì họ muốn trong đất nước của họ.” Hậu quả của chính sách mà phe Taliban thi hành từ 4 năm qua được thể hiện qua một bức ảnh mà Sandra Calligaro vào sáng sớm tại một vùng quê, trên đường, từ người đi bộ, đi xe đạp, đi xe gắn máy, cho đến người bán rong đều là đàn ông, không có một bóng dáng phụ nữ nào. Không chỉ sống dưới sự hà khắc của chế độ Taliban, các em gái ở Afghanistan nay còn chịu những hủ tục của một xã hội vẫn còn lạc hậu. Sandra Calligaro đã ghi lại hình ảnh của cô bé Nazanin đang ngồi trong góc nhà, tay ôm chặt chú gấu bông. Một giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên má cô. Bố mẹ đã gả cô cho một người đàn ông cô không yêu, hiện đang sống ở New Zealand. Cô rất sợ phải rời xa nhà và sống trong sự kiểm soát của gia đình chồng, giống như mẹ của cô trước đây. 
Charles Aznavour có vị trí đặc biệt trong cuộc đời của họa sĩ Hom Nguyen và mẹ của ông, một phụ nữ Việt đến Pháp sau năm 1954. Họ đều là người nhập cư "với những khó khăn, nhưng có một khát khao, một chút điên rồ, giống như Aznavour", ca sĩ gốc Armenia. Năm 2024, chính Hom Nguyen vẽ bộ tem cây cổ thụ làng nhạc Pháp nhân 100 năm ngày sinh. Ngày 05/10/2025, toàn bộ bẩy tác phẩm, dụng cụ sáng tác của nghệ sĩ sinh năm 1972 được đưa vào bộ sưu tập cố định của Bảo tàng Bưu Chính (Musée de la Poste). Bưu điện cũng giữ một vị trí quan trọng đối với mẹ của Hom Nguyen. Ông kể lại trong cuốn tự truyện Ma vie d’Hom (Cuộc đời của Hom, NXB Robert Laffont, 2025) : “Thư từ là sợi dây liên lạc duy nhất giữa bà với gia đình ở Việt Nam. Mỗi tháng một lần, bà viết thư cho anh trai trên những tờ giấy rất mỏng để tiết kiệm bưu phí…” (tr. 95). “Mẹ” là người “truyền cảm hứng” cho thành công của một Hom Nguyen ngày nay. Bà đẹp, là người nhập cư không nói tiếng Pháp, làm mẹ đơn thân, bà bươn chải để nuôi con nhưng số phận lại buộc bà nằm liệt giường quá sớm, khiến cậu con trai trở nên “già trước tuổi”, phải nói dối và dối lòng mình để tự “vẽ” ra một điều kiện sống bình thường như những người khác : (…) Tôi từng đến những bữa tiệc nơi những người giàu có hơn tôi kể về cuộc sống tuyệt vời của họ. Tôi từng khốn khổ, nhưng tôi không muốn thừa nhận ; tôi ghét bị phán xét. Vì vậy, tôi đã phải dùng đến những lời nói dối, chỉ để tồn tại như họ”. (tr. 85) Hội họa đã giúp Hom tìm được tự do, tìm được khoảng trời riêng để trút tâm sự, để thoát khỏi thế giới thực. Từ tự học, mày mò phát minh những kỹ thuật mới, không ngại mạo hiểm, Hom Nguyen tạo được phong cách riêng “táo bạo, giàu cảm xúc”, “nổi tiếng với phong cách bốc đồng và những bức chân dung khổ lớn, nắm bắt được chiều sâu cảm xúc của con người thông qua màu sắc”, theo đánh giá của trang Artsper. Và để có được thành công này, theo Hom : “May mắn không tồn tại ; tôi là sự kết hợp của ý chí, tham vọng và sự chăm chỉ”. (tr. 180) RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn họa sĩ Pháp gốc Việt nhân dịp anh ra cuốn tự truyện La Vie d’Hom (Cuộc đời của Hom). RFI : Trong cuốn tự truyện La vie d’Hom (Cuộc đời của Hom), anh không ngại kể lại những khó khăn, vất vả, kể cả những “tội lỗi” nhỏ thời niên thiếu. Nhưng chính những trải nghiệm và cuộc sống đó đã làm anh nhân văn hơn, dễ thấu hiểu những người yếu thế hơn. Trong cuốn tự truyện, anh cũng trích dẫn một câu nói của mẹ anh là “phải tự vạch con đường cho mình và đừng dừng lại”. Anh đã tìm con đường đó như thế nào ? Hom Nguyen : Trước tiên, tôi nghĩ là chúng ta không thể dừng lại. Tôi bắt đầu từ nguyên tắc đó, với lời khuyên của mẹ tôi : “Hãy tự vạch con đường cho mình và đừng dừng lại, con bị dồn vào chân tường nhưng con vẫn phải đi, phải luôn tiến lên phía trước”. Tôi nghĩ mẹ tôi nói đúng bởi vì nếu do dự thì chúng ta bị dừng lại. Và tôi đã không do dự. Mẹ tôi và tôi đã trải qua quá nhiều khó khăn nên đối với bà, việc tiến lên phía trước và không bao giờ dừng lại là điều thực sự quan trọng. Mẹ tôi đã truyền cho tôi khát khao và động lực đó, vượt qua khuyết tật của bà, bởi vì bà bị liệt nửa người. Bà đến Pháp lành lặn, sau đó bị tai nạn ô tô. Có lẽ qua tai nạn đó, qua những vết thương của bà, bà đã truyền cho tôi khát khao được tiến xa hơn nữa, đưa mẹ tôi và tôi đến những nơi khác, như kiểu để có thể thoát khỏi cuộc sống lúc đó. Khi có một người mẹ khuyết tật như mẹ tôi, đáng tiếc là bà không còn nữa, thì từ rất nhỏ, mới chỉ 6-7 tuổi, tôi đã biết là có nhiều việc phải làm. Thế là khi mới 10, 12 tuổi, tôi đã trưởng thành hơn những đứa trẻ khác bởi vì tôi chăm sóc mẹ. Tôi làm những việc như tháo túi chất thải để đổ vào nhà vệ sinh, tôi xoay người mẹ để vệ sinh hàng ngày cho bà, tôi giúp mẹ ăn uống. Tất nhiên là chúng tôi có một điều dưỡng viên do Nhà nước giúp đỡ, nhưng buổi tối thì tôi ở bên chăm sóc mẹ. Cho nên tôi đã trưởng thành rất sớm, việc đó giúp tôi tiến nhanh hơn, hiểu cuộc sống sớm hơn những người khác ngay khi còn rất trẻ. RFI : Chính những khó khăn đó đã thôi thúc anh đến với vẽ và anh đã tìm thấy một thế giới khác thông qua hội họa. Điều gì đã thôi thúc anh biến hội họa thành sự nghiệp nghệ thuật ? Hom Nguyen : Tôi nghĩ hội họa giúp tôi giải phóng bản thân, được mơ mộng, được kể một câu chuyện, bởi vì tôi không hẳn “văn hay chữ tốt”, tôi không đọc nhiều lắm. Vẽ là một lợi thế đối với tôi, bởi vì đó là cách tôi thể hiện bản thân theo kiểu mộng mơ, nói một chút về những gì tôi cảm thấy qua những gì được nghe, được thấy và tự nhủ rằng đó cũng là một kiểu thoát ly để nhìn thấy một thế giới tốt đẹp hơn thông qua hội họa. Và thế là ở nhà, tôi vẽ ! Ở trường, tôi cũng vẽ ! Tôi khá mộng mơ bởi vì cuộc sống ở nhà đã rất, rất khó khăn, cho nên ở trường, tôi giải phóng bản thân, không thực sự nghĩ về bất cứ điều gì khác, thậm chí có thể nói rằng tôi gần như thoát khỏi nó. Tôi tách được khỏi nó. Tôi vẫn luôn như vậy. Việc đó giúp tôi tồn tại, để tự nhủ rằng có thể làm điều gì đó trong cuộc đời mình. Qua hội họa, tôi cảm thấy như mình đang tìm lại được một niềm hạnh phúc nào đó, bởi cuộc sống ở nhà vốn dĩ rất khó khăn. Không hẳn là tôi chăm học hơn, nhưng tôi chắc chắn là cần thay đổi cuộc sống hàng ngày nhờ vẽ. Tôi nghĩ mình vẫn luôn làm như vậy, từ lúc còn nhỏ. RFI : Khi còn nhỏ, anh lui tới bệnh viện nơi mẹ anh được điều trị thường xuyên đến nỗi mỗi khi rời khỏi đó, anh cảm giác như được tự do và được giải thoát ! Hom Nguyen : Đúng vậy. Tôi thường xuyên đến bệnh viện nơi mẹ tôi điều trị. Từ khi còn rất nhỏ, tôi vẫn tới đó với dượng tôi, vào mỗi cuối tuần, vào buổi tối sau giờ học. Việc rời khỏi bệnh viện, theo một cách nào đó, cho phép tôi tự do. Sống ở bệnh viện là một gánh nặng bởi vì bệnh viện thường không dành cho trẻ em. Và chứng kiến ​​cảnh mẹ mình bị thương trong một vụ tai nạn xe hơi, không có gì kinh hoàng hơn việc nhìn thấy bà trong tình trạng nguy kịch, nằm trên giường bệnh, không thể cử động. Bị liệt nửa người có nghĩa là từ xương chậu đến bàn chân, hoàn toàn không có cảm giác gì. Vậy nên, khi còn nhỏ, tầm 6, 7, 8, 10 tuổi, đến bệnh viện là đồng nghĩa với việc gặp mẹ sau hết ca phẫu thuật này đến ca phẫu thuật khác, ghép da ở mông để giúp bà có được khuôn mặt ổn hơn. Điều đó không dễ dàng gì ! Đối với tôi, bệnh viện khắc nghiệt đến mức khi ra khỏi đó, tôi cần tìm sự giải thoát ở một điều gì đó khác. Vẽ giống như một lối thoát. Tôi giải phóng bản thân khỏi rất nhiều thứ. Tôi cần thay đổi thế giới của mình và nói về con người tôi, hoặc có thể là những điều khác. Vẽ và hội họa là tự do thực sự đối với tôi. RFI : Và sau khi trải qua những tháng năm khó khăn đó, anh đã tình nguyện dạy vẽ cho nhiều bệnh nhân nhi ở Bệnh viện Pitié-Salpêtrière, anh thấy hình ảnh của mình qua những đứa trẻ đó ! Hom Nguyen : Đúng vậy, tôi đã trải qua tất cả những năm tháng đó. Một ngày nọ, có người hỏi tôi rằng tôi có muốn dạy vẽ cho trẻ em không, một số em bị rối loạn nhân cách, bị tâm thần phân liệt, ví dụ có một câu bé nhưng tự nhận tên là Stéphanie (tên của con gái), tôi nghĩ chắc cậu bé có chút thay đổi trong tâm trí. Trong chừng mức nào đó, tôi thấy mình cũng từng giống như vậy. Lúc học tiểu học, tôi thấy các bậc phụ huynh đến trường đón con. Mẹ tôi không đến trường. Và tôi đã nói dối vì muốn bảo vệ bản thân và mẹ tôi. Tôi nói rằng mẹ tôi là thợ phụ trong một tiệm làm tóc, trên thực tế bà bị tàn tật nặng, nằm ở nhà. Lời nói dối đó đã giải phóng tôi. Và hội họa thực sự đã cho tôi sự tự do để mơ về những điều khác ngoài cuộc sống hiện tại của tôi ở nhà. Tôi tìm thấy điểm tương đồng ở những đứa trẻ này. Và khi thấy mình ở đó, cùng với giáo sư chuyên ngành Cohen, phụ trách khu vực dành cho thanh thiếu niên của Bệnh viện Pitié-Salpêtrière, tự nhiên tôi muốn giúp các em và giúp cả chính mình. Và suốt năm đó, tôi đã dạy vẽ, rất nhiều em được cấp bằng tốt nghiệp, bởi vì đó là một cơ hội tuyệt vời để giúp đỡ chúng tôi, cho họ, và tôi nghĩ là cho cả tôi nữa. Trải nghiệm đó đã thực sự giúp tôi được mở mang hơn, giúp tôi hiểu những người trẻ tuổi khác. Họ cũng hiểu được những điều khác thông qua tranh của tôi, cũng như tranh của họ. RFI : Anh cũng còn có những dự án khác ở Việt Nam nữa bởi vì anh cũng đã nhắc đến Việt Nam trong cuốn sách ? Hom Nguyen : Vâng, tôi có những dự án khác và chúng vẫn đang được giữ kín. Thực ra, có rất nhiều, rất nhiều triển lãm ngẫu nhiên ở Việt Nam. Tôi cũng có cơ hội được lên trang bìa và một bài trong tạp chí của Vietnam Airlines, hãng hàng không quốc gia Việt Nam. Điều đó rất quan trọng đối với tôi, giúp nhắc lại tuổi thơ của tôi, về chia sẻ, về chúng ta, những người Việt Nam. Và tôi rất, rất tự hào về điều đó. Tất nhiên, sẽ có những triển lãm khác ở Việt Nam. RFI : Gần cuối tự truyện, anh viết “Hom ngày nay muốn sống trong bình yên, thanh thản. Hạ cánh nghĩa là tìm thấy niềm vui trong những điều giản dị nhất. Dành thời gian cho con cái”. Nổi tiếng thế giới, công tác thường xuyên, liệu có lúc nào anh tự hỏi : Mình đang ở đâu ? Hoặc là mình cần một lịch trình làm việc bớt áp lực hơn hoặc chậm lại để tập trung vào bản thân hoặc những dự án thiện nguyện khác, dành thêm thời gian cho các hiệp hội ? Hom Nguyen : Tôi nghĩ là mình luôn có thời gian. Tôi dành thời gian cho nhiều việc. Tôi từng lùi lại một bước nhưng không hẳn tận hưởng được việc đó. Tôi nghĩ mình đang dành thời gian để hình thành ý tưởng và nhất là để trau chuốt chúng. Dĩ nhiên, tôi vẫn đang tham gia nhiều triển lãm và dự án với trẻ em, đặc biệt là trẻ em ở Việt Nam, cho đến ngày hôm nay. Không phải là tôi kìm hãm lại mà thực ra là tôi đang dành thời gian để hiểu rõ hơn về các dự án của mình. Năm nay là một năm then chốt. Tôi sẽ phải chuẩn bị cho rất nhiều triển lãm quốc tế, chắc chắn là cả ở Việt Nam. Và tôi sẽ chỉ tập trung vào việc chuẩn bị chúng tốt hơn. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn họa sĩ Hom Nguyen.
Nhắc đến Philippe Conticini, giới chuyên ngành ẩm thực nghĩ tới ngay một trong những bậc thầy của nghề làm bánh ngọt : người từng được sách hướng dẫn Gault & Millau trao tặng danh hiệu Thợ làm bánh ngọt xuất sắc nhất nước Pháp vào năm 1991. Thế nhưng ít ai biết rằng, ông từng khởi nghiệp cùng với người anh trai Christian Conticini và cả hai ban đầu nổi tiếng nhờ nấu các món mặn. Sau một thời gian dài làm việc ở nước ngoài, chủ yếu tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, Philippe Conticini trở về Pháp lập công ty kinh doanh kể từ năm 2012, khai thác thương hiệu mang tên mình (Maison Conticini) và nổi tiếng trên thế giới nhờ sở trường « tái thể hiện » những kiểu bánh ngọt Pháp kinh điển : bánh ngàn lớp mille-feuilles, bánh táo tatin úp ngược, bánh su nhồi kem (éclair hay cream puffs), bánh hạnh nhân macaron, bánh bông lan madeleine, bánh nhân hạt dẻ Paris-Brest ….. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Philippe Conticini trước hết cho biết hình ảnh của nghệ thuật bánh ngọt Pháp trong mắt thực khách ở nước ngoài. Philippe Conticini : Vâng, bánh ngọt Pháp tự nhiên nổi tiếng là phức tạp cầu kỳ, phần lớn cũng vì cách làm bánh đòi hỏi nhiều kỹ năng và tay nghề, nhất là những kiểu bánh có từ nhiều thế kỷ qua. Điều này khá quan trọng, vì khi bạn muốn tái tạo một kiểu bánh ngọt « kinh điển », đã trở thành một phần của ẩm thực Pháp.  Mỗi thợ làm bánh cũng nên biết đôi chút về lịch sử và truyền thống của kiểu bánh này, nắm vững các kỹ thuật cơ bản rồi sau đó mới có thể thích nghi, điều chỉnh lại theo cách làm của mình. Hầu hết các kiểu bánh được Philippe Conticici làm lại đều có khoảng 200 năm tuổi đời, chẳng hạn như kiểu bánh ngọt Saint-Honoré, từng được ông Chiboust tạo ra ở Paris vào năm 1840. Cửa hàng của ông nằm trên đường Saint-Honoré, cho nên ông lấy tên này để đặt cho bánh ngọt của mình. Saint-Honoré cũng là vị thánh phù hộ cho nghề làm bánh, nói chung. Về phần Philippe Conticici, ông cho biết vì sao ông đã chọn làm lại kiểu bánh này ? Philippe Conticini : Đây là một câu hỏi quan trọng vì nó phản ánh phần lớn sự nghiệp đời tôi. Trên thực tế, từ khi mới vào nghề, tội luôn thử nghiệm tìm tòi và có lẽ cũng vì thế, giới chuyên ngành thường xếp tôi vào thế hệ « tiên phong » thích khám phá những cách làm mới. Tôi thành danh vào năm 1995 (32 tuổi) trong làng ẩm thực quốc tế nhờ tạo ra các món ăn trong verrines, tức là hội tụ tất cả các thành phần món ăn trong một chiếc ly nhỏ (verrines), món ăn được trình bày theo nhiều lớp xếp chồng lên nhau, theo chiều dọc. Thực khách chỉ cần nhúng thìa vào ly, trộn đều mọi thành phần trước khi thưởng thức món ăn. Cách trình bày món ăn trong ly nhỏ verrine sau đó trở nên phổ biến ở khắp nơi, được nhiều đầu bếp sử dụng để giới thiệu các quầy thức ăn theo kiểu buffet. Tôi hãnh diện khi đã tạo ra món này, rồi sau đó tôi quyết định gạt món này sang một bên, có lẽ cũng vì tôi không muốn thấy tên tuổi của mình chỉ được gắn liền với chữ verrine. Mãi đến năm 45 tuổi, tôi cảm thấy đã đến lúc tôi chuyển hẳn sang nghề làm bánh ngọt. Vào thời ấy, tôi nghĩ rằng tại sao không thử làm lại những kiểu bánh ngọt kinh điển, nhất là khi một số công thức đang chìm vào quên lãng. Có thể nói là bước ngoặt quan trọng đối với tôi là vào năm 2008. Trong số các kiểu bánh tái tạo nổi tiếng của Philippe Conticini, có loại bánh nhân hạt dẻ Paris-Brest, vậy thì giai thoại đằng sau kiểu bánh này là gì và vì sao Paris-Brest lại có nhiều sức quyến rũ đến như vậy ? Nhà làm bánh người Pháp cho biết : Philippe Conticini : Tôi rất mê bánh Paris-Brest trước hết vì bánh này có praliné, một loại bột nhuyễn mềm, sánh mịn làm với hạt dẻ và hạnh nhân. Loại nhân praliné ngon tuyệt vời đối với một người hảo ngọt như tôi. Ngoài ra tôi cũng thích câu chuyện của Paris-Brest : Giai thoại kể rằng ban tổ chức vòng đua xe đạp từ Paris đến Brest đã yêu cầu một nhà làm bánh (ông Louis Durand) tạo ra một kiểu bánh mới để tặng cho người về đầu vòng đua. Nhà làm bánh đã có sáng kiến làm một kiểu bánh tròn giống như bánh xe đạp, ở giữa có khoét lỗ giống như đùm bánh xe và trong thân bánh có nhồi kem hạt dẻ thật mịn. Khi tái tạo kiểu bánh này, tôi vẫn trung thành với công thức thời xưa nhưng đồng thời cố gắng làm sao cho chiếc bánh ngọt càng thêm thơm và nhẹ. Tôi đã đưa thêm nhiều không khí vào trong cách đánh bột và làm kem, như thế giảm bớt lượng bơ và đường trong công thức làm bánh Paris-Brest. Nhờ vậy, hương bánh vẫn thơm phức mà vẫn không quá ngọt hay quá béo. Đâu là những loại bánh ngọt của Pháp được bán chạy trên thế giới từ trước tới nay ? Ông Philippe Conticini cho biết : Philippe Conticini : Người ta thường hay nhắc đến loại bánh su phồng nhồi kem, ngoài ra còn có bánh Saint-Honoré, các loại bánh tart trái cây hay bánh kem chanh phủ một lớp bánh men (meringue). Tất nhiên, các loại bánh macaron hay kiểu bánh chocolat đều thịnh hành không kém. Tuy vậy, có một số loại bánh kinh điển cũng đang dần biến mất. Chẳng hạn như kiểu bánh Moka : đây là một loại bánh cà phê rất nổi tiếng vào đầu thế kỷ XIX trong ngành làm bánh ngọt Pháp, được xem là do bậc thầy Antonin Carême sáng chế vào những năm 1810. Bánh Moka được làm với bánh bông lan hoặc bánh quy mềm, ngâm trong sirô cà phê. Tiền thân của Moka là bánh quillet gồm hai lớp bánh bông lan (génoise) kẹp ở giữa một lớp kem bơ cà phê đánh cho thật nhuyễn, màu sắc mịn màng. Thợ làm bánh có thể làm theo hàng ngàn cách khác nhau, nhưng Moka phải luôn luôn có kem bơ hương cà phê. Tôi đã làm lại loại bánh này vào năm 2009, với một kiểu bánh thon tròn có hình dạng giống như hạt cà phê. Thật không may, loại bánh Moka này không bán chạy bằng các kiểu bánh sô cô la hay bánh su nhân vani cho nên tôi đã ngưng làm các kiểu bánh hương cà phê. Từ khắp nơi trên thế giới, nhiều người tìm đến Paris để học các kỹ thuật làm bánh ngọt của Pháp. Theo ông Philippe Conticini, những thợ làm bánh này sau đó thích nghi cách chế biến của họ theo khẩu vị của thành phần thực khách, theo từng vùng miền hay địa phương. Philippe Conticini : Vâng, nước Pháp thực sự nổi tiếng nhờ truyền thống làm bánh ngọt.  Trong mọi trường hợp, Pháp đã sáng chế nhiều kỹ thuật cho ngành này. Và giờ đây, mọi người đến từ khắp nơi trên thế giới để học kỹ thuật này, cho dù từ Nhật Bản, Brazil, Hoa Kỳ hay Úc. Sau đó, họ trở về quê nhà để truyền lại kỹ thuật này, những cách làm bánh mà họ đã từng học. Sau đó, đến phiên họ truyền đạt và đào tạo các bếp phó cũng như những tay thợ làm bánh ngọt, những người mà sau này sẽ trở thành bếp chính khi đã vững tay nghề.  Dù ở đâu đi chăng nữa, những nhà làm bánh ngọt này sẽ thích nghi cách làm bánh theo văn hóa cũng như khẩu vị của từng vùng miền qua việc dùng các loại trái cây, hương thơm hay gia vị. Quá trình thích nghi này chắc chắn sẽ khiến họ nghĩ ra những kỹ thuật khác, những cách làm mới. Chẳng hạn như ở Nhật Bản, ta có thể thấy rõ rnghề làm bánh ngọt đang phát triển mạnh, nhiều kỹ thuật hiện đại đang được sử dụng để phục vụ cho nghề làm bánh ngọt nói riêng, nghề nấu ăn nói chung. Trong thời gian làm việc ở Nhật, tôi đã có dịp thưởng thức loại bánh cuộn làm với đậu đỏ azuki của Nhật Bản. Món tráng miệng này là một trong những món ngọt tuyệt vời nhất mà tôi đã từng ăn. Có lẽ cùng vì người Âu Mỹ có một quan niệm rất khác về đậu đỏ, trong khi người Nhật lại chế biến món này một cách rất thơm ngon nhẹ nhàng, thay đổi hẳn cách nhìn cũng như lối tiếp cận thức ăn, trái với những gì mọi người thường nói. Nếu điều đó làm được ở Nhật Bản, thì cũng có thể thích nghi với các quốc gia khác. Trong những chuyến đi du lịch, tôi thấy rằng nghề làm bánh ngọt ở nhiều nơi mang nhiều ảnh hưởng của Pháp, vừa mang tính kỹ thuật vừa có nhiều nét quyến rũ kỳ lạ. Một khi đã nắm vững những kỹ thuật làm bánh cơ bản, nhà làm bánh ngọt sau đó có thể thỏa sức biến tấu sáng tạo với vô số hương vị, kể Theo tôi, điều đó vẫn hợp với việc tái thể hiện những kiểu bánh "kinh điển".
Vào đầu tháng 10/2025, phóng viên nhiếp ảnh Antoni Lallican đã thiệt mạng tại vùng Donbass, miền đông Ukraina, do bị một drone của Nga tấn công. Đây là nhà báo Pháp đầu tiên bị chết ở Ukraina trong một cuộc tấn công rõ ràng là có chủ đích từ phía quân Nga. Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, từ nhiều năm qua, nữ phóng viên ảnh độc lập người Pháp Gaelle Girbes vẫn sát cánh với người dân Ukraina. Tại triển lãm ảnh báo chí quốc tế Visa pour l’image 2025 ở thành phố Perpignan miền nam nước Pháp tháng 9/2025, Gaelle Girbes đã giới thiệu loạt ảnh chia sẻ cuộc sống thường nhật của những người không còn nơi nào để đi do nhà cửa đã bị bom đạn của quân Nga phá hủy. Qua tập ảnh "Ukraina, Sống Sót Giữa Đống Đổ Nát", Gaelle Girbes đưa độc giả đến những thành phố như Vouhledar ở vùng Donetsk, miền đông Ukraina, đã rơi vào tay quân Nga đầu tháng 10/2024, sau ba năm giao tranh ác liệt và bị phá hủy hoàn toàn. Trong những năm tháng trước đó, giữa cảnh hoang tàn, người dân Vouhledar vẫn cố gắn trồng rau, nuôi gà để ăn.  Cũng ở vùng Donetsk, ngôi làng Borododychne đã không biết bao nhiêu lần bị quân Nga đánh chiếm rồi lại được quân Ukraina giành lại. Từ 556 dân trước khi bị Nga chiếm, nay chỉ còn 35 người dân sống tại ngôi làng giờ chỉ toàn là những đống gạch vụn. Nhân dịp tham gia triển lãm tại Perpignan, Gaelle Girbes đã dành cho RFI Việt ngữ bài phỏng vấn sau đây: Xin chào Gaelle Girbes, cô đã đến Ukraina từ năm 2017. Vì sao cô đã quyết định ở lại Ukraina, ngay cả sau khi Nga phát động cuộc chiến tranh xâm lược tháng 02/2022, bất chấp những nguy hiểm? Khi đến Ukraina lần đầu tiên, tôi đã rất xúc động trước tình hình tại đây. Ở tiền tuyến, cảnh tượng đầu tiên tôi chứng kiến ​​là năm quả đạn cối rơi trúng một ngôi nhà của những người hưu trí và những người lớn tuổi này phải một mình chiến đấu với ngọn lửa, đối mặt với thảm họa. Ở tuổi 72, dập tắt ngọn lửa đang phá hủy ngôi nhà dĩ nhiên không hề dễ dàng.  Cảnh tượng đó đã thật sự ảnh hưởng đến tôi và tôi nhận ra rằng không có ai ở đó để tường thuật. Ở châu Âu, người ta cho rằng đây chỉ là một cuộc chiến đang “đóng băng”, nhưng thực tế không phải vậy. Cuộc chiến này đúng là có cường độ thấp so với ngày nay, nhưng đó là tiền đề cho một điều gì đó thậm chí còn tồi tệ và trầm trọng hơn, sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Và tôi cũng vô cùng cảm kích trước tinh thần của người dân Ukraina, mà tôi thấy là rất dũng cảm. Họ là những người bảo vệ những giá trị mà chúng ta rất trân trọng, như tự do.  Công việc của tôi là ghi nhận ​​những tội ác và bất công của chiến tranh. Vì vậy, ngay từ khi quân đội Nga quyết định chính thức xâm lược Ukraina tháng 2/2022, tôi nghĩ đây là lúc mình phải ở lại và tiếp tục công việc của mình, chứ không được bỏ cuộc. Như vậy là trong suốt những năm qua, cô đã chứng kiến sự phá hủy các thị trấn và làng mạc ở Ukraina. Người dân đã đối phó như thế nào trong suốt thời gian đó?  Trên thực tế, người dân Ukraina, trước khi có cuộc cách mạng Maidan năm 2014, đã từng làm cuộc Cách mạng Cam và thậm chí trước đó nữa, họ chưa bao giờ ngừng kháng cự và chiến đấu cho độc lập và tự do của mình. Khi đến đó, tôi đã ghi lại những diễn biến trên tiền tuyến ở vùng Donbass từ năm 2017 đến năm 2022. Vào năm 2022, khi cuộc xâm lược quy mô lớn của Nga bắt đầu, tôi đã tiếp tục ở bên cạnh những người dân mà tôi yêu thương, mà tôi đặc biệt trân trọng. Họ trải qua cuộc chiến đó với sức chịu đựng tuyệt vời và cũng bởi vì họ hoàn toàn nhận thức được rằng đó là một cuộc chiến sẽ không bao giờ kết thúc. Tôi hy vọng nó sẽ kết thúc, ngay bây giờ, nhưng sẽ cực kỳ khó.  Họ đều tuyệt vọng, hay họ vẫn còn hy vọng rằng một ngày nào đó chiến tranh sẽ kết thúc?  Về mặt tinh thần, người dân Ukraina có tuyệt vọng không? Không. Có mệt mỏi không ? Có, cực kỳ mệt mỏi, bởi vì với những cuộc ném bom dữ dội, không ai có thể ngủ được và ai cũng sợ, mối nguy hiểm luôn hiện hữu. Ai cũng có thể mất đi những người thân yêu, bạn bè của mình. Đó là một gánh nặng  tâm lý rất, rất nặng nề. Tuy vậy họ vẫn tin là dù chuyện gì xảy ra, mọi thứ sẽ ổn thôi.  Nhưng ở những thị trấn hay làng mạc liên tục bị quân Nga oanh kích, hầu hết đã rời đi, còn những người ở lại phải chăng là do họ không tìm được cách nào để đi nơi khác, hay là vì họ đã quyết định ở lại? Tại những ngôi làng và thị trấn ở tiền tuyến bị ném bom, tàn phá, cướp bóc, thành thật mà nói, rất khó mà sống sót được. Đối mặt với nguy hiểm, một bộ phận dân cư phải sơ tán, hoặc tìm nơi trú ẩn ở gia đình thân thiết, sống ở nơi khác, hoặc đến các trung tâm tiếp nhận mà số chỗ thực sự rất, rất hạn chế, không còn chỗ trống, và họ không được phép ở lại lâu. Đó là một cuộc sống lang thang, như những người vô gia cư. Nếu có nhiều tiền hơn, có thu nhập cao hơn và nói được một ngôn ngữ nước ngoài, họ có thể đến Châu Âu và những nơi khác để xin quy chế tị nạn, nhưng chỉ có một số người thôi.  Sống tại những khu vực như thế, trên mặt trận, chủ yếu là những người có thu nhập thấp, những người về hưu, họ ở lại đó do thiếu phương tiện và cũng vì họ nói rằng: “ Đây là đất của tôi, tôi sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, xây dựng mọi thứ ở đây, đó là cái giá của cả cuộc đời tôi đang phải trả, vì vậy tôi sẽ ở lại. Đây là đất của tôi và tôi sẽ không giao nó cho lính Nga."  Chủ đề loạt ảnh của cô là “Sống sót giữa đống đổ nát”. Làm thế nào họ đã có thể sống sót trong suốt những năm qua?  Như ông có thể thấy trong các bức ảnh, trên thực tế, đó là một cách sống hoàn toàn mới: đang có máy giặt, internet, ngân hàng, bưu điện, siêu thị, thế mà hôm sau thức dậy bỗng dưng không còn nước, không còn khí đốt, không còn điện, không còn ngân hàng, không còn siêu thị, không còn máy giặt, không còn gì cả. Nên họ phải học lại cách sưởi ấm nhà bằng củi, hay lọc nước ở bất cứ nơi nào bạn tìm thấy. Nếu có thể thì tìm ra cách sử dụng các tấm pin Mặt trời mini, ít nhất là có điện để thắp sáng. Không còn điện thoại, không còn internet nữa, họ đột nhiên giống như trở về thời Trung Cổ. Họ phải tự tổ chức lại cuộc sống bản thân, bắt đầu trồng rau, tạo dựng một lối sống mới để tồn tại.  Vậy là cô đã quyết định ở lại suốt những năm qua để chứng kiến ​​sự tàn khốc của chiến tranh. Nhưng công việc của cô có thực sự nguy hiểm không? Có nguy cơ cô bị bắt giam giữ hoặc thậm chí bị giết không?  Điều đó phụ thuộc vào chủ đề tôi đề cập đến. Tôi quyết định ở lại Ukraina để tường thuật  ​​những gì đang xảy ra ở đó, cả những tội ác do binh lính Nga và chính phủ Nga gây ra trên lãnh thổ Ukraina. Và cũng để chứng kiến ​​tác động lên từng cá nhân. Nói cách khác, ở đây có những chủ thể sống sót giữa đống đổ nát. Đột nhiên mất tất cả, làm thế nào họ có thể sống sót giữa cảnh đó? Làm thế nào họ có thể xây dựng lại bản thân khi biết rằng điều đó gần như là không thể. Tôi còn những chủ đề khác mà tôi đang làm việc trong dài hạn, có thể là về những người bị cắt cụt chân tay, hoặc những chủ đề khác mà tôi không thể nói đến ở đây nhưng sẽ sớm được đề cập đến.  Nhưng nhìn chung, tùy thuộc vào chủ đề, có những chủ đề cực kỳ nguy hiểm, vì đó là những nơi bị bắn phá dữ dội, như trong loạt ảnh này đó là hai ngôi làng nơi mà không khéo là có thể giẫm phải mìn, nhưng nếu cẩn thận thì không sao. Ở hai ngôi làng khác, tôi đã phải làm việc dưới hỏa lực dữ dội.  Cũng có những drone của Nga săn lùng bất cứ ai dù là nhà báo, thường dân hay binh lính. Khi biết có một nhà báo, họ càng cố truy sát. Tuy nhiên, lần thứ hai tôi đến đó, máy bay phản lực của Nga đang hoạt động, và tôi phải quay trở lại dưới những quả bom nặng từ 250 đến 500 kg. Vô cùng khó khăn, đặc biệt phức tạp. Mỗi lần tôi phải quay trở lại vào ban đêm để hạn chế nguy hiểm.  Việc những bức ảnh của cô được triển lãm ở Perpignan, cô có hy vọng những ảnh đó sẽ có tác động nhất định đến dư luận ở Pháp hay châu Âu, tác động đến diễn biến của cuộc chiến?  Hy vọng của tôi ở đây, trên hết, cũng là hy vọng của những người có mặt trong những bức ảnh này, những người biết đến triển lãm này. Họ đã thấy những bức ảnh, họ gửi tin nhắn cho tôi mỗi ngày. Đó là điều họ muốn: những gì đang xảy ra với họ, những gì người Nga đã làm với họ phải được biết đến, chứ không phải bị bịt miệng, vì đó là một phần lịch sử của họ. Đó cũng là về những vết thương, nỗi đau khổ của họ. Và điều quan trọng vẫn là phải cho thấy Ukraina thực sự là một quốc gia rộng lớn, lớn hơn cả nước Pháp, và 30% lãnh thổ hiện đang bị tàn phá, tương đương với diện tích của vương quốc Bỉ, ảnh hưởng đến hơn 5 triệu người. Năm nay, Nga đã chiếm hơn 460 km vuông lãnh thổ, mà họ đã tàn phá mọi thứ. Bao nhiêu ngàn sinh mạng con người đã bị mất? Họ sẽ tái thiết như thế nào? Chúng ta có thể tiếp tục để điều này xảy ra không? Tất cả đều là những câu hỏi chưa có lời giải đáp. 
The Stringer : The man who took the photo là một cuộc điều tra. Phóng viên ảnh người Mỹ Gary Knight là nhân vật trung tâm. Tất cả bắt nguồn từ một tuyên bố của Carl Robinson, nguyên là nhân viên của hãng thông tấn Agence Press ở Sàigon năm 1972. Nick Ut hay Nguyễn Thành Nghệ là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm ? « Vài lời về một trong những tấm ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử của các phóng viên chiến trường từ 50 năm qua. Đó là hình ảnh một bé gái bị phỏng nặng chạy thoát sau một trận dội bom … Tác giả bức ảnh được cho là Nick Ut, phóng viên ảnh của hãng thông tấn Mỹ AP… Nhưng nếu như người chụp tấm Em Bé Napalm lại không phải là ông ấy thì sao ? » Nhà báo người Pháp Nicolas Poincaré hôm 11/10/2025 đã giới thiệu về phim tài liệu The Stringer, hành trình đi tìm sự thật về tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Phim được được trình chiếu trong khuôn khổ chương trình tuần lễ thành phố Bayeux vùng Calvados-Normandie vinh danh các phóng viên chiến trường. Ở Pháp, phim được trình chiếu trên nền tảng phim trực tuyến Netflix từ ngày 28/11/2025. Tất cả bắt nguồn từ một phát biểu của Carl Robinson, cựu nhân viên của hãng thông tấn Agence Press ở Sài Gòn năm 1972 với Gary Knight. Nick Ut hay Nguyễn Thành Nghệ là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm ? Trong cuộc điều tra về tác giả bức ảnh còn được biết đến dưới tên gọi The Terror of War Gary Kngiht đã tìm đến rất nhiều người, tìm kiếm những ai từng có mặt ở Trảng Bàng, ngày 08/06/1972. Hai người vắng mặt trong phim là Em bé Napalm bà Phan Thị Kim Phúc và phóng viên ảnh, Nick Ut. Trong đoạn phim tài liệu năm 1972, một phóng viên người Mỹ nhận định « Sau hai lượt bay, rõ ràng là các máy bay ném bom Skyraiders đã chọn nhầm mục tiêu … và trong đợt bay thứ ba, họ thả 4 quả bom napalm, trúng vào thường dân và các quân nhân ở Trảng Bàng ». Trước ống kính truyền hình và báo chí quốc tế, bất chợt, một cô bé 9 tuổi, trần truồng, bị bỏng nặng, cùng nhiều đứa trẻ từ ngôi làng này hoảng loạn chạy ra quốc lộ : Vừa chạy vừa la khóc, đau đớn, hoảng loạn. Bức ảnh Em Bé Napalm ngày 08/06/1972 trở thành biểu tượng của « địa ngục chiến tranh Việt Nam », đi vòng quanh thế giới, được bình chọn là « hình ảnh trong năm » và đoạt giải thưởng Pulitzer. Gần nửa thế kỷ, phóng viên ảnh Nick Ut được cho là người đã ghi được khoảnh khắc nói lên sự ghê rợn của chiến tranh. Trong những thước phim đã bạc màu thời gian, Nick Út từng thuật lại với báo chí quốc tế là ông đã trông thấy Kim Phúc chạy ra khỏi ngôi làng vừa bị dội bom như thế nào và đã đưa cô đến bệnh viện. Thế nhưng, The Stringer ra mắt công chúng lần đầu tiên trong khuôn khổ liên hoan Sundance hồi tháng 1/2025 đã nêu lên một câu hỏi bất ngờ. Đạo diễn Bảo Nguyễn đã sớm được nhà sản xuất và đoàn phim mời cùng đồng hành trong cuộc điều tra về tác giả bức ảnh nổi tiếng nói trên. Trả lời RFI Việt ngữ trước khi The Stringer được công chiếu tại Bayeux tháng 10/2025 đạo diễn Bảo Nguyễn giải thích vì sao anh đã nhận lời với phóng viên ảnh Gary Knight và đoàn phim : Với anh, theo đuổi và tìm kiếm sự thật phải là một ưu tiên.   Bảo Nguyễn : Bộ phim bắt đầu bằng cuộc điều tra với phóng viên ảnh Gary Knight và đã được dựng lên cùng với Terri Lichstein và Fionna Turner. Điểm khởi đầu là một thư điện tử của Carl Robinson, cựu biên tập ảnh của hãng tin AP tại văn phòng Sài Gòn. Ông ấy đã thú nhận với Gary Knight và thế là nhóm làm phim bắt đầu mở cuộc điều tra. Họ đã liên hệ với tôi khá sớm vì tôi là một nhà làm phim tài liệu. Cá nhân tôi cũng đang cân nhắc liệu mình có muốn thực hiện bộ phim này hay không, bởi như chị nói, bức ảnh Em Bé Napalm là cả một biểu tượng .. Tuy nhiên tôi nghĩ, với tư cách một người tiếp nhận báo chí – tôi không phải nhà báo, tôi là một nhà làm phim – ngành báo chí thôi thúc chúng ta luôn nêu lên những nghi vấn và luôn đi tìm sự thật. Khi chưa biết cuộc điều tra sẽ dẫn đến đâu, tôi nghĩ điều quan trọng đối với chúng tôi, đặc biệt là với tôi, là ghi lại quá trình điều tra, khám phá mọi góc nhìn khác nhau của ngày hôm đó -ngày mà tác giả đã chụp được bức ảnh Em Bé Napalm ở Trảng Bàng và tìm hiểu xem rằng, ai có thể đã chụp bức ảnh đó nếu như tác giả không phải là Nick Ut. RFI : Từ chiến dịch Tràng Bàng đến nay đã hơn 50 năm trôi qua. Trong quá trình làm phim anh và đoàn phim đã phải vượt qua những khó khăn nào ? Làm sao tìm lại được các nhân chứng từng có mặt ở ngôi làng này ngày 08/06/1972 ? Bảo Nguyễn : Vâng, tôi nghĩ một trong những thách thức lớn là bức ảnh được chụp đã hơn 50 năm trước. Rất nhiều nhân chứng trên hiện trường ngày hôm đó nay không còn nữa. Nhiều lần tôi cũng tự hỏi vì sao vấn đề lại được đặt ra sau 50 năm. Vì sao Carl Robinson lại lên tiếng? Vì sao phóng viên tự do Nguyễn Thành Nghệ chưa bao giờ công khai tiết lộ điều này ? Có rất nhiều câu hỏi mà tôi phải tự tìm hiểu và giải đáp trước khi chúng tôi thật sự bắt đầu hành trình làm phim. Trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu này, tôi dần hiểu rằng, giống như nhiều người tị nạn phải rời bỏ quê hương, họ không có điều kiện hay không hoàn toàn có quyền tự định đoạt để nói về những  quá khứ, bởi vì mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kế sinh nhai, bảo đảm cuộc sống trong một môi trường mới. Trước hết họ phải chăm lo cho gia đình, cho nên họ không nói về quá khứ nữa. Và bây giờ, trong quá trình làm phim, tôi hiểu rằng đó là một trong những lý do ông Nghệ đã không thể lên tiếng, cũng như một người đảm trách phầm âm thanh cho đài NBC hôm đó, trước công chúng, ông này cũng chưa bao giờ kể về những gì đã diễn ra ở Trảng Bàng hôm 08/06/1972. Giờ đây mọi người mới hỏi : Tại sao đến 53 năm sau mới lại đặt ra câu hỏi ai là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Khi đặt mình vào hoàn cảnh của ông Nghệ, bạn sẽ hiểu rằng họ cảm thấy là họ không có quyền hay không đủ tư cách để nói ra sự thật, nói ra những gì họ đã phải trải qua. Carl Robinson phóng viên của AP cũng vậy. Ông ta đã phải chăm sóc gia đình và không muốn mất việc. Nhìn dưới góc độ này, mọi người sẽ hiểu vì sao họ không lên tiếng. Và dĩ nhiên, việc cố gắng khai mở một câu chuyện và sự thật đã xảy ra hơn 50 năm trước là điều rất khó. Nhưng tôi nghĩ đội ngũ nhà báo đã hoàn thành bổn phận của họ : theo đuổi sự thật và đặt ra những câu hỏi cần thiết. Chúng tôi huy động được các nhà báo Việt Nam tại chỗ, và đây là những người đã đóng vai trò then chốt giúp chúng tôi tìm được những nhân chứng từng có mặt ở Trảng Bàng năm 1972. Là một nhà báo, chị có thể hiểu những khó khăn trong việc nghiên cứu và tìm kiếm nhân chứng. Tôi rất tôn trọng các nhà báo trong bộ phim và mức độ chuyên nghiệp của họ khi kết nối được với những người mà suốt 50 năm họ đã im lặng về chuyện ở Trảng Bàng. Các cộng tác viên ở Việt Nam đã gọi rất nhiều cuộc điện thoại, hỏi han mọi người, gõ cửa từng nhà. Theo nhiều cách, đó là lời tri ân đối với tinh thần báo chí đúng theo nghĩa của nó.   RFI : The Stringer ra mắt công chúng lần đầu vào tháng 1/2025 ở liên hoan phim Sundance. Công chúng đã đón nhân phim này như thế nào ? Bảo Nguyễn : Chúng tôi rất vinh dự khi được trình chiếu phim tài liệu The Stringer trên khắp thế giới và như chị vừa nói, lần đầu ở Sundance, rồi tháng 10/2025 là tại thị trấn Bayeux. Sau đó là trên nền tảng truyền hình Netflix. Tại liên hoan phim Sundance, nhiều người đến gặp tôi và nói lời cảm ơn. Rất nhiều người nói rằng họ cảm ơn vì đã kể câu chuyện của ông Nghệ – một câu chuyện chưa bao giờ được nói ra suốt nhiều năm. Khán giả cũng đã cảm ơn vì chúng tôi đã dám mạo hiểm theo đuổi sự thật. Tại Bayeux sự kiện dành để vinh danh các phóng viên chiến trường, chị sẽ có dịp trao đổi với Gary Knight và Fiona Turner, nhưng tôi đã nghe rất nhiều người bày tỏ ngưỡng mộ, cho rằng cả hai đã thật dũng cảm khi thực hiện bộ phim này. RFI : Sau The Stringer dự án kế tiếp của đạo diễn Bảo Nguyễn là gì  ? Bảo Nguyễn : Vâng, cảm ơn chị đã hỏi. Bộ phim tiếp theo của tôi rất khác với The Stringer. Tôi đang chuẩn bị làm phim về Jimi Hendrix, nghệ sĩ guitar rock huyền thoại. Phim này sẽ tập trung vào một giai đoạn cụ thể trong cuộc đời của ông khi sống ở Luân Đôn, vào thời điểm đầu sự nghiệp. Đương nhiên, thế giới của Hendrix hoàn toàn khác với The Stringer, nhưng tôi cảm thấy mình thật sự may mắn khi có thể kể lại những câu chuyện như vậy. RFI : Thành thật cảm ơn Bảo Nguyễn dành cho RFI tiếng Việt buổi nói chuyện hôm nay. Chương trình được thu âm trước khi phim ra mắt khán giả tại Pháp. Về phần nhiếp ảnh gia Nick Ut, trả lời nhà báo Thanh Phương nhân dịp được mời đến dự liên hoan ảnh Visa de l’Image tại thành phố Perpignan, miền nam nước Pháp hồi mùa hè vừa qua, ông cho biết đã xem phim The Stringer và khẳng định lại ông là tác giả bức ảnh Em Bé Napalm. Bất luận ai mới là tác giả thực thụ của Em Bé Napalm, một trong những bức ảnh nổi tiếng nhất về chiến tranh trên thế giới của thế kỷ 20, phim The Stringer trước hết là một cuộc điều tra nghiêm túc : Gary Knight và đoàn phim đã không quản công tìm kiếm các nhân chứng, họ còn huy động cả những đội ngũ chuyên gia từ Mỹ, từ Luân Đôn hay Paris …. để đi tìm sự thật… Trong thời đại mà sự thật thường bị bóp méo, chỉ riêng nỗ lực này cũng đủ mang lại giá trị cho bộ phim tài liệu nói về một phóng viên ảnh tự do : The Stringer.
Trong làng truyện tranh tiếng Pháp, không phải chỉ có phóng viên Tintin mới đi khắp tứ phương, anh hùng Astérix cũng từng chu du bốn bể. Trong hơn 40 tập truyện được phát hành từ năm 1961, Astérix từng đi vòng quanh xứ Gô loa (Pháp), ghé thăm Bỉ, Tây Ban Nha, các nước Bắc Âu, Hy Lạp, Thụy Sĩ, hay đế chế La Mã. Với tựa đề « Astérix en Lusitanie », tập truyện tranh vừa được phát hành cuối năm 2025, đưa độc giả theo chân nhân vật Astérix ghé thăm xứ Bồ Đào Nha. Theo ghi nhận của tờ báo Ouest France, sau hai tuần lễ đầu tiên ra mắt bạn đọc, tập truyện « Astérix en Lusitanie » (Astérix tại Bồ Đào Nha) đã lập lỷ lục số bán với hơn một triệu bản, tức đã tăng 8% so với kỳ phát hành lần trước của tập truyện « L'Iris blanc » (Hoa diên vĩ trắng) cách đây hai năm. Đằng sau thành công của tập truyện thứ 41, có sự tham gia của họa sĩ Didier Conrad và nhà soạn kịch bản Fabrice Caro (ông viết toàn bộ lời thoại dưới bút danh FabCaro). Đây là lần thứ nhì, hai tác giả này hợp tác với nhau để tạo ra một quyển truyện tranh, được nhiều độc giả nhiệt tình đón nhận. Đọc thêmL'Iris blanc : Tập truyện tranh mới của Astérix ra mắt độc giả Trung thành với ý tưởng ban đầu của cặp bài trùng Uderzo và Goscinny, hai tác giả khai sinh nhân vật « anh hùng xứ Gô loa », nhóm sáng tác mới đã dí dỏm kể lại hành trình phiêu lưu tại Bồ Đào Nha của đôi bạn Astérix và Obélix cùng với chú chó dễ thương IdéFix (trong tiếng Anh được gọi là DogMatix). Tập truyện thứ 41 bắt đầu với nhân vật BoulQuiès gặp Astérix và Obélix để cầu cứu, xin họ mang « bầu thần dược » sang Lusitanie, một vùng đang bị đội quân La Mã chiếm đóng. Nhiệm vụ lần này của hai anh hùng Gô loa là giúp đỡ nhà sản xuất nước tương garum tên là Mavubès, phải chăng do thị lực kém nên không trông rộng nhìn xa, ông bị kết án một cách oan uổng vì tội âm mưu đầu độc hoàng đế César. Trong chuyến đi biển nhiều ngày đến Bồ Đào Nha, Astérix đã nghe kể lại giai thoại về sự phản bội của gia tộc Pirespès, dòng họ mang tiếng xấu nhất lịch sử, khiến cho người dân vùng Lusitanie phải chịu đựng một nỗi buồn u uẩn (saudade) day dứt khôn nguôi, được cho là nguồn gốc của fado, làn điệu dân ca nỉ non ai oán của Bồ Đào Nha. Thực ra, cốt truyện hoàn toàn hư cấu này là cái khung để cho hai tác giả sáng chế ra hàng loạt màn khôi hài, khai thác sự hiểu lầm, tình huống ngược đời, chọc cười bằng cách chơi chữ. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, nhóm sáng tác FabCaro và Didier Conrad đã cho biết đôi nét về ý tưởng hình thành cũng như quá trình sáng tạo tập truyện thứ 41. Câu hỏi đầu tiên rất đơn giản là tại sao nhóm sáng tác đã chọn Bồ Đào Nha : FabCaro : Từ trước tới nay, bộ truyện Astérix có truyền thống luân phiên hai thể loại : loại thứ nhất chuyên nói về nếp sống sinh hoạt của xứ Gô loa và loại thứ nhì thuật lại các chuyến du hành « xuất ngoại » của Astérix. Mặc dù không có gì bắt buộc nhóm sáng tác phải tuân theo, nhưng sau thành công của « Hoa diên vĩ trắng », chúng tôi nghĩ đã đến lúc đưa nhân vật chính đi thăm một chân trời mới. Về mặt cốt truyện, Bồ Đào Nha ở phía nam châu Âu không quá xa ngôi làng Gô loa ở vùng Bretagne. Chúng tôi đã trình bày ý tưởng này với nhà xuất bản Albert René và ban điều hành rất hứng thú vì ý tưởng này đã có từ lâu rồi, nhưng chưa có nhóm sáng tác nào bắt tay thực hiện. Mọi chuyện bắt đầu đơn giản như vậy. Chúng tôi lập ra danh sách của những nơi đã từng được vẽ thành truyện và lần này Bồ Đào Nha (Lusitanie) là nước thứ 15 được Astérix ghé thăm. Đọc thêmBộ truyện tranh Astérix ra mắt phần tiền truyện Idéfix « Astérix tại Bồ Đào Nha » là tập truyện thứ nhì của nhóm sáng tác Fabrice Caro và Didier Conrad. Đâu là những yếu tố « bất dịch » mà hai tác giả này buộc phải tuân thủ, để tránh đi ngược lại với ý tưởng ban đầu của hai nhà khai sinh là họa sĩ Albert Uderzo và nhà soạn kịch bản René Goscinny : Didier Conrad : Đúng vậy, trong bộ truyện Astérix, có khá nhiều yếu tố « cố định » thường được lặp đi lặp lại từ tập này sang tập khác. Giới bạn đọc trước khi mua mỗi quyển truyện tranh, đều chờ đợi là họ sẽ tìm lại được những yếu tố quen thuộc này, chẳng hạn như « bầu thần dược » cho Astérix sức mạnh vô song, Obélix có tính ham ăn và luôn tìm củi để nướng thịt lợn rừng, đội quân La Mã dù hùng hậu cách mấy cũng bị đánh liểng xiểng tơi bời, thua trận thảm hại buồn cười… Vì vậy, khi khai thác những ý tưởng mới, chúng tôi phải tạo dấu gạch nối để tránh cho bạn đọc có cảm giác cốt truyện bị đứt đoạn, không còn liền mạch. Điều đó buộc nhóm sáng tác phải linh hoạt khi tìm cách chơi chữ, năng động sáng chế hoặc biến tấu xung quanh mô típ của những trò đùa, với mục đích chọc cười độc giả. Truyện tranh Asterix thực sự một hiện tượng toàn cầu. Đây là bộ truyện tranh tiếng Pháp được phổ biến rộng rãi nhất trên thế giới : 400 triệu bản đã được bán ra kể từ khi ra mắt độc giả lần đầu tiên vào mùa thu năm 1961. Vậy thì điều gì có thể giải thích cho sự thành công lâu dài này, họa sĩ Didier Conrad nhận xét : Didier Conrad : Giả thuyết của chúng tôi là, người Pháp thực sự có một hình ảnh khá mơ hồ về nguồn gốc có từ thời xa xưa của mình. Và trong mắt độc giả sự thành công của Astérix, đã lấp đầy những khoảng trống ấy. Hai nhà khai sinh ít dùng yếu tố lịch sử mà lại tận dụng tính khôi hài, để nói về dân tộc xứ Gô loa cũng như một số tập quán của người Pháp một cách dí dỏm, vui nhộn và có duyên. Đó chỉ là một giả thuyết, nhưng có thể giải thích vì sao nhân vật Astérix lại thu hút nhiều độc giả như vậy, ở bất cứ lứa tuổi nào FabCaro : Truyền thống di sản dù sao cũng là một thứ gì đó khá trừu tượng. Nhưng dưới lớp vỏ bọc cổ xưa, chúng ta vẫn có thể nói về những khái niệm đương đại, phổ biến thời nay. Thực ra, mỗi tập truyện Astérix lại giống như một bức ảnh chụp nhanh, phản ánh xã hội vào lúc quyển truyện được phát hành. Chẳng hạn như trong tập thứ 41, dù câu chuyện diễn ra tại Bồ Đào Nha, nhưng một số nhân vật làng Gô loa, họ thường cảm thấy không được an tâm, nhất là khi đang có tranh luận về vấn đề cải cách chế độ lương hưu, dĩ nhiên đây là một cách ám chỉ về xã hội Pháp thời nay. Vì đây là một tập truyện theo chủ đề du lịch xuất ngoại, cho nên hình ảnh của du khách Pháp ở nước ngoài khiến chúng tôi cảm thấy thích thú, để phác họa câu chuyện. Cho dù người Pháp được đi nghỉ mát tham quan, nhưng nhiều du khách vẫn thường mắc cái tật hay than van, lắm phàn nàn. Trong tập thứ 41, có một điều khiến chúng tôi luôn mắc cười đó là Obélix không phải là dân nghiền nghệ thuật ẩm thực của Bồ Đào Nha đâu nhé. Xứ này có nhiều món làm với bacalau, tức là món cá tuyết ngâm muối phơi khô, trong khi Obélix lại mê món thịt lụi, xiên lợn rừng. Đọc thêmTruyện tranh: Ở tuổi 65, Astérix vẫn dí dỏm gây cười Với tư cách của một tác giả, FabCaro và Didier Conrad giải thích về nhân vật họ ưa thích nhất trong bộ truyện Astérix và Obélix. FabCaro : Tôi rất thích nhân vật Obélix. Bộ truyện thường xen kẽ những màn hài hước với những pha phiêu lưu. Theo truyền thống, các pha hành động phiêu lưu do Astérix đảm nhiệm, còn các màn hài hước thường thuộc về do Obélix do nhân vật này có một tâm hồn như trẻ thơ, và đó là một nguồn cảm hứng tuyệt vời đối với một tác giả như tôi. Didier Conrad : Tôi thấy mình trong cả ba nhân vật tùy theo từng hoàn cảnh : Astérix, Obélix và trưởng lão Panoramix (tiếng Anh là Getafix) có lẽ là vì tuổi tác. Thời còn nhỏ, tôi cảm thấy mình gần giống với nhân vật Astérix, còn giờ đây lại gần hơn với nhân vật Panoramix, người đã sáng chế và nắm giữ bí quyết thần dược để giúp làng Gô loa kháng cứ lại đội quân hùng mạnh của hoàng đế La Mã. Tập truyện thứ 41 được in 5 triệu bản trong lần phát hành đầu tiên, bằng 19 ngôn ngữ khác nhau và chắc hẳn sẽ được tái bản và in thêm trong trường hợp gặt hái được thành công như những lần trước. Riêng tại Bồ Đào Nha, đợt phát hành đầu tiên đã vượt mốc 100.000 bản, tức cao gấp đôi con số ấn bản thông thường, nhờ biết khai thác cùng một bí quyết : "một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ".
Ra đời 30 năm trước, Những cây cầu quận Madison (The Bridges of Madison County, 1995) để lại dấu ấn khó phai về chuyện tình ngắn ngủi giữa bà nội trợ Francesca và nhiếp ảnh gia Robert. Không gian phim quê mùa, tiết tấu chậm rãi nhưng bùng nổ cảm xúc nhờ màn hóa thân xuất sắc của minh tinh Meryl Streep và bàn tay đạo diễn Clint Eastwood. Tóm tắt truyện phim Bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên (có tựa đề khác là Tình yêu giữa trắng và đen) của nhà văn Mỹ Robert James Waller phát hành năm 1992. Câu chuyện mở ra chuyện tình lãng mạn của Francesca, bà nội trợ Mỹ gốc Ý sống tại miền quê Iowa những năm 1960. Bà đem lòng yêu Robert, một nhiếp ảnh gia tạp chí danh tiếng National Geographic. Robert tình cờ ghé thăm khu vực để sáng tác ấn phẩm ảnh có những cây cầu gỗ mái che tại địa hạt Madison. Chuyện tình chỉ kéo dài bốn ngày nhưng ám ảnh Francesca suốt cả cuộc đời cho đến khi bà qua đời. Tiểu thuyết được coi là một trong những tác phẩm thành công nhất thế kỷ 20 ngang ngửa với Chuyện tình (Eric Segal, năm 1970) với sức tiêu thụ 50 triệu ấn bản toàn cầu. Giới phê bình nhận xét tiểu thuyết này lãng mạn hóa một chuyện tình có thực, tuy nhiên, nhân vật trong tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu. Những lựa chọn then chốt Hollywood không thể đứng yên trước sức hút nam châm của tiểu thuyết của Robert James nhằm chế biến thành tác phẩm màn bạc triệu đô. Đáng chú ý, Clint Eastwood đóng ba vai trò chủ đạo: nhà sản xuất, đạo diễn khiêm diễn viên chính cho bộ phim. Clint Eastwood gây bất ngờ nhất khi xoay mình sang thể loại phim không phải thế mạnh vốn có. Ông từng giành giải Oscar cho phim cao bồi Unforgiven (Không dung thứ) năm 1993. Điểm mấu chốt thứ hai, biên kịch Richard LaGraveese cũng là người chắp bút kịch bản cho hàng loạt phim tình cảm ăn khách như The mirror has two faces (Chiếc gương hai mặt), P.S I love you (Tái bút anh yêu em), Paris, Je t’aime (Paris tôi yêu em). Thứ ba, gương mặt “chọn mặt gửi vàng” chính là siêu sao Meryl Streep, từng đoạt 2 giải Oscar (tính tại thời điểm bộ phim ra mắt). Meryl không ngại bất cứ thử thách vai diễn khó khăn nào, cho dù vai diễn Francesca đòi hỏi sự giằng xé nội tâm dữ dội. Ngân sách phim rất khiêm tốn (chỉ 22 triệu đô), ba quyết định then chốt (đạo diễn, biên kịch, diễn viên chính) kèm theo tiếng vang của tiểu thuyết đã giúp nhà sản xuất gặt hái thành công thương mại 182 triệu đôla. Meryl Streep được đề cử Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Bí mật chôn vùi hơn ba thập kỷ Tiết tấu phim rất chậm rãi như hành trình khám phá cuốn hồi ký Francesca ngược thời gian. Mở màn ở thực tại những năm 1990, khi hai người con, Michael và Carolyn đoàn tụ ngôi nhà vùng nông thôn Iowa sau khi bà mẹ Francesca qua đời. Họ thực sự sốc khi biết rằng bà mẹ yêu cầu hỏa táng và rắc tro từ trên cây cầu gỗ Roseman, chứ không phải chôn cạnh người cha Richard quá cố của họ. Bí mật sáng tỏ khi họ khám phá chiếc hộp bí ẩn gồm sổ tay, ảnh chụp Francesca tại cây cầu gỗ và những lá thư của người đàn ông xa lạ có tên Robert Kincaid. Sau đó, phim lội ngược dòng thời gian về năm 1965 với chuyện tình 4 ngày của Francesca với người đàn ông Robert khi cả chồng con đi vắng xa nhà. Cuốn hồi ký mô tả cuộc tình sâu đậm giữa Francesca và Robert, dường như họ muốn bỏ trốn cùng nhau. Một mặt, bà băn khoăn về mối quan hệ lâu dài giữa bà và Robert. Mặt khác, Francesca cảm thấy trách nhiệm với cuộc hôn nhân thiếu cảm xúc, hối tiếc nếu bỏ lại những đứa con vị thành niên và người chồng chung thủy. Sau khi Richard qua đời, Francesca tìm cách liên lạc với Robert nhưng chỉ biết ông không còn làm ở tạp chí National Geographic. Ba năm sau khi chồng bà mất, Robert cũng qua đời và để lại hết kỷ vật cho bà, tro của ông rải xuống sông trên cây cầu Roseman. Câu chuyện cảm động, đầy tính nhân văn, lay động trái tim Michael và Carolyn. Họ thực hiện đúng lời nguyện ước của bà mẹ trên cây cầu nảy nở tình yêu giữa Francesca và Robert. Điểm nhấn cảm xúc và cao trào Đạo diễn Clint Eastwood chọn phong cách cổ điển trong cách kể chuyện và kết thúc. Ông phơi bày được sự khác biệt giữa chồng Richard và người tình Robert chỉ nhờ không khí trên bàn ăn. Một người hầu như chỉ tập trung ăn và một người tìm cách trò chuyện với Francesca. Nhờ vậy, chuyện tình của họ trở nên sống động và thuyết phục nhờ diễn xuất tinh tế của Meryl Streep. Phổ diễn xuất của bà chuyển tải sắc nét của tâm trạng đang yêu và khoảnh khắc xao động gặp lại người tình Robert dưới cơn mưa. Ít người biết rằng Meryl Streep không phải lựa chọn đầu tiên cho vai này. Hai minh tinh người Pháp và Ý, Catherine Deneuve và Isabelle Rosellini từng đến thử vai, cũng được nhà sản xuất ưng ý. Tuy nhiên, Clint Eastwood kiên định mời bằng được Meryl Streep cho vai diễn linh hồn của bộ phim. Tài năng của Meryl Streep không phụ niềm tin của đạo diễn. Ấn tượng nhất phim là trường đoạn Francesca ngồi trên xe trong cơn mưa ngắm Robert cố ý treo sợi dây chuyền bạc như lời cầu hôn. Cái tài của đạo diễn đẩy nhân vật vào sự lựa chọn khắc nghiệt nhất: Bỏ đi hay ở lại ? Đôi tay bà run rẩy muốn mở cửa xe bỏ trốn, nhưng cảm xúc trào dâng khiến bà bật khóc. Lý trí và cảm xúc trong Francesca đạt tới điểm bùng nổ dữ dội. Quyết định ở lại cùng chồng con không phải lựa chọn dễ dàng nhưng đầy tính nhân văn. Bà chọn cái chết hỏa táng và rắc tro cùng với người tình. Đó là câu trả lời muộn màng cho lời cầu hôn của nhiếp ảnh gia Robert. But the closer Robert gets, the clearer he can see that she is crying. And he stops. Without any words, he realizes what taking her with him would mean. With just a glance, he sacrifices her. With their eyes locked in the middle of Main Street - in front of the whole town - they smile and say goodbye. For a moment, I didn't know where I was. And for a split second, the thought crossed my mind that he really didn't want me - that it was easy to walk away. Khi Robert tiến lại gần hơn, anh càng thấy rõ hơn cô đang khóc và anh dừng lại. Với cái nhìn đó, anh đã hy sinh cô ấy. Ánh mắt họ khóa chặt lấy nhau trên giữa con phố, nơi họ mỉm cười và chào tạm biệt. (Francesca tự sự): Thực tại, tôi không thể biết mình đang ở đâu. Trong một giây phút ngắn ngủi, ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu tôi rằng anh ấy thực sự không muốn tôi. Có thể dễ dàng bỏ đi vậy sao ? Tính khái quát và thực dụng kiểu Mỹ Hôn nhân có thể là nơi chôn vùi cảm xúc nhưng “miền đất hứa” tình cảm phải đối diện với thực tế khắc nghiệt và sự toàn vẹn. Đạo diễn Clint Eastwood khắc họa được cuộc chiến tranh tâm lý phức tạp của Francesca : không có máu đổ, không có tiếng súng nhưng dai dẳng, đeo bám cả cuộc đời. Cụ thể, bà nội trợ vùng Iowa phải lựa chọn giữa tình cảm và lý trí, giữa gia đình và người tình, giữa trách nhiệm và sự nuông chiều bản thân. Bộ phim phản ánh tính cách Mỹ, sự thực dụng kiểu Mỹ khi tường thuật lại một chuyện tình tuổi trung niên. Họ chỉ được phép chọn một lựa chọn duy nhất giữa muôn vàn lựa chọn. Trên tất cả, họ hiểu được điều quan trọng nhất trong cuộc sống tại từng thời điểm. Tuổi đời 30 năm của Những cây cầu quận Madison giúp khán giả yêu chậm, sống chậm để nhận ra triết lý tinh tế mà đạo diễn gửi gắm. (Theo Variety, Wikipedia, Roger Ebert)
Tại Pháp, các cửa hàng bán mỹ phẩm Hàn Quốc đã phát triển mạnh trong thời gian gần đây : khoảng 50 điểm kinh doanh được khánh thành tại Paris trong năm qua. Đà phát triển này càng được thấy rõ nhân kỳ Hội chợ mỹ phẩm quốc tế « Cosmetic 360 » lần thứ 11, diễn ra hồi trung tuần tháng 10/2025, tại khu vực Carrousel du Louvre ở trung tâm Paris. Trên hơn 300 quầy triển lãm, có đến một phần tư là các công ty liên doanh đến Paris để quảng bá mỹ phẩm Hàn Quốc. Theo ghi nhận của giới chuyên gia Pháp, Hàn Quốc đã trở thành một trong những nước dẫn đầu trong ngành sản xuất mỹ phẩm. Kim ngạch xuất khẩu hàng năm trong lãnh vực này đã vượt hơn 10 tỷ đô la trong năm 2024 và Seoul đặt ra mục tiêu chinh phục toàn bộ thị trường châu Âu. Sở dĩ mỹ phẩm Hàn Quốc trở nên phổ biến là vì sản phẩm có đầy đủ chất lượng nhưng giá vẫn mềm so với túi tiền của khách hàng châu Âu. Hơn nữa, mỹ phẩm xứ Hàn còn thường được gọi là K-Beauty, cũng như điện ảnh (K-Movie), âm nhạc (K-Pop) hay ẩm thực (K-Food) phần lớn được thúc đẩy bởi các mạng xã hội như TikTok hay Instagram, qua các đoạn video ngắn mà hiệu quả. Video trực tuyến khuyến khích người tiêu dùng tìm kiếm những sản phẩm chăm sóc làn da, mà thuật ngữ chuyên ngành gọi là « skincare », giành một vị trí quan trọng trong các dòng mỹ phẩm Hàn Quốc, như theo nhận xét của cô Dara, chuyên viên quản lý chuỗi cửa hàng mỹ phẩm Korean Cosmetics Paris. Dara : Phải công nhận rằng trong thời kỳ hậu Covid, đã có cơn sốt nơi người tiêu dùng đối với các loại mỹ phẩm Hàn Quốc. Cách đây một thập niên, mỹ phẩm Hàn Quốc ít được biết đến và chủ yếu được phổ biến trong giới trẻ yêu chuộng phim ảnh và âm nhạc đến từ Hàn Quốc. Nhưng giờ đây, người ta thực sự chứng kiến sự bùng nổ của K-Beauty trên thị trường Pháp. Các bạn trẻ ở Pháp thích dùng mỹ phẩm Hàn Quốc, vì tính đa dạng của các dòng sản phẩm chăm sóc làn da. Hơn nữa, giá cả mặt hàng cũng phải chăng hơn, hợp với túi tiền của giới trẻ nói riêng, người tiêu dùng nói chung, so với các hiệu mỹ phẩm thời trang lâu đời của Nhật cũng như của Pháp. Trong số những khách hàng quen thuộc của chuỗi cửa hiệu K.C Paris, có cô Elsa, 34 tuổi. Cách đây ba năm, cô khám phá lần đầu tiên dòng mỹ phẩm Hàn Quốc thông qua các mạng xã hội, và kể từ đó, Elsa theo dõi thường xuyên các tài khoản trên mạng chuyên đăng các đoạn video hướng dẫn về cách sử dụng mỹ phẩm Hàn Quốc. Elsa : Mỹ phẩm Hàn Quốc phát triển mạnh phần lớn là nhờ vào các mạng xã hội : chẳng hạn như sau khi được xem video hướng dẫn trên mạng TikTok, tôi đến tìm mua loại mặt nạ collagen để thử xem tác dụng của nó. Đây là loại mặt nạ mà bạn đắp lên mặt trong vòng bốn tiếng đồng hồ và trên nguyên tắc sẽ mang lại cho bạn một làn da rạng rỡ sáng ngời ngay sau khi dùng. Nhiều người bạn khuyên tôi nên dùng thử vài lần trước khi chuyển sang việc dùng hẳn các loại mỹ phẩm Hàn Quốc. Đặc điểm của mỹ phẩm Hàn Quốc là để chăm sóc làn da, bạn có thể tuân theo những « nghi thức » công phu gồm 10 bước khác nhau. Nhưng đối với những người tiêu dùng nào không có nhiều thời gian, bạn vẫn có thể dùng những quy trình đơn giản hơn chỉ cần vài giai đoạn quan trọng như tẩy da mặt, làm sạch lớp trang điểm rồi thoa kem dưỡng da cho làn da thêm tươi sáng, mịn màng. Thành công "thần kỳ" của K-Beauty là do tiếp thị thuần túy ? Có khá nhiều bạn trẻ ở Pháp đã khám phá và dùng thử mỹ phẩm Hàn Quốc sau những chuyến du lịch tại Seoul. Mục tiêu ban đầu của chuyến đi chỉ đơn thuần là tham quan, nhưng sau đó nhiều bạn trẻ ở Pháp như trường hợp của Alice, 24 tuổi, lại đâm ra ghiền nhạc K-Pop, ẩm thực đường phố cũng như mỹ phẩm Hàn Quốc. Alice : Vâng chỉ sau vài lần dùng thử, tôi bắt đầu ghiền các loại mỹ phẩm của Hàn Quốc, cho nên khi về Pháp tôi lại tìm mua các mặt hàng K-Beauty. Không chỉ một mình tôi, mà nhiều bạn khác cùng trang lứa đều bị cuốn hút. Giờ đây, cả nhóm chúng tôi đều là « fan » của mỹ phẩm Hàn Quốc. Ở ngay bên cạnh văn phòng làm việc của chúng tôi, có một cửa hàng chuyên bán mỹ phẩm Hàn Quốc, cho nên hầu như tuần nào, cả nhóm chúng tôi cũng đều rủ nhau đến đây một lần, để mua sắm hoặc dùng thử các sản phẩm mới được tung ra thị trường. Trong cùng một cửa hàng bạn có thể tìm thấy hàng chục loại kem dưỡng ẩm hoặc chống nắng khác nhau. Chúng tôi chủ yếu tìm mua các loại mặt nạ, sữa tẩy trang hay kem dưỡng da, « chống lão hóa ». Và không chỉ có mỹ phẩm dành cho phái nữ. Hàn Quốc đi đầu trong việc phát triển sản phẩm nhắm vào nhiều đối tượng khác nhau trong cùng một gia đình, chẳng hạn như ta có thể thấy có nhiều sản phẩm dành cho phái nam cũng như dành cho trẻ em, ngày càng được phổ biến. Tất nhiên, đối với các em nhỏ, không có nhiều loại kem để làm đẹp làn da mà chủ yếu là các sản phẩm chống dị ứng, dưỡng ẩm, giúp cho làn da bớt nứt nẻ, khô rát ….. Dưới thương hiệu K Beauty, giờ đây có hàng trăm loại mỹ phẩm được xem là có chất lượng nhờ hội tụ các thành phần chính ở một tỷ lệ cao, được xem là bổ dưỡng cho làn da. Trong số này có những sản phẩm độc đáo làm bằng cám gạo (keana rice), có tác dụng làm trắng làn da, xóa tàn nhang, bớt mờ nám. Loại hàm chứa nhiều nhân sâm cũng như vitamine C, có khả năng giữ cân bằng, giảm căng thẳng và bớt nếp nhăn. Loại mỹ phẩm làm với rau má (centella asiatica) hợp với những làn da nhạy cảm, do tính mát dịu, chống dị ứng nên giúp cho làn da bớt mụn, bớt bị khô rát, mẩn đỏ. Ngoài ra còn có các chất như axit hyaluronic có tác dụng dưỡng ẩm, giảm nếp nhăn và căng mịn làn da, các loại tinh chất DNA cá hồi hay chất nhầy ốc sên được cho là những « sáng chế » mới, có khả năng làm cho làn da thêm rạng rỡ, sáng ngời. Thế nhưng, theo bà Isabelle Rousseau, một bác sĩ thẩm mỹ ở Pháp và đồng thời là phó chủ tịch Hiệp hội các bác sĩ chuyên khoa da liễu, hiện vẫn chưa có bằng chứng khoa học cụ thể nào về hiệu quả của những thành phần gọi là « sáng chế mới » như chất nhầy ốc sên đối với làn da con người. Isabelle Rousseau : Vâng, tôi nghĩ rằng mỹ phẩm Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ, được phổ biến khắp nơi trước hết là do trào lưu hiện thời. Cho tới nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào, chứng minh được tác dụng thực sự của các chất gọi là bỗ dưỡng cho làn da. Chẳng hạn như trên thị trường hiện nay có bán rất nhiều loại thuốc viên kết hợp collagen và axit hyaluronic, được quảng cáo là giúp cho làn da căng mịn mà vẫn mềm mại dịu dàng. Vấn đề là theo nghiên cứu gần đây của giới bác sĩ chuyên khoa bệnh viện Lariboisière, cơ thể con người không hấp thụ được các chất như collagen qua đường tiêu hóa, khác với các loại vitamin. Do vậy uống thuốc viên để tăng chất collagen trong cơ thể, chẳng có tác dụng gì, nếu không nói là vô nghĩa. Trong mắt của giới bác sĩ chuyên khoa, có rất nhiều loại mỹ phẩm nói chung, thành công và thu hút nhiều người tiêu dùng trước hết là nhờ vào các đợt tiếp thị hiệu quả, chiến dịch quảng cáo tài tình. Sự thành công thần kỳ của K-Beauty phải chăng phần lớn là nhờ tiếp thị thuần túy ? Dù gì đi nữa, trong vòng chưa đầy hai thập niên (trào lưu K-Beauty bắt đầu trỗi dậy từ năm 2007) Hàn Quốc đã vươn lên thành một trong những nước xuất khẩu mỹ phẩm quan trọng hàng đầu, chỉ sau Pháp, Mỹ, và Đức nhưng vượt trội so với nước Ý. Mục tiêu của Hàn Quốc là lọt vào Top 3 trước năm 2030 và tăng gấp đôi doanh thu toàn cầu, đạt mức 20 tỷ đô la trên thế giới, từ đây cho đến vài năm tới. 
Thời còn trẻ, nhà thiết kế Paul Poiret nổi tiếng không kém gì Coco Chanel. Tạp chí thời trang lừng danh Vogue từng so sánh tài năng của ông ngang hàng với Christian Dior. Nhưng ngày nay, tên tuổi của Paul Poiret lại bị lãng quên, cho dù gương mặt tiên phong của trường phái Art Déco đã có công thay đổi thời trang phái nữ một cách sâu rộng. Tên tuổi của Paul Poiret gắn liền với thời kỳ Belle Époque đầu thế kỷ XX, thời Paris là kinh đô xa hoa, ngập tràn sáng tạo, phù phiếm lễ hội. Xu hướng thời trang thịnh hành lúc bấy giờ là những chiếc váy « lưng ong » đề cao những đường cong bằng chiếc áo corset nịt ngực. Với tư cách là học trò của hai nhà thiết kế lớn thời bấy giờ là Jacques Doucet và Charles Frederick Worth, ông Paul Poiret đã phá vỡ khuôn thước thẩm mỹ này, giúp « tháo gỡ » những ràng buộc trên cơ thể phụ nữ bằng cách thiết kế những kiểu váy với đường thằng đơn giản hơn (kiểu áo Joséphine, vợ của hoàng đế Napoléon). Chiếc áo nịt ngực thắt lưng (corset) nhường chỗ lại cho một dải ruy băng mềm mại, giúp cho phụ nữ đi đứng thoải mái. Trong vai trò của một người tiên phong (nổi danh cùng thời với bà Jeanne Lanvin), nhà thiết kế Paul Poiret đã ý thức rất sớm về tiềm năng của thương hiệu, ngoài trang phục ông cho sản xuất thêm các chai nước hoa, phụ kiện thời trang và nhiều sản phẩm khác. Để vinh danh tài năng này, Viện bảo tàng Nghệ thuật Trang trí ở quận 1, Paris tổ chức một cuộc triển lãm lớn « Paul Poiret :La mode est une fête » (Thời trang như lễ hội) từ đây cho tới trung tuần tháng Giêng năm 2026. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, cô Marie-Sophie Caron de la Carrière trưởng ban điều hành triển lãm và đồng thời là giám tuyển nghệ thuật cho biết đôi nét về thân thế sự nghiệp của ông Paul Poiret. Marie-Sophie Caron de la Carrière: Paul Poiret (1879-1944) là dân Paris chính hiệu, ông sinh trưởng trong một gia đình khá giả, bố ông à một nhà buôn vải cho nên ông đã lớn lên trong thế giới của gấm vóc, lụa là. Từ khi còn nhỏ, ông đã nuôi mộng trở thành một nhà thiết kế thời trang. Sự kiện quan trọng thúc đẩy ông chọn nghề này là khi cùng với song thân, ông đi xem cuộc Triển lãm Toàn cầu tại Paris năm 1889. Ông có kể lại điều này trong quyển hồi ký của mình. Vào lúc ấy, ông khám phá được nhiều nền văn hóa mà không cần phải đi đâu xa : nguyên tắc chính của Triển lãm Toàn cầu là mỗi quốc gia tham dự đều có một không gian triển lãm riêng để giới thiệu những nét hay nhất trong văn hóa nước nhà. Chính điều này đã khơi dậy sự tò mò, cũng như niềm khao khát được đi xa và khám phá những chân trời khác biệt. Những kiểu áo dài caftan của Thổ Nhĩ Kỳ, khăn xếp Ba Tư hay kimono của Nhật Bản đều gợi hứng rất nhiều cho Paul Poiret thiết kế các kiểu áo như váy hình chụp đèn, áo đầm suông, áo lụa rũ xếp. Nơi Paul Poiret, các kiểu áo may thẳng thon dài mềm mại, không còn siết chặt vòng eo khiến cho vóc dáng phụ nữ không còn giống như chiếc đồng hồ cát. Cuộc triển lãm lần này nhằm giúp cho giới trẻ thời nay khám phá (lại) nhà thiết kế thời trang Paul Poiret, thực sự là một nhân vật không may đã bị lãng quên, chính những sản phẩm của thương hiệu này giờ đây cũng không còn tồn tại nữa. Trong cuộc triển lãm này, có trích dẫn câu nói nổi tiếng của nhà thiết kế người Pháp Christian Dior về bậc đàn anh, theo đó ông Paul Poiret đã bước vào ngành thời trang cao cấp để rồi khuynh đảo mọi thứ. Vậy thì ông Paul Poiret đã thay đổi điều gì ? Cô Marie-Sophie Caron de la Carrière, giám tuyển nghệ thuật nhận xét : Marie-Sophie Caron de la Carrière : Theo tôi, ông Paul Poiret đã đem lại hai sự thay đổi lớn cho làng thời trang. Đầu tiên hết, ông đã hoàn toàn biến đổi vóc dáng của phụ nữ : quan niệm về nữ tính không chỉ được gắn liền với những đường cong trên cơ thể của người đàn bà. Từ khi mới vào nghề, ông đã muốn khuynh đảo những khuôn thước có sẵn cũng như những người bạn họa sĩ của ông đã từng làm với trường phái « dã thú ». Để phá vỡ truyền thống của chiếc corset, ông đã trao dồi tay nghề với Jacques Doucet và sau đó nữa là với Charles Frederick Worth. Hiệu thời trang « House of Worth » chuyên phục vụ giới quý tộc châu Âu hoặc giới thượng lưu ở Mỹ thời bấy giờ. Các kiểu váy xòe, với nhiều thước vải khiến cho phụ nữ không dễ chuyển động, đứng ngồi. Việc lược bỏ các chi tiết rườm rà, thiết kế từ những năm 1910 những đường nét vuông vức thẳng đứng, khiến cho Paul Poiret trở thành gương mặt tiên phong của trường phái Art Déco, thịnh hành từ năm 1925. Yếu tố quan trọng thứ nhì là Paul Poiret không những thay đổi hình dáng của phụ nữ mà còn thay đổi luôn vai trò của một nhà thiết kế thời trang. Nhà thiết kế không còn đơn thuần may quần áo theo đơn đặt hàng, mà thực sự góp phần làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn. Ngoài thiết kế trang phục, Paul Poiret còn thành lập một công ty chuyên về trang trí nội thất, sản xuất nước hoa và mỹ phẩm. Đây là một thay đổi lớn trong ngành thời trang, khi nhà thiết kế có một tầm nhìn và lối tiếp cận toàn diện hơn về phụ nữ cũng như môi trường sống của họ. Paul Poiret đã sáng tạo ra điều mà thời nay được gọi là « liefestyle » (có nghĩa là lối sống hay phong cách sống). Các nhà thiết kế sau đó như Giogio Armani hay Ralph Lauren đều nâng lifestyle lên hàng nghệ thuật, rồi trở thành nhưng vị đại sứ toàn cầu cho gu thẩm mỹ thời trang. Thời trang không còn đơn thuần là quần áo, mà còn thể hiện một lối sống bao gồm cả thói quen và sở thích, từ chuyện ăn uống đến chơi thể thao hay giải trí. Chỉ riêng về điểm này có thể nói là ông Paul Poiret là một nhân vật tiên phong, đi trước thời của mình trước ngày đời của các thuật ngữ như lifestyle (phong cách sống) hoặc marketing (tiếp thị). Nhân cuộc triển lãm tại Bảo tàng Nghệ thuật trang trí ở Paris, nhiều mùi nước hoa đã được tái tạo hơn một thế kỷ sau lần phát hành đầu tiên, như mùi hương Rosine mang tên con gái của Paul Poiret hay là kiểu chai nước hoa « Le Fruit Défendu » (Trái cấm) ăn khách vào đầu thế kỷ XX. Paul Poiret đã vào nghề thiết kế gần 10 năm trước Chanel. Ngoài đời, hai công ty này là đối thủ cạnh tranh, với phong cách thời trang hoàn toàn khác biệt. Câu hỏi đặt ra là tại sao Chanel nay vẫn là một thương hiệu toàn cầu trong khi Paul Poiret giờ đây lại không còn tồn tại ? Marie-Sophie Caron de la Carrière : Một hiệu thời trang thực sự tồn tại khi nhà thiết kế có được một sự hậu thuẫn vững chắc về mặt tài chính. Chẳng hạn như hiệu Yves Saint Laurent tồn tại được lâu nhờ vào ông Pierre Bergé. Còn trong trường hợp của hiệu Chanel, gia đình Wertheimer, qua thỏa thuận hợp tác với Chanel, đã giúp cho thương hiệu trải qua bao sóng gió. Về phía Paul Poiret, ông đã không lập quan hệ đối tác với bất cứ nhà đầu tư nào, mục đích của ông là duy trì tính độc lập, quyền kiểm soát công ty, để làm theo ý mình. Vấn đề ở đây là Paul Poiret đã không trông rộng nhìn xa : do không đủ nguồn tài chính, công ty Paul Poiret đã sụp đổ khá nhanh sau khi Đệ nhất Thế chiến bùng nổ, thương hiệu này rốt cuộc đã biến mất. Một trong những điểm thành công trong cuộc triển lãm về Paul Poiret, là ban tổ chức đã tạo ra được một cuộc đối thoại giữa các tác phẩm thời xưa với các sáng tạo thời nay, cho thấy được tầm ảnh hưởng của ông lên thế hệ nghệ sĩ lừng danh đi sau kể cả Elsa Schiaparelli, Yves Saint-Laurent hay Castelbaljac. Các bộ sưu tập của họ từng gợi hứng ít nhiều từ những tác phẩm của bậc tiền bối. Thực tế cho thấy thương hiệu này không còn tồn tại, nhưng trước sự đóng góp của Paul Poiret cho làng thời trang, thủ đô Paris ,tuy không thể trả lại cho hoàng đế César một ngai vàng, nhưng vẫn khôi phục phần nào ánh hào quang của một tài năng không may bị chìm vào quên lãng.
Chính với nhạc phẩm kinh điển « Jamaica Farewell » (Giã từ Jamaica), Gerard Joling mở màn vòng lưu diễn châu Âu vào mùa thu 2025. Nam danh ca người Hà Lan đã chọn sân khấu làm nơi ăn mừng với giới hâm mộ 40 năm sự nghiệp. Trong số những giai điệu ăn khách của ông, một số bài từng được đặt thêm lời Việt như « Cho em về miền nắng ấm » của nhạc sĩ Phú Quang hay « Lời yêu thương » của tác giả Đức Huy. Năm nay 65 tuổi, Gerard Joling nổi tiếng tại Hà Lan từ giữa những năm 1980, ban đầu như một ca sĩ và sau đó như một người dẫn chương trình truyền hình. Sinh trưởng tại thị trấn Schagen, (phía bắc Hà Lan) cách thành phố Amsterdam hơn 60 cây số, Gerard Joling ban đầu vào nghề sân khấu như một diễn viên múa, xuất hiện trong nhiều video nhạc pop của các nhóm nhạc trẻ ăn khách tại Hà Lan thời bấy giờ như Earth & Fire hay Dolly Dots. Dịp may đến với ông vào năm 1985, nhờ lọt vào vòng chung kết chương trình thi hát SoundMixshow của Henny Huisman, Gerard Joling ký được hợp đồng ghi âm chuyên nghiệp đầu tiên. Tuy không về đầu cuộc thi, nhưng Gerard Joling sau đó lại nổi tiếng hơn cả giọng ca đoạt giải nhất. Hai đĩa đơn ghi âm vào năm 1985, bao gồm « Love Is In Your Eyes » (Tình yêu trong đôi mắt) và « Ticket To The Tropics » (Về miền nắng ấm) giúp cho Gerard Joling từng bước chinh phục hạng nhất thị trường Hà Lan.  Bốn năm sau khi thành công tại nước nhà, Gerard Joling thực hiện bước đột phá trên thị trường quốc tế với album phòng thu thứ tư. Tập nhạc « No more bolero's » (1989) thành công lớn tại Hà Lan cũng như ở nước ngoài. Album này đứng đầu bảng xếp hạng tại nhiều nước châu Âu trong nhiều tuần liên tục. Sau khi được mời làm giọng ca đại diện cho Hà Lan nhân Cuộc thi hát Truyền hình châu Âu Eurovision vào năm 1988, Gerard Joling chinh phục thêm thị trường châu Á vào đầu thập niên 1990, trở thành nghệ sĩ Hà Lan ăn khách nhất ở nước ngoài. Nhân một cuộc phỏng vấn gần đây trên kênh truyền hình RTL, Gerard Joling cho biết là tính đến nay anh đã bán được hơn 30 triệu đĩa nhạc, trong đó có một nửa là nhờ vào thành công trên các thị trường châu Á từ cuối những năm 1980.  Song song với nghề ca hát, Gerard Joling càng thêm nổi tiếng một thập niên sau đó nhờ dẫn nhiều show truyền hình, hay làm giám khảo trong các cuộc thi tuyển lựa tài năng mới như « Popstars », Giọng ca hay nhất Hà Lan « The Voice Senior of Holland » hay Ca sĩ mặt nạ « The Masked Singer » …Ban đầu khởi nghiệp hát solo, ông còn nổi tiếng nhờ hợp tac với nhiều tên tuổi khác trong làng giải trí : trong đó thành công nhất vẫn là ban nhạc De Toppers được thành lập lần đầu tiên vào năm 2005, cách đây vừa đúng hai thập niên.  Khi Gerard Joling hợp tác với hai ca sĩ trứ danh khác là René Froger và Gordon Heuckeroth, kế hoạch ban đầu của họ là tổ chức một đêm nhạc chủ đề với những ca khúc nổi tiếng, ba ca sĩ hát luân phiên, tiếp sức cho nhau và thường chỉ biểu diễn một lần duy nhất trên sân vận động. Thế nhưng trước sự thành công vang dội, vượt ngoài mọi dự đoán, nhóm De Toppers tổ chức biểu diễn ở quy mô lớn thường xuyên hơn.  Các đêm nhạc của họ trở thành điểm hẹn hàng năm của giới yêu nhạc nhẹ. Đội hình của nhóm đã thay đổi sau hai thập niên hoạt động và hiện bao gồm Gerard Joling, René Froger, Jeroen Van Der Boom và Jan Smit, chứ không còn có sự tham gia của Gordon Heuckeroth. Mặc dù khá bận rộn với lịch diễn tại châu Âu, nhưng Gerard Joling vẫn sẽ có mặt tại buổi trình diễn của nhóm De Toppers vào mùa Giáng Sinh năm 2025 trên sân vận động thành phố Rotterdam.  Trong vòng 40 năm sự nghiệp, Gerard Joling đã ghi âm khoảng 20 album solo và hàng chục album cộng tác với nhiều nghệ sĩ khác. Một trong những tập nhạc hay nhất của ông mang tựa đề « Nostalgia » (Hoài niệm) khi ông thể hiện lại những giai điệu kinh điển trữ tình bằng chất giọng tenor ấm áp du dương của mình. Những bài ca nồng ấm kỷ niệm, từ  « Unchained Melody » giai điệu tái sinh cho đến « Love Story»  muôn thuở một chuyện tình.
Mùa thu theo truyền thống là mùa tổ chức hội chợ rượu vang tại Pháp. Trong vòng một tháng, các chuỗi siêu thị ở Pháp đều có những chương trình khuyến mại hấp dẫn như mua bốn chai tặng hai, hay mua hai tặng một. Vào lúc mức sản xuất vẫn còn cao trong khi đà tiêu thụ lại giảm sút, hội chợ mùa thu 2025 phần nào giúp ngành sản xuất rượu vang Pháp, bù đắp những thiệt hại, giải quyết hàng tồn kho. Cuộc khủng hoảng rượu vang không chỉ liên quan tới Pháp mà còn diễn ra tại nhiều nước khác trên thế giới. Theo Tổ chức quốc tế về Nho và Rượu vang OIV, tính từ hơn 6 thập niên qua, chưa bao giờ sản lượng rượu vang toàn cầu xuống đến một mức thấp như vậy : 237 triệu hectolit trong năm 2024 trên thế giới, tức giảm 2% so với năm 2023 và giảm 16% so với một thập niên trước.  Nhìn chung, các nhà sản xuất rượu vang Pháp đang phải đối mặt với một tình huống khó khăn. Ngoài thời tiết bất lợi và các loài côn trùng, nấm mốc khiến ngành trồng nho bị mất mùa, các nhà sản xuất còn phải đối mặt với hiện tượng người tiêu dùng đang dần thay đổi thói quen : người lớn tuổi ngày càng ít uống rượu vang, trong khi nhiều bạn trẻ ở Pháp thích dùng bia hay các loại thức uống ít có cồn. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Raphaël Schirmer, giảng viên chuyên về rượu vang tại Đại học Bordeaux Montaigne, cho biết cuộc khủng hoảng rượu vang trong những năm gần đây không hẳn là một tin xấu đối với mọi người. Raphaël Schirmer : Tôi không nghĩ đó nhất thiết là một tin xấu. Thị trường quốc tế đã chịu nhiều áp lực mạnh do phát triển thiếu đồng đều trong những năm gần đây. Chúng ta đang ở trong giai đoạn sản xuất hàng năm quá mức. Vì vậy, điều này chủ yếu gây bất lợi cho các nhà sản xuất lớn, nhưng lại là một cơ hội thuận lợi cho những nhà sản xuất nhỏ. Tuy họ sản xuất rượu vang ít hơn nhưng với chất lượng cao hơn, đáp ứng được xu hướng hiện thời : người tiêu dùng bớt uống rượu vang nhưng lại chịu mua rượu ngon với giá cao hơn. Nhìn chung, trên thị trường hiện giờ, mức cung lúc nào cũng cao hơn mức cầu. Sản lượng tại Pháp vượt xa mức tiêu thụ. Đó là trường hợp điển hình của vùng Bordeaux.Từ vài năm qua, vùng Bordeaux đều sản xuất dư thừa trong khi nhu cầu tiêu dùng ngày càng giảm xuống. Cuộc khủng hoảng vì thế ngày càng trầm trọng, nhiều công ty kinh doanh ở Bordeaux không bán được rượu, dẫn đến tình trạng nhổ bớt các gốc cây nho (trên một diện tích 10.000 hécta) để điều chỉnh mức sản xuất hàng năm. Đây là một thời kỳ hết sức khó khăn đối với những gia đình chuyên trồng nho để làm rượu ở Pháp. Do bị tác động mạnh mẽ, nên công ty kinh doanh rượu vang cần được hội đồng cấp vùng giúp đỡ. Trong một số trường hợp, đó không còn đơn thuần là một vấn đề kinh tế mà còn liên quan đến truyền thống và di sản. Chính quyền có thể tài trợ giúp một công ty chuyển hoạt động sang một ngành khác, nhưng rất khó thể nào thuyết phục một gia đình sống  nhờ nghề trồng nho làm rượu trong nhiều thế hệ, từ đời này sang đời nọ, phải đổi nghề, vì đó là lẽ sống của họ.  Về phần mình, ông Valentin Morel là chủ nông trại Les Pieds sur Terre ở vùng Jura và đồng thời là tác giả quyển sách Un autre vin nói về việc sản xuất rượu vang tự nhiên (nhà xuất bản Flammarion). Theo ông, cuộc khủng hoảng hiện nay cũng đặt lại vấn đề thâm canh, năng suất thu hoạch cao trong khi mức tiêu dùng lại giảm. Valentin Morel : Trước những khó khăn hiện thời, thiết nghĩ chúng ta cũng nên đặt câu hỏi, phải chăng đã đến lúc chúng ta nên giảm bớt việc sản xuất rượu vang, nhưng với chất lượng cao hơn. Đây không phải là một xu hướng nhất thời mà lại kéo dài từ nhiều năm qua trong xã hội : dù muốn hay không người tiêu dùng ở Pháp ngày càng bớt uống rượu vang. Câu hỏi đặt ra vẫn là : thay vì tập trung sản xuất ồ ạt, chúng ta có nên quay lại với một nền nông nghiệp chừng mực, một ngành sản xuất nuôi sống con người, có được một chút dư dã thì càng tốt, nhưng không phải lúc nào cũng phải chạy theo lợi nhuận. Hầu hết các vùng từng đầu tư nhiều, để có được năng suất cao như ở Chilê, Tây Ban Nha, Ý hay Pháp đều gặp khó khăn, các nhà sản xuất giờ đây phải tính đến những giải pháp thay thế chứ không còn có thể dựa vào doanh hu của ngành trồng nho. Trước câu hỏi làm thế nào để cân bằng lại sản lượng khi mức tiêu thụ trên thế giới nhìn chung đều đang giảm xuống, ông Raphaël Schirmer, giảng viên trường Đại học Bordeaux Montaigne, nhận xét : Raphaël Schirmer : Trước hết, tôi xin nói rõ rằng mức tiêu thụ đang giảm về mặt khối lượng, nhưng lại không giảm về mặt doanh thu. Điều đó có nghĩa là ở Pháp, chúng ta uống rượu vang ít hơn, nhưng bù lại, các nhà kinh doanh vẫn bán được các chai rượu ngon với giá cao hơn. Họa người phúc ta ? Cuộc khủng hoảng của một số vùng sản xuất rượu vang cũng tạo cơ hội cho một nhà sản xuất khác ở Pháp bán được rượu vang được xem là có chất lượng. Vào những năm 1950, mọi gia đình thực sự uống rất nhiều rượu vang hầu như trong mỗi bữa ăn. Hiện thời, xu hướng tiêu dùng này đã thay đổi. Cách tiêu thụ rượu vang nay thường mang tính lễ hội, điều đó có nghĩa là người Pháp thích dùng bữa ăn với gia đình, bạn bè, và khi có dịp, họ uống các loại rượu vang ngon, đắt tiền và có chất lượng hơn, so với những gì người Pháp uống vào giữa thế kỷ XX. Trong giới trẻ, rượu vang vẫn được coi là một sản phẩm đắt hơn, ít phù hợp với túi tiền của họ, điều đó giải thích vì sao giới trẻ uống nhiều bia hơn rượu vang so với các thế hệ trước. Nhưng bù lại, khi mọi người tổ chức ăn tối tại nhà với bạn bè, người thân, hoặc trong các bữa tiệc cuối năm, đa số người tiêu dùng thích chọn các chai rượu vang hảo hạng hay các hiệu sâm panh ngon. Có thể nói là ở Pháp, rượu vang vẫn gắn liền với một số truyền thống lễ lạc, người ta nói khui rượu ăn mừng, chứ không ai nói khui bia ăn mừng. Làm thế nào để thích ứng với biến đổi khí hậu ? Thời tiết thất thường khiến ngành trồng nho dễ bị mất mùa. Trong khi 80% sản lượng rượu vang trên thế giới hiện nay đến từ những nước có khí hậu ôn hòa, đặc biệt là ở vùng Địa Trung Hải. Chuyên gia Raphaël Schirmer giải thích : Raphaël Schirmer : Biến đổi khí hậu vẫn là mối đe dọa đối với các nhà trồng nho, buộc ngành sản xuất thử nghiệm một số giải pháp. Một trong những biện pháp đầu tiên là tránh cho cây nho tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng. Các nhà trồng nho lập những khu vườn nhìn về hướng bắc, điều này sẽ giảm lượng ánh nắng trực tiếp so với các sườn đồi hướng nam. Ngoài ra, còn có câu hỏi về các giống nho được trồng. Đôi khi việc tuyển lựa giống nho đến từ các nước Nam Âu, giúp cho vườn nho chịu nắng, chịu khô tốt hơn. Chẳng hạn như tại vùng Bordeaux, Viện nghiên cứu Nho và Rượu vang đang trồng thử một loài nho Bồ Đào Nha (touriga nacional), để xem giống nho này có thể thích nghi với khí hậu của vùng Bordeaux như thế nào. Còn theo nhà sản xuất rượu vang vùng Jura Valentin Morel, bên cạnh những đề xuất của ngành nông nghiệp truyền thống, việc phát triển các kỹ thuật canh tác bền vững cũng như trồng nho theo phương pháp tự nhiên là một giải pháp khả thi, có thể giúp ứng phó với mối đe dọa biến đổi khí hậu trong những năm tới.  Valentin Morel : Cho dù tôi ủng hộ ngoành nông nghiệp bền vững, nhưng theo tôi các biện pháp trồng trọt tự nhiên là một trong những câu trả lời, chứ chưa phải là giải pháp tối ưu. Tôi nghĩ rằng để đối phó với khủng hoảng, ngành trồng nho nên kết hợp cùng lúc nhiều phương pháp. Đầu tiên hết chúng ta nên hỗ trợ các nhà trồng nho đang gặp khó khăn, giúp họ thay đổi dần các phương thức canh tác. Biện pháp thứ nhì là kết hợp các kỹ thuật nông-lâm : một mặt gieo mầm để trồng thêm nhiều loài rau quả, hạt đậu. Các loài cây mọc sát đất này giống như một tấm thảm « thực vật » che nắng, giúp cho mặt đất không bị quá khô hay quá nóng. Ngoài ra, trồng cây ở xung quanh vườn nho để tạo thêm bóng râm, giúp duy trì độ mát và độ ẩm. Một điều quan trọng khác nữa là việc lựa chọn giống nho : nên chọn các giống nho có khả năng kháng bệnh và chịu đựng thời tiết khắc nghiệt. Các nhà sản xuất rượu ở vùng Jura như tôi đều nhận thấy rằng hai nước láng giềng Đức và Thụy Sĩ đều tiến bộ hơn nhiều so với nước Pháp. Các giống nho có khả năng kháng bệnh cao thường là những gốc nho xuất phát từ quá trình cấy ghép, lai giống. Đức và Thụy Sĩ thường ghép các giống nho của châu Âu với các giống nho đến từ châu Mỹ. Có lẽ cũng vì thế, các gốc nho "lai giống này" có khả năng kháng cự tốt hơn vì phần lớn các loại bệnh dễ lan truyền lại đến từ châu Mỹ, trong đó có các bệnh do côn trùng (phylloxera) hoặc do các loài nấm (mildiou hay odium) gây ra . Theo nhận xét của các chuyên gia, việc trồng các gốc nho "lai giống" cũng ít gây ô nhiễm bởi vì các nhà sản xuất không cần phải dùng nhiều chất hóa học để bảo vệ mùa màng, đề phòng hoặc diệt bệnh. Trong tương lai, đây là một trong những giải pháp hữu hiệu và khả thi. Việc chọn các giống nho có khả năng kháng cự, giúp giảm bớt việc dùng thuốc trừ sâu, bảo vệ đất canh tác và rượu vang được sản xuất một cách tự nhiên hơn. Trong số các giải pháp để bảo vệ ngành trồng nho, việc kết hợp các kỹ thuật canh tác nông-lâm và sử dụng các gốc nho lai giống vẫn là những biện pháp ít tốn kém, song song với việc duy trì sản xuất rượu vang ngon, ở một mức hợp lý, phải chăng.
Trong số 20.000 người Việt Nam được đưa đến Pháp làm việc trong giai đoạn 1940-1944, khoảng 4.000 được đưa đến làm việc tại nhà máy thuốc súng ở Bergerac, sau đó bị đưa đi làm thuê trong các trang trại quanh vùng sau khi chính phủ Vichy hợp tác với Đức. Họ sống như bị giam lỏng trong trại, thiếu ăn, bệnh tật do điều kiện sống khổ cực, bị phân biệt đối xử. Họ bị kẹt ở "Mẫu quốc" vì cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở Việt Nam. Cuộc sống của họ được ghi lại trong khoảng 1.000 bức ảnh của Robert Bondier, ông chủ một tiệm ảnh ở Bergerac trong thập niên 1930-1970. Lần đầu tiên, những bức ảnh này được giới thiệu trong triển lãm "Từ Mêkông đến sông Vézère, những người bị lãng quên trong lịch sử : Lính thợ Đông Dương ở Dordogne 1940-1948" (Du Mékong à la Vézère, les oubliés de l’Histoire : Travailleurs indochinois en Dordogne 1940-1948). Đây là một trong bốn công trình được sử gia Pierre Daum, nhà báo của nguyệt san Le Monde Diplomatique, và ông Michel Lecat, hiện sở hữu bộ sưu tập ảnh của ông nội Robert Bondier, thực hiện để những người lính thợ Đông Dương không còn bị quên lãng trong lịch sử. Công trình thứ hai là gắn bia ghi công 62 người lính thợ Đông Dương qua đời ở Bergerac, được tổ chức ngày 10/10/2025. Sử gia Pierre Daum đã dành cho RFI Tiếng Việt một buổi phỏng vấn về chủ đề này. RFI : Khoảng 4.000 người Việt Nam đã được đưa đến Bergerac ở Périgord từ năm 1940 đến năm 1944. Vậy trong bối cảnh nào và tại sao họ lại đến Pháp, đặc biệt là ở Périgord và Bergerac? Sử gia Pierre Daum : Năm 1939, khi Pháp tham chiến tranh, chính quyền thực dân Pháp đã tuyển mộ, tự nguyện hoặc cưỡng bức, 20.000 nông dân Việt Nam từ tất cả các làng mạc ở nước Việt Nam thuộc địa. Những người này được đưa lên thuyền, đến Marseille, và ở đó họ được phân bổ khắp nước Pháp đến các nhà máy vũ khí, đặc biệt là các nhà máy thuốc súng. Ở Bergerac, từ một thế kỷ qua đã có một nhà máy thuốc súng rất lớn, và đó là lý do tại sao 4.000 người trong số họ được đưa đến nhà máy thuốc súng Bergerac. Đọc thêm"Lính thợ Đông Dương" : Những người lính thầm lặng tại Pháp trong Thế Chiến II RFI : Vậy họ làm những công việc gì ở Bergerac? Pierre Daum : Khi họ đến, vì là nông dân nên công việc giao cho họ ở nhà máy thuốc súng cũng khá đơn giản, chỉ là nạp thuốc súng vào vỏ đạn. Công việc này tuy đơn giản nhưng lại rất nguy hiểm và gây tổn thương cho da rất nhiều vì thuốc súng rất khó chịu. Vào tháng 06/1940, quân đội Pháp thua quân đội Đức, nên tất cả các nhà máy sản xuất thuốc súng ở Pháp đều đóng cửa. Sau đó, những người này bị giữ lại nhiều năm trong một trại ở Bergerac, và Nhà nước Pháp cho họ đi làm thuê ở các trang trại hoặc doanh nghiệp nhỏ, kể cả những doanh nghiệp chặt gỗ và biến thành than củi, những nhà thu hoạch hạt dẻ, và trong các vườn nho vì Dordogne cũng là vùng sản xuất rượu vang. Và đúng là họ đã tìm được công việc phù hợp hơn với xuất thân nhà nông của họ, chủ yếu là trồng lúa. Ở Dordogne không có ruộng lúa nhưng nhiều đồng hương của họ trồng lúa nước ở vùng Camargue, còn ở Dordogne, công việc tập trung vào cây nho, hạt dẻ và gỗ nhiều hơn. RFI : Ông từng nhấn mạnh là lính thợ Đông Dương bị đối xử bất công, bị ngược đãi ở Bergerac. Tại sao lại có sự phân biệt đối xử đó và tại sao họ phải sống trong những điều kiện như vậy? Pierre Daum : Người lao động Đông Dương ở Bergerac, cũng giống như mọi nơi khác ở Pháp, đều trong tình trạng bị áp bức thuộc địa ngay trên đất Pháp. Đó là tình trạng áp bức thuộc địa, phân biệt chủng tộc thuộc địa tương tự như những gì họ đã trải qua ở Việt Nam. Ngoại trừ ở đây, họ được đưa đến Pháp, và ví dụ tại Bergerac, họ bị nhốt trong trại. Họ có thể ra ngoài vài giờ mỗi ngày và phải nằm dưới quyền điều hành của một đội quản lý Pháp, thường bao gồm các sĩ quan và hạ sĩ quan từ quân đội thuộc địa ở Đông Dương, những người tin rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn, giống như lính Pháp tin rằng họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn ở Việt Nam. Vì vậy, ngay khi một người Việt Nam chỉ trích chỉ huy của họ hoặc phàn nàn về việc không được ăn uống đầy đủ, họ sẽ bị đánh bằng gậy. Thậm chí bên trong trại Bergerac còn có một hầm ngục, và ít nhất một nửa số người Việt Nam ở Bergerac đã bị nhốt trong hầm ngục này hàng tuần liền. Ngoài ra phải kể đến một điều rất quan trọng, đội quản lý Pháp, trong suốt những năm đó, đã không ngần ngại ăn cắp lương thực dành cho những người Việt Nam này. Vì vậy, những người Việt Nam này bị đói thực sự. Còn các dãy nhà thì không hề được sưởi ấm, nên rất, rất lạnh. Kết quả là vì đói, lạnh, bắt nạt, áp bức, số người chết bên trong trại Bergerac cao gấp bốn lần so với người dân Pháp ở thị trấn Bergerac. Đọc thêmPháp : Bảo tồn ký ức lính thợ Đông Dương trong Thế Chiến II RFI : Thứ Sáu ngày 10/10/2025, thành phố Bergerac khánh thành một tấm bia tưởng niệm 62 lính thợ Đông Dương. Tại sao lại là 62 người? Phải chăng họ bị lãng quên trong lịch sử của vùng và lịch sử nước Pháp? Pierre Daum : Như tôi đã nói, tỷ lệ tử vong trong trại Bergerac cao gấp bốn lần so với bên ngoài. Vì vậy, những người đàn ông bị bệnh, và tình trạng quá tải đã khiến bệnh tật lây lan trong cộng đồng lính thợ Đông Dương, đặc biệt là bệnh lao. Hầu hết những người bị bệnh được đưa đến các bệnh viện lớn ở Bordeaux và Marseille, và trên thực tế, nhiều người đã chết ở Bordeaux và Marseille. 62 người trong số họ đã chết ở Bergerac. Ban đầu, họ được chôn cất tại một nghĩa trang, tên là nghĩa trang Pont Saint-Jean. Mộ của họ rất đẹp, tôi đã tìm được nhiều tấm ảnh chụp những ngôi mộ đó ở nghĩa trang này. Năm 1972, chính quyền thành phố Bergerac cần phải lấy lại không gian trong nghĩa trang đó nên các nhân viên thành phố đã đào tất cả các ngôi mộ lên. Họ đặt hài cốt của 62 người đàn ông này gọn gàng trong những chiếc hộp gỗ nhỏ, có đánh số và lập danh sách với số hiệu và tên của 62 người. Sau đó, 62 chiếc hộp được chuyển đến một nghĩa trang khác ở Bergerac, nơi có một lăng mộ Đông Dương tưởng niệm những người đã chết trong Thế Chiến I. Và 62 chiếc hộp đó được đặt dưới lăng mộ này. Tiếc là mọi người đã quên chúng, không ai nghĩ đến việc viết tên 62 người đã khuất lên trên lăng mộ đó để chúng ta nhớ rằng có 62 người yên nghỉ bên dưới. Khi tôi bắt đầu nghiên cứu cách đây 3 năm, tôi phát hiện ra câu chuyện này. Tôi đến gặp chính quyền thành phố Bergerac, nói với họ : “Từ 70 năm qua, có 62 người Việt Nam được chôn cất ở thành phố, nhưng không ai biết, không có tấm bia nào, không có gì cả. Họ đã bị lãng quên”. Chính quyền thành phố Bergerac đã nói với tôi là nếu tôi cung cấp danh sách chính xác tên của 62 người, họ sẽ mời một nhà chuyên nghiệp khắc tên 62 người quá cố lên một tấm bia đá cẩm thạch và sẽ đặt bia ở một vị trí nổi bật. Cho nên, thứ Sáu ngày 10/10, chúng tôi sẽ khánh thành tấm bia cẩm thạch để tưởng nhớ 62 người lính thợ Đông Dương ở Bergerac. RFI : Khi chiến tranh kết thúc, những người lao động Đông Dương khác có được hồi hương về Việt Nam không? Chuyện gì đến với họ? Pierre Daum : Khi Thế Chiến kết thúc, vào năm 1945, tất cả những người bị kẹt lại ở Pháp, bị giam cầm ở Pháp và ở Bergerac trong 5 năm, chỉ có một mong muốn duy nhất : được trở về nhà. Và họ chờ chính phủ Pháp tổ chức các chuyến hồi hương. Nhưng chính vào thời điểm đó, nhân dân Việt Nam đã nổi dậy chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Phản ứng của chính phủ Pháp, như chúng ta đã biết, là không chấp nhận nền độc lập của Việt Nam, như Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã yêu cầu. Tất cả tàu thuyền từng được lên kế hoạch để đưa những người lao động Đông Dương hồi hương cuối cùng lại bị quân đội Pháp trưng dụng để đưa quân lính đến đàn áp khát vọng độc lập của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, những người lao động Đông Dương sẽ phải chờ thêm bốn năm nữa, tức là đến năm 1948, để cuối cùng, chính phủ Pháp bắt đầu tổ chức tàu thuyền đưa họ về Việt Nam. Quá trình hồi hương mất một thời gian dài, bắt đầu vào cuối năm 1948 và kết thúc vào năm 1952. Và trong số 20.000 người ban đầu được điều động đến Pháp vào năm 1939-1940, khoảng 16.000 người trở về, 1.000 người trong số họ đã chết, như tôi đã đề cập và từ 2.000 đến 3.000 người quyết định ở lại Pháp. Lý do chính là vì họ đã gặp một phụ nữ Pháp và bạn gái của họ mang thai. Phần lớn lúc đó là họ chưa kết hôn. Ở Pháp trong thập niên 1940, khi bạn gái mang thai, đó thực sự là một bi kịch. Vì vậy, hầu hết những người đàn ông đó đã đưa ra lựa chọn đau đớn là không trở về Việt Nam để ở lại Pháp làm trọng trách làm cha. Có khoảng 2.000 đến 3.000 gia đình Pháp-Việt được hình thành ở Pháp. Tôi biết rất nhiều, rất nhiều trong số họ. Và trong hầu hết các gia đình, con đầu lòng được sinh ra trước khi kết hôn. Sau khi đứa bé chào đời, cha mẹ đã làm giấy tờ hợp lệ và họ kết hôn, có thêm rất nhiều con. Đó là thường là những gia đình khá đông con. Đọc thêmNhững người Việt giúp cải tiến gạo Pháp ở Camargue trong Thế Chiến II RFI : Ông và ông Michel Lecat đang thực hiện một dự án lớn về ký ức của những người lính thợ Đông Dương ở Dordogne. Xin ông cho biết thêm đôi chút về dự án này! Pierre Daum : Michel Lecat là người Pháp đến từ Bergerac, ông đã nghỉ hưu. Ông nội của ông ấy là Robert Bondier, một nhiếp ảnh gia ở Bergerac. Ông Bondier có một cửa hàng ảnh trong 50 năm. Sau khi ông nội của ông qua đời, Michel Lecat đã phát hiện ra 150.000 bức ảnh hoặc phim âm bản trên gác xép của cửa hàng, ghi lại toàn bộ cuộc sống ở Bergerac từ năm 1930 đến năm 1970. Và trong số 150.000 bức ảnh đó, có 1.000 bức ảnh có người Việt Nam và đó là những người lính thợ Đông Dương, hầu hết bị ép đến đến Bergerac vào năm 1940. Họ chỉ có vài giờ tự do mỗi tuần, và nhiều người trong số họ đã đến gặp ông của Michel Lecat để chụp ảnh với ý định sau đó sẽ gửi bức ảnh này về Việt Nam để trấn an gia đình, bởi vì dĩ nhiên là gia đình họ rất lo lắng cho người con đang ở nơi rất xa, ở một châu Âu đang có chiến tranh và họ không có tin tức gì. Bức ảnh là một cách để nói với cha mẹ anh ấy rằng “Đừng lo lắng, nhìn này, con khỏe mạnh, con ăn mặc bảnh bao”… Thêm nữa, ông của Lecat cũng đã đến chụp ảnh trong trại người lao động Đông Dương. Đó là một bộ sưu tập ảnh
Tại Pháp, chưa bao giờ tài trợ cho văn hóa lại rơi vào trình trạng như vậy, bị giảm gần 66 triệu euro trong năm 2025. Nhiều cuộc biểu tình, tuần hành đã diễn ra để cảnh báo mối nguy hiểm của việc thiếu đầu tư vào văn hóa, nhưng nhìn chung các cơ sở, hiệp hội đang phải gồng mình thích ứng với chính sách “thắt lưng buộc bụng”. Các khoản tài trợ cho văn hóa đến từ chính phủ và chính quyền địa phương - từ cấp vùng, tỉnh đến thành phố. Cho dù “khối địa phương” vẫn đứng đầu nhưng ngân sách dành cho văn hóa đã bị giảm đi bốn lần so với năm trước. 70% tỉnh và vùng đã giảm chi tiêu cho văn hóa, trong khi chỉ có 20% vào năm 2024. Văn hóa cũng bị “thắt lưng buộc bụng” Mọi lĩnh vực văn hóa đều bị ảnh hưởng. Bị tác động nặng nhất là các kỳ festival, sự kiện (-36%), tiếp theo là biểu diễn (-35%), hoạt động văn hóa và giáo dục văn hóa-nghệ thuật (-31%). Khoảng 41% hiệp hội văn hóa bị giảm trợ cấp. Một bộ phận khán giả (thiếu niên dưới 17 tuổi, hưu trí…) cũng bị hạn chế tiếp cận với văn hóa. Chương trình vũ đạo La belle scène saint-denis của Nhà hát Louis Aragon, thành phố Tremblay en France, tỉnh Seine - Sainte-Denis (ngoại ô Paris), được trình diễn tại Liên hoan Avignon, là một ví dụ điển hình. Bà Emmanuelle Jouan, giám đốc Nhà hát Louis Aragon, giải thích với RFI Tiếng Việt : « Chương trình của chúng tôi tồn tại là nhờ nguồn tài trợ công, từ Nhà nước, vùng, tỉnh, thành phố. Thực ra phải nói thành phố Tremblay en France mới là đơn vị tài trợ nhiều nhất cho chúng tôi. Những nguồn tài chính này cho phép chúng tôi phát triển dự án và bán vé với giá rất ưu đãi cho công chúng thành phố. Chúng tôi được trợ cấp bởi vì nhà hát chúng tôi nằm trong một khu vực mà thu nhập của người dân vẫn còn rất khiêm tốn. Và đây chính là ý nghĩa thực sự về dịch vụ công, có nghĩa là chúng tôi mang nghệ thuật và những nghệ sĩ lớn đến một nơi mà dường như người dân chưa biết đến họ. Vì vậy chúng tôi làm việc quanh năm với rất nhiều nghệ sĩ, mà một số người đã biểu diễn trên sân khấu sáng nay (14/07). Hàng năm, chúng tôi đồng hành với ba dự án ở địa phương. Những nghệ sĩ đó giao lưu với người dân địa phương, cùng họ xây dựng các dự án và tạo nên sự gần gũi này ». Nhà hát Louis Aragon đã đồng hành với hơn 40 đoàn nghệ thuật. Rất nhiều nghệ sĩ đã thành danh nhờ được hỗ trợ về tài chính, cơ sở vật chất và được hỗ trợ quảng bá, ví dụ thông qua Liên hoan Avignon. La belle scène saint denis trở thành điểm tham chiếu để các nhà hoạt động chuyên môn, các “ông bầu” đến tìm tài năng mới. Giám đốc Emmanuelle Jouan giải thích tiếp : « Đây là lần thứ 14 chương trình vũ đạo la belle scène saint denis được biểu diễn ở Avignon. Đây là một dự án hỗ trợ nghệ sĩ dài hạn được phát triển ở tỉnh Seine - Saint-Denis. Vì vậy, chúng tôi đến Avignon hàng năm để giới thiệu với các chuyên gia những tác phẩm của các nghệ sĩ mà đôi khi chúng tôi đã hỗ trợ từ hơn 10 năm qua, hoặc giới thiệu những nghệ sĩ chưa được biết đến nhiều. Dần dần, nhờ công sức, sự kiên trì của chúng tôi, chương trình la belle scène saint-denis đã trở thành một địa điểm nổi tiếng về múa và nhảy. Có rất nhiều chuyên gia đến đây và đôi khi tìm được các nhóm nghệ sĩ mới cho họ, cơ hội để các nghệ sĩ mở rộng sự nghiệp của mình. Đó là lý do tại sao chúng tôi ở đây. Nhưng trước tiên, chúng tôi có một nhà hát ở tỉnh Seine - Saint-Denis, hoạt động quanh năm ở tỉnh để phục vụ người dân. Nhưng chúng tôi cũng có ba đoàn múa hợp tác với chúng tôi hàng năm và chính những nghệ sĩ này đến biểu diễn ở Liên hoan Avignon ». Sáng tạo để tìm nguồn tồn tại Ngoài những nghệ sĩ trong chương trình chính thức “IN”, đa số các đoàn kịch được chọn tham gia chương trình phi chính thức “OFF” tại Liên hoan Avignon đều phải tự xoay sở tài chính. Những tác phẩm được sáng tác cho Liên hoan được nhận một khoản hỗ trợ nhỏ. Đoàn kịch tự lo chi phí lưu trú, địa điểm biểu diễn… Anh Brice của đoàn kịch Plume Pourpre, biểu diễn vở hài nhạc kịch Chân trụ trên các vì sao (Les Keykeepers : Les Pieds dans les étoiles), giải thích : « Đối với các đoàn kịch, đây là một thử thách thực sự. Trước hết, về mặt tài chính, đó là cả một ngân sách. Phải thuê một suất trong rạp hát, phải tìm được chỗ ở tại Avignon. Vì vậy, đó là một khoản đầu tư lớn. Chúng tôi không có nguồn tài trợ công. Tất cả chi phí là tiền của chúng tôi hoặc của các mạnh thường quân. Mục tiêu hiện diện tại Avignon ngày hôm nay  đối với một đoàn kịch không phải đến từ Paris mà từ nông thôn như chúng tôi là để có thể quảng cáo chương trình của mình ngoài vùng nông thôn. Và làm thế nào để vở kịch của chúng tôi có thể được biết trên quy mô toàn quốc ? Chỉ có cách là tham gia Liên hoan Avignon hoặc để khai thác ở Paris. Và chúng tôi đã chọn Liên hoan Avignon để được biểu diễn hàng ngày ở một nhà hát trong 3 tuần ». Làm thế nào để có được một khoản kinh phí không phải là nhỏ ? Nghệ sĩ La Belle Époque, đoàn kịch Collectif Rue 46, tác giả vở Hongai tại Liên hoan Avignon, giải thích : « Chúng tôi thực sự cần tiền nên đã phát động một chiến dịch gây quỹ cộng đồng. Chúng tôi đã vượt qua mục tiêu 3.000 euro. Ngoài ra, chúng tôi đã biểu diễn tại nhà theo yêu cầu vào cuối tháng 5, cho nên cũng gây được quỹ. Chúng tôi cũng biểu diễn tại tòa thị chính Quận 11 Paris vào cuối tháng 6. Tương tự, chúng tôi cũng nhận được khoản tài trợ từ thị chính Paris. Tại Liên hoan Avignon, chúng tôi đang cố gắng biểu diễn để tài trợ cho cuộc phiêu lưu này. Sau đó, khi hết hè, có thể sẽ có thêm vài buổi biểu diễn nữa. Chúng tôi sẽ cố gắng gây quỹ để hoàn trả khoản đầu tư cho Liên hoan ». Trong một rừng chương trình biểu diễn tại Liên hoan Avignon, thu hút được sự chú ý của người qua đường - những khán giả tiềm tàng - không phải là điều dễ dàng. Vậy phải làm thế nào ? Frank Milin, nghệ sĩ của đoàn kịch Collectif Rue 46, cho biết : « Chúng tôi đi phát tờ rơi quảng cáo, chúng tôi dành khoảng 3 đến 4 tiếng mỗi ngày để phát tờ rời trên đường phố Avignon. Chúng tôi may mắn khi có khá nhiều nghệ sĩ tham gia vở kịch, cho nên có thể thay phiên nhau trong ngày. Phần lớn thời gian trong ngày được dành cho việc gặp gỡ những khán giả tương lai trên đường phố, giải thích cho họ về tác phẩm của mình, tạo hứng thú để họ đến xem chúng tôi biểu diễn. Những lúc như vậy rất vui vì đó là những cuộc trao đổi thực sự thú vị ». Phát tờ rơi, sáng tạo muôn vàn kiểu quảng cáo trở thành biểu tượng đặc trưng, độc đáo của Liên hoan Avignon. Làm thế nào để tiếp cận một người qua đường, rồi khiến họ dừng chân lại để nghe quảng cáo về vở kịch, trong khi có đến gần 1.800 buổi diễn ? Đó là cả một chiến lược được vạch trước. Nghệ sĩ Franck Milin của Collectif Rue 46 cho biết thêm : « Đó là một ý tưởng mà chúng tôi đã cân nhắc. Chúng tôi đã làm việc một chút trước khi đến Avignon. Nhưng chiến lược đã thay đổi, bởi vì giống như vở kịch, đôi khi phải thích ứng. Tại Avignon, chúng xem điều gì phù hợp, điều gì không, sau đó chúng tôi cân nhắc xem điều gì hiệu quả và điều gì không. Nhưng chúng tôi cố gắng giải thích nhanh cho người qua đường rằng đó là một vở kịch lịch sử nhưng theo cách sân khấu, quay ngược về quá khứ với hai nhân vật chính ». Giảm tài trợ : Khán giả trẻ bị hạn chế tiếp cận văn hóa Việc cắt giảm tài trợ cho các tổ chức văn hóa, nhà hát tác động đến giá vé, vẫn được bán với giá ưu đãi cho một bộ phận công chúng ở một số địa phương, nhất là những khu vực nơi người dân có thu nhập khiêm tốn, như Bà Emmanuelle Jouan, giám đốc Nhà hát Louis Aragon, đã giải thích. Chương trình cổ vũ tiếp cận văn hóa cho khán giả “trẻ” từ 15-21 tuổi cũng sẽ bị tác động do việc tài trợ cho Pass Culture (thẻ thông hành Văn hóa) cũng bị đóng băng. khoảng 84% thanh thiếu niên trong độ tuổi được hưởng đã đăng ký Pass Culture, được chính thức triển khai năm 2021 sau hai năm thử nghiệm. Hơn 35.000 đối tác văn hóa đề xuất cho khán giả trẻ hàng loạt hoạt động văn hóa (biểu diễn, hòa nhạc, giao lưu, hội thảo, triển lãm, tham quan…) hoặc chương trình đào tạo nghệ thuật. Tuy nhiên, Luật Tài chính năm 2025 quy định giảm ngân sách dành cho Pass Culture từ 72 triệu euro xuống còn 52 triệu euro, chia thành hai đợt. Tính đến tháng 03/2025, 40 triệu euro trong số 50 triệu euro được phân bổ đã được giải ngân cho năm học 2024-2025. Kết quả là nhiều trường không tổ chức được hoạt động ngoại khóa vì không tiếp cận được nguồn tài trợ. Toàn cảnh của việc cắt giảm trợ cấp cho văn hóa được bà Aurélie Hannedouche, giám đốc Nghiệp đoàn âm nhạc đương đại (Le Syndicat des musiques actuelles, SMA), tóm tắt khi trả lời đài phát thanh France Culture ngày 16/04 : “Sẽ có ít hoạt động hơn, ví dụ trong các nhà dưỡng lão, nhà trẻ, trường học, các trung tâm xã hội, trại giam hoặc trong những khu vực được xếp là ưu tiên, thậm chí là “ngoài bốn bức tường”, ví dụ như ở nông thôn”.
Hôm Chủ nhật 28/09/2025, đông đảo người Việt ở Paris đã đến dự buổi giới thiệu cuốn hồi ký của nữ tài tử nổi tiếng Kiều Chinh, do hội Thư Viện Diên Hồng tổ chức. Mọi người đã rất xúc động được nghe chính tác giả đọc một số đoạn trong cuốn Kiều Chinh Nghệ sĩ lưu vong và qua đó đồng cảm hơn với cuộc đời đầy những thăng trầm của một ngôi sao màn bạc nay đã 88 tuổi nhưng vẫn đồng hành không ngơi nghỉ với nghệ thuật thứ bảy.  RFI xin điểm lại những chặng đường đã qua của một nữ tài tử một thời từng được xếp là một trong “Tứ Đại Mỹ Nhân” của Sài Gòn ( cùng với Thẩm Thúy Hằng, Thanh Nga và Kim Cương). Tạp chí hôm nay tập trung vào sự nghiệp điện ảnh của Kiều Chinh từ lúc khởi đầu từ thập niên 1950 đến khi xảy ra biến cố tháng 04/1975. Như Kiều Chinh có nói khi trả lời phỏng vấn RFI ngày 26/09/2025, hai ngày trước buổi giới thiệu cuốn hồi ký, “Điện ảnh tìm tôi chứ tôi không tìm tới điện ảnh”, tình cờ mà cô thiếu nữ Kiều Chinh ở tuổi 17 khi bước trên đường phố Sài Gòn năm 1956 đã được đạo diễn Mỹ Joseph Mankiewicz để ý đến và nếu không bị gia đình cấm cản thì cô đã được thủ vai chính trong bộ phim nổi tiếng The Quiet American ( Người Mỹ Thầm Lặng ): “Điện ảnh tìm tôi chứ tôi không có tìm tới điện ảnh. Thời đó tôi theo đạo Công giáo, thành ra Chủ nhật là đi nhà thờ. Một chiều Chủ nhật nọ, từ Nhà thờ Đức Bà tôi đi thẳng xuống đường Catina. Khi đi qua nhà sách ngay cạnh tiệm bánh Givral, bên kia đường là Hotel Continental, có một người Mỹ chạy từ bên kia đường qua vỗ vai tôi và hỏi tôi: “ Do you speak English?” ( Cô nói tiếng Anh được không? ) Tôi quay lại nhìn và tôi nghĩ chắc anh ta muốn tìm một người bạn gái, nên không trả lời. Anh ta vội vàng bước tới trước mặt và nói:  “Chúng tôi là một toán làm phim từ Hollywood. Ông đạo diễn đang ngồi bên kia đường. Chúng tôi sang đây để quay cuốn phim The Quiet American và ở đây hai tuần lễ rồi mà chưa tìm được đúng người. Chúng tôi ngồi đây và thấy cô đi từ xa lại. Ông đạo diễn nói ông ấy muốn kiếm một người có vóc dáng như cô. Cô có biết nói tiếng Anh không?” Bấy giờ tôi mới trả lời: “ Dạ, biết một chút”. “Cô có nói tiếng Pháp không?” Tôi cũng nói là “Dạ, nói một chút thôi”. “Ôi Trời, tuyệt vời quá. Tôi cần một người có dáng người như cô, nói được tiếng Anh và một chút tiếng Pháp. Xin mời cô gặp ông đạo diễn.” Tôi sang gặp thì ông đạo diễn bảo tôi cầm script ( kịch bản ) về nhà đọc, có thể ngày mai hoặc ngày mốt trở lại để quay một cái test. Lúc ấy có một người Việt Nam ngồi đó, mà sau này tôi mới biết đó là đạo diễn Bùi Diễm, hồi đó có quay phim Chúng Tôi Muốn Sống. Thế thì tôi mang script về đọc, nhưng trước khi trở lại thì phải xin phép mẹ chồng, vì lúc đó tôi mới lấy chồng, mà chồng thì lại đi sang Mỹ học, thành ra đang ở với bố mẹ chồng. Cụ bà ngạc nhiên lắm, vì thời buổi đó phim ảnh còn quá mới đối với Việt Nam. Cụ bà bảo: “ Ôi, con dâu nhà này không có đi đóng phim!”. Cụ ông thì có vẻ cởi mở hơn một chút, bèn hỏi: “Chuyện phim là về cái gì và vai trò của cô là thế nào?” Mình cũng kể sơ qua chuyện phim là cô Phượng, nhân vật nữ chính trong phim, có chồng là người Anh, theo chồng sang Mỹ thì cô yêu một anh người Mỹ. Bà cụ liền nói:” Thế thì không được! Người đàn bà đó không tốt!” Cụ không cho quay. Hôm sau tôi trở lại để trả cuốn script và nói với ông đạo diễn là không quay. Mọi người ngạc nhiên lắm! Đạo diễn đó là Joseph Mankiewicz, đạo diễn số một của Mỹ, hai lần được lãnh giải Oscar, là đạo diễn những phim như Cleopatra với Elizabeth Taylor và mấy phim khác nổi tiếng lắm. Họ cho mình vai tốt như thế mà lại là vai chính, thế mà mình lại từ chối! Họ ngạc nhiên lắm! Nhưng ông nói: “Có thể nhờ cô quay một tí được không?” Thì tôi nói là phải xin phép lại. Mấy tháng sau họ mới bắt đầu quay. Họ không tìm được người Việt Nam nào khác nên mời một cô tài tử người Ý tên là Georgia Mall để đóng vai người Việt Nam. Họ mời tôi trở lại đó, makeup, búi tóc cho cô Georgia Mall giống hệt tôi. Trong phim thì có cảnh ông Michael Redgrave, tài tử Anh, đi tìm người yêu của mình là cô Phượng. Trong đám đông, thấy tôi đi qua, ông vội vàng chạy đến vỗ vào vai. Tôi quay lại, thì ông bảo: “Ồ, tôi xin lỗi, tôi tưởng cô là người tôi tìm”. Gia đình cho phép vì tôi chỉ xuất hiện có một tí thôi, không có cảnh gì yêu đương cả! Không được tham gia phim The Quiet American nhưng Kiều Chinh ngay sau đó lại được đạo diễn Bùi Diễm mời đóng vai chính trong phim Hồi Chuông Thiên Mụ: “Nhưng lần trở lại đó thì lại gặp ông Bùi Diễm, lúc đó có hãng phim Tân Việt. Hãng phim đã phụ cho nhóm quay phim Người Mỹ Thầm Lặng. Năm sau, tức là năm 1957, ông Bùi Diễm lại liên lạc với tôi để mời đóng phim. Nhưng ông hiểu văn hóa phong tục Việt Nam, cho nên ông đã tới tận nhà để nói chuyện. Cụ bà ngạc nhiên lắm: Tại sao hết người này đến người muốn mời con mình đóng phim! Cụ mới hỏi: “Ông mời con dâu của tôi đóng vai gì?” “Thưa bác, vai một ni cô ở chùa Thiên Mụ”. Ôi, cụ thích lắm: “Thế thì được!”. Sự nghiệp của tôi bắt đầu từ đó: Đóng vai sư cô trong phim Hồi Chuông Thiên Mụ. Chắc là nhờ chị thủ vai sư cô nên bà mẹ chồng mới chấp nhận cho đi đóng phim? Dạ, chưa chắc cho đi. Sau khi đóng phim đó, cụ cũng thấy tôi đâu có thay đổi gì đâu. Ngày nào phải quay phim thì đi quay phim. Khi quay phim xong thì về. Không có liên lạc gì với ai. Không phải là trở thành tài tử, đi quay phim, rồi đi tiệc tùng hay là này kia, thành ra các cụ yên tâm.  Lúc đóng phim Hồi Chuông Thiên Mụ hình như chị mới 18 tuổi. Chị hoàn toàn không qua trường lớp nào, vậy thì chị nhập vai như thế nào? Nhất là vai không phải dễ là một ni cô? Tôi không qua trường lớp nào cả, nhưng thời gian trước đó tôi sống với bố, vì mẹ mất sớm từ lúc tôi mới có bốn năm tuổi. Bố thì gà trống nuôi con, sợ con buồn, nên cuối tuần nào bố cũng dẫn tôi đi xem phim. Bố cũng mê xem phim lắm và hay đọc những cuốn như là Ciné Revue hồi đó. Thời đó thì phim chiếu ở Hà Nội là phim nói tiếng Pháp, mà bố thì rành ( tiếng Pháp ), cho nên xem phim xong, bố lại về giảng cho con gái, rồi có Ciné Revue để đọc, thành ra cũng hiểu biết một chút về điện ảnh từ lúc rất trẻ. Đến khi quay phim thì mình cứ đóng tự nhiên vậy thôi. Vai đó đòi hỏi làm sao thì mình làm như vậy thôi, cũng không khó khăn gì cả. Vai chính trong phim lại là anh Lê Quỳnh, cũng là bạn người chồng cũ của tôi và mẹ của anh Lê Quỳnh cũng là bạn với mẹ chồng tôi. Thành ra bà cụ cảm thấy thoải mái lắm, yên tâm lắm. Tôi đi quay phim thì cũng không có gì khó khăn. Phim được quay tại Huế. Anh Lê Dân làm đạo diễn. Đó cũng là phim đầu tiên của Lê Dân, học đạo diễn Pháp về. Thành ra mấy anh em làm việc với nhau như là một gia đình. Ông Bùi Diễm, ông Lê Dân, bà Lê Dân cũng luôn có mặt. Chúng tôi ở hotel ngoài Huế tôi vẫn nhớ tên là Hotel Morgan. Ông bà chủ hotel là ông bà Yến luôn luôn hỏi: “ Em thích ăn món gì thì cho biết để hotel nấu.” Ngoài Huế thì ăn cay lắm, mà tôi là Bắc Kỳ không có ăn ớt!" Sau Hồi Chuông Thiên Mụ, thấy cô con dâu không có gì thay đổi, nên không chỉ bố mẹ chồng, mà người chồng cũng cho phép Kiều Chinh tiếp tục đóng phim. Kiều Chinh được mời liên tiếp đóng phim cho đạo diễn Thái Thúc Nha, trong đó có phim Mưa Rừng. Rồi Kiều Chinh tiếp tục đóng cả chục phim nữa, trong đó có mấy phim Mỹ. Phim Mỹ đầu tiên là L’année du Tigre của Hollywood, tiếp đến là CIA Operations, với tài tử chính là Burt Reynolds. Rồi bà đóng trong một số phim của Philippines nhưng được quay ở Sài Gòn.  Theo lời Kiều Chinh, đến năm 1969-70, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc có một chuyện phim mà ông muốn quay, đó là phim Người Tình Không Chân Dung:  "Anh ấy viết chuyện phim đó trong đầu với hình ảnh Kiều Chinh là vai chính. Nhưng không hãng phim nào muốn quay phim đó cả. Anh Vĩnh Lộc bảo: “ Kiều Chinh lập hãng phim đi, để mình quay cho mình”. Thì Kiều Chinh bắt đầu lập hãng phim riêng của mình, hãng phim Giao Chỉ, rồi quay cuốn phim đầu tiên. Cuốn phim đó được Bộ Quốc Phòng trợ giúp, bởi vì phim dính rất nhiều tới quân đội. Hình như đây là phim đầu tiên có đầy đủ sự hiện diện của quân lực miền Nam Việt Nam, từ không quân, hải quân, thủy quân, lục chiến, bộ binh, pháo binh, đủ hết. Trong phim có nào là máy bay, rồi có những cảnh cả ngàn binh sĩ ngồi ở Vũng Tàu hát bài Việt Nam, Việt Nam, rồi thì là xe tăng, tàu bò, súng ống, làm sao mà hãng tư nhân cáng đáng đáng nổi. Cho nên có sự hỗ trợ của bộ Thông Tin cũng như là bộ Quốc Phòng. Câu chuyện là thế này: Nhân vật Dạ Lan nói ở đài phát thanh, thành ra binh sĩ nào ở chiến trận xa tối đến cũng cầm cái radio để nghe quen giọng của Dạ Lan. Lúc đó cô yêu một người lính không quân. Hai người hứa hẹn với nhau nhưng rồi anh đó tử trận. Cô buồn lắm, cho nên vào một đêm 30 Tết, cô tự hứa là bây giờ bốc thăm một lá thơ lên, lá thơ đó mang khu bưu chính bao nhiêu thì cô sẽ đi tìm người có khu bưu chính đó để nhận làm chồng. Chuyện phim là con đường mà cô đi tìm từ chỗ này đến chỗ kia, ra tận mặt trận, rồi đi vào nhà thương gặp thương phế binh. Mãi sau cùng tìm được số khu bưu chính đó, nhưng tìm tới nơi đấy thì anh ta là một thương binh rất nặng, không biết mặt mũi ra sao, vì bị băng bó che hết rồi.  Cô ấy quỳ xuống và nói: "Tôi đã bốc thăm số khu bưu chính của anh. Tôi đã hứa sẽ lấy người nào mang khu bưu chính này làm chồng". Ông đó bảo: " Có phải cô Dạ Lan không? Tôi nghe cái giọng cô bao nhiêu đêm rồi. Bây giờ thật sự cô là Dạ Lan à? Cô đùa hay sao? Tôi đâu có còn hình hài gì nữa." Anh nghĩ chuyện này như là một trò chơi, bông đùa. Dạ Lan bỏ đi ra ngoài bờ biển, đúng vào lúc mà cả ngàn binh sĩ đang ngồi hát bài "Việt Nam, Việt Nam", thì cô bị rung động bởi tiếng hát đó. Rồi cô trở lại, quỳ sau giường, cầm tay anh nói: "Nhất định em sẽ lấy anh". Thì người đó tay buông thõng xuống rồi chết. Ông bác sĩ trong bệnh viện đó ( do anh Tâm Phan đóng ) trách cô này đã chơi đùa với tình yêu khiến anh đó quá xúc động mà chết. Anh đã bị bom đạn mặt mũi tan nát hết cả rồi, không còn gì nữa mà bây giờ được cô Dạ Lan nhận làm chồng à? Đại khái câu chuyện là như thế. Người tình không chân dung là một trong những cuốn phim thành công nhất thời trước 75. Phim chiếu ra rạp rất đông người ta coi. Số tiền thâu được cũng rất nhiều, rấ
Tại Pháp, mùa thu theo truyền thống là mùa ra mắt sách mới. Có một điều khá thú vị là trong thời gian gần đây, sách dạy nấu ăn vẫn bán chạy không kém gì tiểu thuyết đoạt giải văn học. Trong thời kỳ dịch Covid, nhiều gia đình không được đi đâu xa, nên mua sách học cách làm bếp ở nhà. Trong năm 2021, ngành xuất bản Pháp đạt kỷ lục 121 triệu euro doanh thu nhờ bán được 7 triệu quyển sách dạy nấu ăn. Theo Viện nghiên cứu Nielsen, doanh thu đã giảm xuống đôi chút trong những năm sau đó nhưng vẫn ở một mức cao so với năm 2019, trước khi đại dịch bùng phát. Có thể nói, chưa bao giờ sách dạy nấu ăn lại nhiều và đa dạng đến như vậy : các quyển sách này giờ đây không chỉ đơn thuần giới thiệu những công thức làm bếp, mà còn giống như những quyển sách in về nghệ thuật, đẹp nhờ vào lối trình bày, thiết kế. Sách còn có thêm nhiều thông tin về văn hóa các quốc gia hay vùng miền, gần giống với các quyển cẩm nang du lịch, vì thế cho nên được nhiều bạn đọc như Icham tìm mua : Icham : Những cuốn sách này cho phép chúng tôi khám phá những chân trời mới như thể đang đi du lịch, thông qua các món ăn mà tìm hiểu thêm về nhiều nền văn hóa khác. Đối với những người biết làm bếp, sách dạy nấu ăn là nơi họ có thể tìm thấy những ý tưởng mới lạ, những cách kết hợp độc đáo, những món ăn mà chúng tôi chưa từng làm trước đây, chứ không chỉ đơn thuần là sự kết hợp của thịt cá và rau quả . Nhu cầu của độc giả tại Pháp dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà xuất bản. Vào mùa thu năm nay, sẽ có khoảng 480 cuốn tiểu thuyết được phát hành để chuẩn bị cho mùa giải văn học 2025 tại Pháp. Sách dạy nấu ăn (với khoảng 400 đầu sách mới) cũng sẽ chiếm một vị trí quan trọng trên các tủ trưng bày. Ngoài ẩm thực thế giới hay các công thức nấu ăn truyền thống còn có sách dạy làm bánh ngọt. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, nhà làm bánh Christophe Elder, tác giả của khoảng 50 cuốn sách chuyên về ẩm thực, cho biết độc giả thường tìm mua sách với các công thức đơn giản: Christophe Elder : Chúng tôi có hai tiệm bánh ngọt ở vùng Alsace, chuyên bán các loại bánh ngọt nổi tiếng như bánh ngàn lớp (Mille-feuille) hay bánh su nhồi kem hạt dẻ (Paris-Brest). Ngay từ cuốn sách đầu tiên, tôi đã muốn truyền đạt những công thức đơn giản mà bạn đọc có thể tự làm ở nhà một cách nhanh chóng, tiện lợi mà vẫn không gặp nhiều khó khăn. Tôi luôn tìm cách lược bỏ bớt những chi tiết rườm rà trong cách làm bánh, rồi đưa những công thức này (đơn giản hơn trước) vào trong những quyển sách tiếp theo của tôi. 7 triệu sách dạy nấu ăn được bán trong một năm Công thức « đơn giản hơn » có lẽ vẫn chưa đủ, sách dạy nấu ăn hay làm bánh còn cần phải có lối thiết kế công phu, cách trình bày đẹp mắt, để thu hút sự tò mò của độc giả. Nhờ hội tụ những yếu tố ấy, quyển sách bìa màu hồng mang tựa đề « Pâtisserie » (Bánh ngọt) của Christophe Elder đã bán được hơn một triệu bản, kể từ khi được phát hành lần đầu tiên vào mùa thu năm 2020. Marion, chuyên viên làm việc cho nhà xuất bản La Martinière từng chứng kiến nhiều sự thay đổi trong lãnh vực này : Marion : Xu hướng mới trong sách dạy nấu ăn là những quyển sách này giống như những món quà trang trí mà khách hàng Pháp mua về để biếu tặng cho nhau. Sách có lối trình bày đẹp mắt, từ ảnh chụp cho đến cách in ấn, giống như các tạp chí mỹ thuật thời trang. Sách cũng dày hơn nhiều từ 300 đến 400 trang. Sách không chỉ bao gồm các công thức nấu ăn, mà còn thường được kết hợp với nhiều giai thoại lịch sử văn hóa, thông tin hướng dẫn du lịch. Sách dạy nấu ăn thời nay thường là những quyển sách đẹp. Trong số những đầu sách phổ biến nhất có tác phẩm của đầu bếp người Anh Yotam Ottolenghi hay của đầu bếp Pháp Jean-Francois Mallet, được xem như hai hiện tượng của ngành xuất bản.  Đối với các chủ hiệu sách, những tên tuổi này mang đến nhiều cơ hội thuận lợi, cho phép họ bán những cuốn sách đắt tiền hơn, với giá trung bình dao động từ 35 đến 60 euro. Nhờ vào ảnh chụp ngoạn mục, tranh minh họa đầy ấn tượng, sách dạy nấu ăn tạo thêm cơ hội cho bạn đọc muốn đi tham quan du lịch. Điều này lại càng đúng với nền ẩm thực thế giới : kể cả các đầu sách nói về các món ăn Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ hay Việt Nam Còn theo cô Deborah Dupont-Daguet, chủ tiệm sách chuyên về « Librairie Gourmande », nằm trên đường Montmartre, ở quận 2 Paris, sách dạy nấu ăn ngày càng phong phú đa dạng do nội dung liên tục được cập nhật, thay đổi hầu đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, thường quan tâm đến các trào lưu thời thượng. Sách dạy nấu ăn luôn chạy theo các xu hướng thịnh hành. Điều này thật ra đã có từ lâu và thường liên quan đến các thiết bị gia dụng. Tại Pháp các quyển sách dạy nấu ăn phát triển mạnh từ đầu những năm 1950 với các đầu bếp như Ginette Mathiot hay Françoise Bernard. Vào thời bấy giờ, sách của họ một phần là để đơn giản hóa công việc của các bà nội trợ, nhưng đồng thời họ dùng công thức nấu ăn, để có thể bán thêm nhiều nồi áp suất cũng như những thiết bị gia dụng khác. Cách đây khoảng 5 năm, các hộ gia đình ở Pháp tìm mua các loại máy robot tự nấu ăn, chỉ cần đưa các thành phần chế biến vào nồi, bấm nút tự động là khoảng 30 hay 45 phút sau, là có được một món ăn cho gia đình. Sau đó có làn sóng máy tự làm sữa chua, bánh mì, kem đông lạnh, pha cà phê hay làm nước ép trái cây ….. Từ khoảng một năm nay, lại bùng phát hiện tượng Airfryer, loại nồi chiên không dầu để chiên khoai tây, làm nem rán hay cánh gà nướng. Thị trường Pháp hiện nay ngập tràn những cuốn sách (Les recettes au Airfryer) với những công thức làm món ăn với nồi chiên không dầu. Mỗi quyển sách có thể được bán cả trăm ngàn bản. Ngoài các thiết bị gia dụng, còn phải kể đến các chương trình thi nấu ăn hay làm bánh trên đài truyền hình, và hiện giờ tầm ảnh hưởng mạnh nhất đến từ nhóm người « influencer », rất nổi tiếng trên các mạng xã hội với hàng triệu thành viên quan sát « theo dõi ». Vì vậy, một số nhà sản xuất nghĩ rằng họ có thể dựa vào uy tín của các nhân vật này để bán hàng dễ dàng hơn. Cô Deborah Dupont-Daguet không chia sẻ quan điểm này : Deborah Dupont-Daguet : Cách tính toán này không phải lúc nào cũng hiệu quả, đôi khi một « influencer » có hàng triệu người theo dõi trên TikTok, YouTube hay Instagram, nhưng các thành viên có thể đăng ký miễn phí để theo dõi những người họ ưa thích. Tuy vậy, chưa chắc gì những follower này sẽ chịu chi 30 euro để mua một cuốn sách dạy nấu ăn do các influencer quảng cáo trên tài khoản của họ. Một số người tiêu dùng chỉ mua, trong trường hợp đầu sách thật sự có nội dung. Liệu cơn sốt xuất bản nhiều sách ẩm thực có từ từ hạ nhiệt hay chăng ? Đa số các chủ hiệu sách đều nghĩ rằng, hiện giờ, thị trường sách dạy nấu ăn tại Pháp gần như đã bão hòa, nhưng biết đâu chừng có thể bùng phát trở lại khi ngành xuất bản tìm ra được những « ý tưởng mới ». 
loading
Comments