Discover
Tạp chí Việt Nam
266 Episodes
Reverse
Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm. Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả. Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026. RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ? Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do. Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo. Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp. Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương. Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ? Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách. Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran. Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng. Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn. RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ? Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số và robot nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả nông nghiệp. Căng thẳng kéo dài có thể làm chậm các dự án hợp tác và giảm đầu tư. Trong bối cảnh Israel là một trung tâm công nghệ quan trọng, việc căng thẳng khu vực kéo dài hoặc leo thang có thể làm chậm các dự án hợp tác công nghệ song phương và dẫn đến sự sụt giảm đầu tư trong lĩnh vực này. Tương tự, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt thách thức này với các nước vùng Vịnh, vốn đang thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế tập trung vào mở rộng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm gần đây. Đọc thêmIsrael bán hai vệ tinh do thám cho cơ quan tình báo quân sự Việt Nam Ngoài khu vực Trung Đông, khủng hoảng có thể sẽ gây lạm phát toàn cầu và suy giảm kinh tế ở châu Âu và Mỹ. Và như vậy có thể sẽ làm dao động hoặc giảm nhu cầu sản phẩm điện tử. Đây sẽ là một thách thức lớn cho ngành công nghệ Việt Nam. RFI : Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% vào năm 2026. Áp lực thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy Việt Nam tìm cách đa dạng hóa đối tác thương mại. Xung đột ở Trung Đông có thể tác động như thế nào đến mục tiêu này ? Laurent Gédéon : Cuộc xung đột sẽ tác động mạnh đến nguồn năng lượng. Ngày 10/03, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) điều chỉnh dự báo giá dầu Brent 2026 lên 79 đô la/thùng (so với 58 đô la vào tháng 02/2026) và tăng 36% kể từ đầu năm. Giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng đến xăng, dầu hỏa, phân bón, hóa dầu, nhựa và như vậy sẽ tác động trực tiếp đến vận tải, công nghiệp, luyện kim, bán lẻ và thực phẩm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lạm phát ở Việt Nam, hiện là 2,5%, có thể tăng gấp đôi trong những tháng tới. Giá dầu tăng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng GDP, ngay cả khi Việt Nam là nước sản xuất dầu khí bởi vì Việt Nam cũng phải nhập dầu khí. Hiện giờ rất khó đưa ra các dự đoán chính xác. Nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hoàn toàn và kéo dài, có nghĩa là Iran rải thủy lôi và bắn vào tàu thuyền tìm cách đi qua, thì giá dầu có thể ở mức hơn 100 đô la/thùng. Một trong những tác động đối với Việt Nam, như đã đề cập, là lạm phát có thể vượt 5%, và xuất khẩu giảm, cho nên có khả năng GDP bị giảm thêm 1%. Tình hình này đòi hỏi chính quyền Việt Nam theo dõi sát sao để dự báo tác động và triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon.
Báo động trước tình trạng ngược đãi những người lao động bị cưỡng bức, trong đó có không ít nạn nhân là người Việt Nam, tại các trung tâm lừa đảo trực tuyến ở các nước Đông Nam Á, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc ngày 20/02/2026 đã kêu gọi cộng đồng quốc tế hành động chống lại tệ nạn này. Riêng Việt Nam đang phối hợp với Cam Bốt và những đối tác khác ở Đông Nam Á để triệt hạ các đường dây lừa đảo xuyên quốc gia. Trong một báo cáo được công bố vào năm 2023, Liên Hiệp Quốc ước tính hàng trăm ngàn người đã bị cưỡng bức tuyển dụng để thực hiện các vụ lừa đảo trực tuyến. Báo cáo mới, dựa trên lời khai của các nạn nhân và các cuộc phỏng vấn với các cảnh sát và đại diện của xã hội dân sự, mô tả các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng mà những người bị buộc phải làm việc trong các trung tâm này phải gánh chịu. Báo cáo ghi nhận các trường hợp tra tấn, ngược đãi, bóc lột, lạm dụng tình dục, cưỡng bức phá thai, bỏ đói và biệt giam. Một nạn nhân từ Sri Lanka khai rằng những người không đạt chỉ tiêu hàng tháng về lừa đảo đã bị dìm xuống nước hàng giờ trong các bể nước (gọi là 'nhà tù nước'). Các nạn nhân cũng kể lại việc bị ép buộc chứng kiến, thậm chí tham gia vào những hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng này. Một nạn nhân người Bangladesh cho biết anh ta được lệnh đánh đập những người lao động cưỡng bức khác, và một nạn nhân người Ghana mô tả việc bị ép buộc phải chứng kiến bạn mình bị đánh đập. Một nạn nhân người Việt Nam kể lại việc em gái mình bị đánh đập, bị chích điện, bị nhốt trong phòng và bị bỏ đói trong bảy ngày vì đã toan đào thoát. Liên Hiệp Quốc lên án tình trạng những nạn nhân này bị xác định sai là tội phạm và bị truy tố hình sự, hoặc bị trừng phạt thay vì được bảo vệ. Từ nhiều năm qua, Cam Bốt đã trở thành “thiên đường” cho các tổ chức tội phạm điều hành ngành công nghiệp lừa đảo trị giá hàng tỷ đô la. Một báo cáo năm 2024 của Viện Hòa bình Hoa Kỳ ước tính doanh thu từ các vụ lừa đảo mạng ở Cam Bốt vượt quá 12,5 tỷ đô la mỗi năm, tương đương một nửa tổng sản phẩm nội địa (GDP) của nước này. Viện tư vấn Stimson Center, trụ sở chính tại thủ đô Washington của Mỹ, có một dự án về chống lừa đảo trên mạng, tập hợp các nhà khoa học cũng như các nhà hoạch định chính sách và cả đại diện các tập đoàn công nghệ như Google hoặc Meta. Sau ba năm thực hiện, vừa rồi họ đã tổ chức hội thảo tại Bangkok để tổng kết và đánh giá về những chiến dịch triệt hạ các trung tâm lừa đảo ở Cam Bốt. Tham gia dự án này có tiến sĩ Lương Thanh Hải, một nhà tội phạm học, hiện là giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 05/03/2026, ông Lương Thanh Hải cho biết: "Hơn nửa năm trở lại đây, từ giữa năm 2025 cho đến đầu năm 2026, dưới áp lực mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế, từ Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á, chính quyền Cam Bốt đã mở một chiến dịch quy mô rất lớn nhằm triệt phá các khu phức hợp lừa đảo trực tuyến ( scams compound ). Tất nhiên để đánh giá một kết quả tổng thể đòi hỏi những số liệu cụ thể và hiện nay thì chúng tôi vẫn đang cập nhật để có số liệu cụ thể chính xác. Nhưng sơ bộ thì trong vòng nửa năm trở lại đây, chính quyền Cam Bốt đã đánh sập được gần 200 trung tâm lừa đảo. Có thể nói là đây là một con số khá ấn tượng. Trong cuộc tọa đàm vừa rồi, chúng tôi cũng đã tổng kết sơ bộ ít nhất có hơn 173 nhân vật cầm đầu đã bị bắt và khoảng trên dưới 11.000 người tham gia đã bị trục xuất khỏi Cam Bốt. Hàng ngàn người là nạn nhân bị ép lừa đảo đã thoát khỏi các trung tâm đó. Đầu tháng 2 vừa rồi, chúng tôi cũng ghi nhận, đặc biệt là sau khi quân đội Thái Lan tiến hành công kích và triệt phá các khu phức hợp, các sòng bài lớn ở Cam Bốt, người ta đã phát hiện các đối tượng sử dụng trang phục cảnh sát của ít nhất là 7 nước như Úc, Brazil, Việt Nam, Indonesia, Singapore v.v... Đây có thể nói là những bằng chứng rõ nhất cho thấy các ổ lừa đảo này hoạt động hết sức tinh vi, sử dụng các trang phục của lực lượng thực thi pháp luật nhằm tạo ra những kịch bản y như một cuộc thẩm vấn của cảnh sát liên bang Úc, hay của cảnh sát Việt Nam, cảnh sát Singapore..., để lừa đảo, thậm chí là đưa ra các kịch bản bắt bớ, khởi tố..., khiến các nạn nhân dễ bị đánh gục. Chính quyền Cam Bốt đầu năm vừa rồi đã đưa ra được một con số khá ấn tượng là đã giảm được khoảng 50% hoạt động lừa đảo trực tuyến sau các chiến dịch mạnh như vậy. Tất nhiên con số đó cũng cần phải được thẩm định. Ngoài ra một số trùm mạng lưới, đặc biệt là Trần Chí ( Chen Zhi ), một đối tượng cầm đầu đã bị chính quyền Hoa Kỳ phong tỏa các tài sản và dưới áp lực của Mỹ, Cam Bốt cuối cùng cũng đã triển khai các chiến dịch và bắt được trùm lừa đảo này. Đầu năm vừa rồi, Trần Chí bị dẫn độ theo yêu cầu của chính quyền Trung Quốc đưa về Trung Quốc xét xử. Giới nghiên cứu chúng tôi tiếp tục cập nhật và hy vọng chính phủ Trung Quốc sẽ công bố những thông tin minh bạch, cũng như các bản án cụ thể, để chúng tôi từ góc độ tội phạm học có thể phân tích sâu hơn tại sao và như thế nào mà một trùm lừa đảo như Trần Chí lại có thể đi sâu và điều hành cả một tập đoàn lớn như vậy ở Cam Bốt trong rất nhiều năm. Sau khi phá được nhiều chuyên án lớn như vậy, nhiều tổ chức quốc tế cho rằng các đường dây này chỉ tạm thời giải tán thôi và rồi sẽ lại di chuyển sang địa phận khác. Các hoạt động tuyển dụng lao động của những trung tâm lừa đảo vẫn tiếp tục trên mạng xã hội. Bởi vì xét đến cùng, công nghiệp lừa đảo này ở Cam Bốt vẫn có quy mô cực lớn, có thể kiếm siêu lợi nhuận hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Nói cách khác, chiến dịch này đã gây xáo trộn lớn, nhưng chưa thực sự triệt tiêu được hệ sinh thái đối với loại tội phạm lừa đảo qua mạng này." Hơn nữa, không chỉ có người Trung Quốc hay người Cam Bốt, mà có cả người Việt Nam điều hành đường dây lừa đảo ở xứ Chùa Tháp. Theo báo chí Việt Nam, ngày 13/02, Công an Đồng Nai phối hợp Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) đã tạm giữ Nguyễn Thị Vân, 30 tuổi, cùng 13 người khác để điều tra hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nguyễn Thị Vân được xác đinh là cầm đầu đường dây lừa đảo 2.500 tỷ đồng của hàng ngàn nạn nhân, hoạt động tại Cam Bốt. Các nhà điều tra cho biết đây là một trong những vụ án đầu tiên bắt giữ được chủ mưu là người Việt Nam, tự đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn và vận hành hệ thống lừa đảo tại nhiều địa điểm ở Cam Bốt. Ngày 25/02, đến lượt Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Tây Ninh ra thông báo tìm những ai là nạn nhân của Huỳnh Nguyễn Ngọc Huy trong vụ án lừa đảo qua mạng xã hội để mua bán người. Cụ thể, Huy dùng tài khoản Facebook "Huy Trần" đăng tin tuyển dụng giả giới thiệu các “việc nhẹ lương cao” để lừa gạt nạn nhân đưa sang Cam Bốt. Tại đây, các nạn nhân bị ép buộc làm việc, nếu muốn về nước phải trả tiền chuộc rất cao, hoặc bị bán tiếp sang các công ty lừa đảo khác. Nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích: "Qua nghiên cứu từ thực tiễn, cũng như về lý thuyết, chúng tôi gọi đó là sự trùng lặp, sự lặp lại giữa nạn nhân và thủ phạm. Chúng tôi hay dùng thuật ngữ offender - victim overlap. Họ là những nạn nhân đã bị dụ dỗ để sang làm, bị ép buộc, được đào tạo từng bước một, từng kịch bản một và thậm chí đóng các kịch bản lực lượng thực thi pháp luật của nước A, nước B, nước C để lừa ngược lại. Thậm chí khi bị nhốt vào các trung tâm lừa đảo này, họ bị ép buộc phải đạt được chỉ số KPI ( chỉ số đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động ), hàng ngày hàng giờ phải thực hiện bao nhiêu cuộc lừa đảo. Thành thử họ không còn lựa chọn nào khác, buộc phải làm ngày làm đêm, thậm chí phải lừa cả người thân trong gia đình, bạn bè của họ ở Việt Nam, lôi kéo sang để lại trở thành nạn nhân của các vụ lừa đảo qua mạng tiếp theo. Trong khoảng hai năm trở lại đây, công an Việt Nam cũng đã phối hợp khá chặt chẽ với các lực lượng thực thi pháp luật của khu vực Đông Nam Á, thông qua các kênh chính thống, ví dụ như ASEANAPOL, tức là Hiệp hội cảnh sát trưởng của các nước ASEAN, hoặc là thông qua các đối tác song phương giữa cảnh sát và bộ Nội Vụ của Vương Quốc Cam Bốt hoặc Thái Lan. Đã có nhiều cuộc giải cứu thành công, ví dụ mới đây công an tỉnh Tuyên Quang đã giải cứu và đưa được khoảng 74 nghi phạm từ Cam Bốt và Việt Nam trong một vụ lừa đảo lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một những nước đầu tiên của khu vực Đông Nam Á đang hướng tới áp dụng nguyên tắc "không hình phạt" đối với nạn nhân, nếu như chứng minh được họ là nạn nhân của các vụ ép buộc lừa đảo trực tuyến. Điều này cũng đã được cụ thể hóa trong luật về phòng chống buôn bán người của Việt Nam được sửa đổi năm 2024 và có hiệu lực từ tháng 7/2025. Về góc độ chính sách và pháp luật, chúng tôi cho đấy là một trong những bước tiến rất đáng ghi nhận từ chính quyền Việt Nam." Một cơ sơ pháp lý khác để Việt Nam có thể tăng cường hợp tác với các nước để diệt trừ các trung tâm lừa đảo, theo ông Lương Thanh Hải, chính là Công ước Hà Nội: "Công ước Hà Nội, tức là Công ước của Liên Hiệp Quốc về phòng chống tội phạm mạng, đã được ký từ tháng 10/2025. Bản thân Việt Nam và Cam Bốt, cùng một số nước khác trong Đông Nam Á, có tham gia. Theo thống kê của chúng tôi, tổng số nước ký kết đã lên đến 73 hoặc là 75 nước. Đây là một bước tiến lớn về cơ sở pháp lý để tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống các tội phạm mạng, bao gồm cả lừa đảo trực tuyến như các trung tâm ở Cam Bốt. Tuy nhiên, phần lớn những người Việt được phát hiện tham gia, thậm chí trực tiếp đi sang và cầm đầu các nhóm đối tượng ở Cam Bốt trong các trung tâm lừa đảo trực tuyến không phải là những "big boss", không phải là trùm của những ông trùm. Phần lớn những ông trùm đó vẫn là "behind the scene", vẫn đang tiếp tục lẫn trốn. Như trường hợp của Trần Chí chẳng hạn, phải mất rất nhiều thời gian mới bị phá vỡ và bị bắt. Thành thử những người Việt này thì chúng tôi đánh giá chủ yếu là đứng đằng sau điều hành các trung tâm lừa đảo Cam Bốt. Công an Việt Nam cũng đang tiếp tục khởi tố theo các nhóm tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, hoặc tổ chức đưa người ra nước ngoài trái phép, tham gia trực tiếp vào các trung tâm lừa
Năm 2025, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt kỷ lục với 151,85 tỉ đô la (chiếm 32% tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam). Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỉ đô la (chiếm gần 41% trong tổng trị giá nhập khẩu của Việt Nam) (1). Trị giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tỉ lệ thuận với trị giá nhập khẩu từ Trung Quốc. Trước sức ép của Washington, Hà Nội phải thắt chặt kiểm soát để ngăn hàng Trung Quốc đội lốt Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ. Theo tổng kết của AP về thuế đối ứng của tổng thống Donald Trump năm 2025, Trung Quốc, từng là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Mỹ, hiện giờ đứng thứ ba, sau Canada và Mêhicô. Tổng giá trị hàng hóa từ Trung Quốc nhập khẩu vào Mỹ giảm gần 25% trong ba quý đầu năm 2025. Không thể làm mất lòng Mỹ - thị trường chiếm đến 30% GDP của Việt Nam Ngay đầu nhiệm kỳ 2, tổng thống Trump siết chặt đầu tư và thương mại từ Trung Quốc, nhắm đến cả những nước bị coi là “sân sau” của Bắc Kinh, trong đó có Việt Nam. Kinh tế gia cấp cao Nguyễn Trinh của Natixis nhận định trong phóng sự “Vì sao Việt Nam phải ký hiệp định thương mại với Trump?” của Bloomberg ngày 11/07 : “Trong nhiệm kỳ 1.0 của Trump, Việt Nam nổi lên là bên hưởng lợi lớn nhất từ căng thẳng Mỹ - Trung. Việt Nam trở thành điểm đến thu hút các nhà đầu tư muốn tiếp cận thị trường Mỹ, nơi chênh lệch thuế quan giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng lớn hơn (...) Chính sách thời Trump 2.0 rất khác ở chỗ thay vì chỉ nhắm vào Trung Quốc, điều mà Việt Nam đã được hưởng lợi, giờ đây chúng ta lại thấy thuế quan áp dụng trực tiếp đối với cả Việt Nam”. Đọc thêmBị Mỹ đánh thuế 46% : Việt Nam trả giá vì làm “sân sau” cho Trung Quốc ? Chính phủ Việt Nam bị sốc vì không nghĩ đến mức thuế lên tới 46% được tổng thống Trump công bố trong “Ngày giải phóng” 02/04/2025 cho dù đã dự đoán một số mức thuế theo xu hướng chung. Mức thuế đối ứng 46% sẽ khiến Việt Nam mất tính cạnh tranh, tác động đến xuất khẩu chiếm tới 86% GDP, trong khi thị trường Mỹ chiếm 30% GDP của Việt Nam, “giúp người dân thoát nghèo”, theo nhận định của John Boudeau, phóng viên của Bloomberg tại thành phố Hồ Chí Minh. Trang Fortune Herald nhận định ngày 30/12 rằng “thương mại với Hoa Kỳ đã đóng vai trò như một bậc thang trên con đường hiện đại hóa kinh tế của Việt Nam”. Việt Nam là một trong những chính phủ đầu tiên liên hệ với Nhà Trắng để đàm phán. Trong buổi họp báo ngày 10/04, người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng phát biểu : “Trên tinh thần đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, Việt Nam sẽ cùng Mỹ tiến hành đàm phán về một thỏa thuận thương mại đối ứng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau nhằm đạt được giải pháp thỏa đáng hướng đến thương mại công bằng, bền vững và đáp ứng được lợi ích của người dân và doanh nghiệp của hai nước”. Và Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á đạt được thỏa thuận với chính quyền Mỹ, với mức 20%, cùng với nhiều lời hứa giảm thâm hụt thương mại bằng cách mua những sản phẩm có giá trị lớn của Mỹ (máy bay, khí tự nhiên hóa lỏng LNG, nông phẩm…). Việt Nam không thể giảm phụ thuộc vào hàng hóa Trung Quốc Tuy nhiên, một trong những điểm bất đồng lớn nhất trong các cuộc đàm phán là Mỹ yêu cầu Việt Nam siết chặt hơn nữa các biện pháp chống gian lận thương mại và ngăn chặn việc hàng hóa Trung Quốc trung chuyển và đóng gói lại ở Việt Nam để né tránh thuế quan cao hơn. Theo tính toán của Chad Bow, Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, thuế quan Mỹ áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc hiện lên tới 47,5%. Còn hàng hóa Việt Nam bị Mỹ đánh thuế nhập khẩu 20% nhưng phải còn có một mức thuế khác lên tới 40% được áp dụng đối với hàng trung chuyển, chủ yếu là Trung Quốc. Nhà báo John Boudeau của Bloomberg nhận định : Việc này vô cùng khó khăn đối với Việt Nam bởi vì rất nhiều nhà máy ở đây không chỉ dựa vào linh kiện, nguyên vật liệu, mà còn dựa vào máy móc đến từ các nước như Trung Quốc. “Việt Nam trở thành nơi trung chuyển hàng hóa Trung Quốc trước khi hướng sang Mỹ”. Điều này được trang Nikkei Asia phản ánh trong phóng sự điều tra đăng ngày 23/12/2025 về cửa khẩu Móng Cái, ngày càng nhộn nhịp, sầm uất với nhiều công trình hạ tầng được xây dựng từ năm 2017, khi chiến tranh thương mại Mỹ-Trung bắt đầu. Hoạt động này gia tăng mạnh hơn trong năm 2025 : “Khối lượng container thông qua Móng Cái tăng vọt. Dữ liệu do ban quản lý cầu Bắc Luân 2 tổng hợp cho thấy, tính đến ngày 06/07/2025, 840.000 tấn hàng hóa đã qua biên giới, tăng 43% so với cùng kỳ năm 2024. (…) Giá trị xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng mạnh trong bối cảnh thuế quan cao của Mỹ, cũng như xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Trong khi đó, xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc sang Mỹ lại trì trệ”. Thống kê mới nhất cho năm 2025 được Cục Hải quan công bố ngày 25/12 có thể cho thấy một phần hiện tượng này : “Nhóm hàng công nghệ cao có trị giá lớn nhất, đóng góp nhiều nhất vào tăng xuất nhập khẩu. Cụ thể đối với xuất khẩu ba nhóm hàng có trị giá cao nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ; điện thoại các loại và linh kiện ; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, tổng trị giá là 222 tỉ đô la, chiếm 47% trị giá xuất khẩu cả nước. Đối với nhập khẩu, ba nhóm hàng trên đạt 221 tỉ đô la, chiếm 49% trị giá nhập khẩu của cả nước, tăng 54,3 tỉ đô la so với năm 2024”. Đọc thêmĐại chiến thuế quan Mỹ-Trung, « cây tre » Việt Nam biết ngả về đâu Trong nghiên cứu của ngân hàng ING đăng ngày 03/07/2025, tác giả Deepali Bhargava, trưởng bộ phận nghiên cứu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhận định : “Đây là một sự thay đổi đáng kể so với năm 2017 (trước khi xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ-Trung), khi xuất khẩu máy móc và thiết bị điện tử của Trung Quốc sang Việt Nam đạt 26,9 tỉ đô la và chiếm khoảng 16,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam, trong khi xuất khẩu máy móc và thiết bị điện tử của Việt Nam sang thị trường Mỹ chỉ đạt 5,9 tỉ đô la và chiếm khoảng 5,3% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ”. Sự bùng nổ này, có thể một phần là do nhu cầu nội địa gia tăng ở Việt Nam, nhưng cho thấy rõ hoạt động trung chuyển đáng kể, theo bà Deepali Bhargava : Nhiều công ty sử dụng Việt Nam làm điểm lắp ráp linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc gia tăng đủ giá trị cho sản phẩm để thay đổi xuất xứ một cách hợp pháp. Tuy nhiên, một số công ty chỉ dán nhãn “Sản xuất tại Việt Nam” lên hàng sản xuất tại Trung Quốc, và đây là hành vi bất hợp pháp nhưng khó truy vết. (…) Việc phân biệt giữa xuất khẩu giá trị gia tăng và xuất khẩu trung chuyển sẽ là yếu tố then chốt trong việc đánh giá tác động tổng thể đến xuất khẩu của Việt Nam, mặc dù chưa rõ trung chuyển có nghĩa là như thế nào. Vẫn theo nghiên cứu của ING, mặc dù hàng hóa trung chuyển không trực tiếp đóng góp vào GDP của Việt Nam nhưng tạo ra hoạt động kinh tế và doanh thu thông qua các dịch vụ như kho bãi, xử lý và vận chuyển, góp phần vào lĩnh vực dịch vụ. “Ngoại giao cây tre” trong thương mại với Mỹ và Trung Quốc Việc giảm lưu lượng trung chuyển có thể gây bất lợi cho Việt Nam trong ngắn hạn. Tuy nhiên, mức độ chênh lệch thuế quan của Mỹ, 20% đối với hàng nhập khẩu của Việt Nam và 40% đối với hàng trung chuyển, buộc Hà Nội phải tăng cường các biện pháp để bảo vệ lợi ích từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng mà Việt Nam đang được hưởng. Mức thuế 40% đối với hàng trung chuyển còn cho thấy những hạn chế của ngành công nghiệp Việt Nam, theo nghiên cứu của ING : “Mặc dù rất khó để đánh giá được trực tiếp mức độ trung chuyển, nhưng sự yếu kém trong sản xuất của ngành công nghiệp chế tạo trong nước, bất chấp tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ, cho thấy giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế. Để đối phó với tình trạng này, bộ Thương Mại Việt Nam đã ban hành chỉ thị trấn áp việc vận chuyển quá cảnh hàng hóa bất hợp pháp sang Hoa Kỳ và các đối tác thương mại khác bằng cách tập trung hóa việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ điện tử”. Ở quy mô rộng hơn, thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng thỏa thuận thuế quan với Mỹ là một cách để “nâng cao chuỗi giá trị”, vừa là yêu cầu vừa là cơ hội. Mức thuế trung chuyển 40% buộc Việt Nam đẩy nhanh tốc độ chuỗi cung ứng trong nước, cố giảm phụ thuộc vào linh kiện Trung Quốc bằng cách xây dựng lâu dài ngành công nghiệp chất lượng cao, phát triển công nghệ số. Đây cũng là những mục tiêu trong kế hoạch để Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Đọc thêmChủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình công du Việt Nam kêu gọi tăng cường quan hệ thương mại song phương Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục mở rộng mạng lưới đối tác, thị trường xuất khẩu để giảm thiểu sự phụ thuộc quá mức do chính sách kinh tế theo chủ nghĩa dân tộc. Cách tiếp cận đa cực được thể hiện trong các thỏa thuận với Liên Hiệp Châu Âu, Ấn Độ, Nga, thậm chí cả các nước vùng Vịnh, châu Phi. Tuy nhiên, trước mắt, Trung Quốc sẽ tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, theo giải thích của bà Nguyễn Trinh, ngân hàng Natixis : Điều đó giống như yêu cầu Mêhicô ngừng quan hệ thương mại với Hoa Kỳ. Mặc dù Mỹ là thị trường lớn nhất của Việt Nam, nhưng Trung Quốc lại là yếu tố địa-chính trị quan trọng nhất. Trung Quốc nằm ngay sát Việt Nam. Hai nước có mối quan hệ rất phức tạp mà cả hai phải hết sức thận trọng và đây là yếu tố hàng đầu trong quan hệ đối ngoại song phương. Giao thương giữa hai nước sẽ tiếp tục gia tăng với tuyến đường sắt nối Vân Nam (Trung Quốc) với Lào Cai đi qua Hà Nội và đến cảng Hải Phòng. Việt Nam sẽ tiếp tục vận dụng “ngoại giao cây tre” để điều chỉnh quan hệ thương mại với Mỹ và Trung Quốc. Năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu của hai thị trường Trung Quốc và Mỹ là 422 tỉ đô la, chiếm tỷ trọng 46% tổng trị giá xuất nhập khẩu của Việt Nam. (1) Theo thông tin Cục Hải Quan (bộ Tài Chính), được báo Thanh Niên trích dẫn ngày 25/12/2025, “Xuất khẩu sang Mỹ đạt kỷ lục gần 152 tỉ USD”.
Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm đã đến Washington trong tuần qua để dự cuộc họp khai mạc “Hội đồng Hòa bình” do Donald Trump thành lập. Nhân dịp này, ông Tô Lâm đã hội kiến tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng ngày 20/02/2026. Chuyến đi Hoa Kỳ của ông Tô Lâm được báo chí quốc tế chú ý vì đây là chuyến công du đầu tiên đến một cường quốc kể từ khi ông được bầu làm tổng bí thư thêm một nhiệm kỳ và kể từ nay thâu tóm mọi quyền lực trong tay. Theo thông báo của chính quyền Hà Nội, trong cuộc gặp với ông Tô Lâm, tổng thống Trump cho biết sẽ xóa tên Việt Nam khỏi "danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược (D1 - D3)", tức là danh sách các quốc gia bị hạn chế tiếp cận công nghệ tiên tiến của Mỹ. Cuộc gặp tại Nhà Trắng diễn ra sau khi các hãng hàng không Việt Nam công bố các hợp đồng trị giá tổng cộng 37 tỷ đô la mua 90 máy bay Boeing. Trang mạng The Diplomat ngày 23/02/2026, nhận định, thông báo nói trên của tổng thống Trump "là dấu hiệu cho thấy sự tin tưởng chiến lược ngày càng tăng giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, xét đến vị trí mang tính cơ cấu của Việt Nam trong chuỗi cung ứng liên kết Mỹ và Trung Quốc, thương mại và thuế quan có khả năng sẽ là điểm gây bất đồng chính giữa Hà Nội và Washington trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump." Đàm phán thương mại gay go Quan hệ Việt-Mỹ hiện nay đang phần nào bị chựng lại do bế tắc trong đàm phán thương mại song phương. Trên trang mạng The Diplomat ngày 13/02, biên tập viên về Đông Nam Á Sebastian Strangio nhắc lại: “ Washington áp thuế 20% đối với hàng hóa Việt Nam từ tháng 8 năm ngoái. Hai nước đã tổ chức vòng đàm phán thứ sáu vào đầu tháng này, nhưng vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Theo các nguồn tin được hãng tin Bloomberg trích dẫn, các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Việt Nam đang bế tắc về định nghĩa hàng hóa “trung chuyển”. Chính quyền Trump cho biết những hàng hóa “trung chuyển” sẽ bị đánh thuế 40%, nhưng vẫn chưa nói cụ thể xác cách thức xác định và xử lý loại hàng hóa đó. Các cố vấn thương mại của ông Trump từ lâu vẫn cho rằng một lượng lớn hàng hóa Trung Quốc được vận chuyển qua Việt Nam, hoặc được sản xuất tại đó với rất ít nguyên liệu đầu vào, để tránh thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc. Họ cho đây là lý do chính dẫn đến thặng dư mậu dịch của Việt Nam đối với Mỹ, mức thặng dư lớn thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Mêhicô.” Các cuộc đàm phán thương mại có thể đã trở nên phức tạp hơn do mức thuế 20% đã không làm giảm đáng kể thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ. Theo số liệu của chính phủ Việt Nam, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng từ 119,6 tỷ đôla năm 2024 lên 153,2 tỷ đôla năm ngoái, tăng 28%, đẩy thặng dư thương mại lên mức kỷ lục gần 134 tỷ đôla vào năm 2025, cao hơn đáng kể so với năm 2024. (1) Sebastian Strangio ghi nhận: “Chưa biết có dẫn đến bước đột phá nào trong thương mại với Mỹ hay không, chuyến công du lần này của ông Tô Lâm dường như phá vỡ một tiền lệ, đó là các lãnh đạo mới được bổ nhiệm của đảng Cộng Sản Việt Nam thường đến thăm Trung Quốc trước bất kỳ cường quốc lớn nào khác. Ngoài chuyến đi ngắn tới Cam Bốt và Lào vào ngày 5-6 tháng 2, chuyến thăm ông Tô Lâm tại Mỹ sẽ là chuyến thăm đầu tiên tới một cường quốc lớn kể từ khi Đại hội Đảng lần thứ 14 bầu ông làm tổng bí thư thêm nhiệm kỳ 5 năm. Thực tế này đã khiến một số nhà quan sát cho rằng nó có thể phản ánh một sự thay đổi tiềm tàng trong định hướng chiến lược của Việt Nam. Tuy nhiên, xét đến tính nhất quán tương đối của chính sách đối ngoại Việt Nam trong hai thập kỷ qua, ta nên thận trọng, không diễn giải quá mức về thời điểm chuyến thăm của ông Tô Lâm sang Mỹ. Ngày diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Hội đồng Hòa bình là do Washington ấn định, chứ không phải do Hà Nội, và chuyến thăm của ông Tô Lâm cũng có thể xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của Việt Nam đạt được một thỏa thuận thương mại với Hoa Kỳ, yếu tố cần thiết nếu đảng Cộng Sản Việt Nam (CPV) muốn đạt được các mục tiêu kinh tế đầy tham vọng trong những năm tới. Ngoài ra, ông Tô Lâm hầu như không cho thấy dấu hiệu nào muốn xa rời Trung Quốc mà thật ra đang làm ngược lại, như nhận xét của Sheena Chestnut Greitens của Đại học Texas, Austin trên mạng X: “Tô Lâm là động lực thúc đẩy tăng cường hợp tác về an ninh nội bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc.” Thực tế là, theo Sebastian Strangio, “do tính khí thất thường của ông Trump và chính quyền của ông, cùng với tình trạng không chắc chắn của các cuộc đàm phán thương mại, quan hệ với Hoa Kỳ hiện cần được “chăm sóc” về mặt ngoại giao nhiều hơn so với mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, vốn vẫn ổn định nhờ vào các chuyến thăm song phương luân phiên hàng năm của các quan chức hai bên. Rất có thể ông Tô Lâm sẽ sớm có chuyến thăm đáp lễ tới Bắc Kinh. Lần cuối cùng ông đi thăm Trung Quốc là vào tháng 8/2024, chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức tổng Bí thư. Ông Tập Cận Bình đã đáp lễ với chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 4 năm ngoái.” “Ngoại giao cây tre giữa cơn bão Trump” Trên trang mạng Financial Review của Úc ngày 16/02, ông James Curran, giáo sư Lịch sử Hiện đại và nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc Đại học Sydney, ghi nhận về đối ngoại, chính sách “ngoại giao cây tre” của Việt Nam “vẫn còn khá yếu ớt giữa cơn bão Trump”. Giáo sư Curran trích nhận xét của một nhà phân tích: Thuế quan “ngày giải phóng” là một “cú đánh mạnh”, gợi lại những ký ức đau buồn về việc Washington lôi kéo Hà Nội gia nhập TPP ( Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương ), rồi Chú Sam lại rút lui vào phút cuối. Một số người ở Hà Nội đang rất tức giận, nói rằng “người Mỹ hành xử không phải như một nhà tư bản mà là đế quốc”. Hà Nội hiện đang nhắm đến thỏa thuận tương tự thỏa thuận mà thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã nhận được, tức là mức thuế 18%. Nhưng một nguồn tin từ Việt Nam lo ngại không biết chính quyền Washington có nhận thức được hậu quả hay không. Nhân vật này lập luận rằng tâm lý chống Trung Quốc ở Việt Nam đôi khi bị thổi phồng quá mức và nói thêm rằng “mọi người đang nhìn về phía Trung Quốc và tự hỏi liệu đó có phải là lựa chọn tốt hơn hay không.” Theo giáo sư Curran, nói chuyện riêng, các quan chức Mỹ nhấn mạnh thông điệp của họ gửi tới Hà Nội rất thẳng thắn: “Hãy cẩn thận khi chơi trò thân mật với Bắc Kinh quá mức”. Họ nghĩ rằng Hà Nội sẽ nhượng bộ Trung Quốc một số điều, chẳng hạn như qua việc hợp tác trong dự án đường sắt cao tốc, nhưng về các khoáng sản quan trọng, chất bán dẫn và các lĩnh vực khác có tầm quan trọng quốc gia cao, "Hà Nội muốn chúng ta." Chính sách đối ngoại thực dụng Trong bài viết đăng trên trang mạng Geopolitical Monitor ngày 28/01/2026, giáo sư James Borton, Viện Chính sách đối ngoại SAIS - Đại học Johns Hopkins (Mỹ), trước hết nhận định: “Ông Tô Lâm đã làm được điều mà ít nhà lãnh đạo Việt Nam nào làm được từ nhiều thập niên qua: thâu tóm vững chắc quyền lực của Đảng và Nhà nước vào tay mình. Tái đắc cử tổng bí thư và chuẩn bị đảm nhiệm chức chủ tịch nước, ông Tô Lâm hiện đang đứng đầu cơ cấu lãnh đạo tập trung nhất của Việt Nam kể từ thời hậu chiến, một sự tập trung có thể giúp điều chỉnh lại sự cân bằng mong manh giữa Hà Nội và Washington. Những tác động đối với quan hệ Mỹ - Việt Nam là rất sâu sắc.” Theo ông Borton, Washington, đặc biệt là dưới chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai, vốn công khai ủng hộ việc hợp tác với các nhà lãnh đạo quyền lực, dĩ nhiên là rất hoan nghênh thực tế mới này. Sự tập trung quyền lực của ông Tô Lâm không chỉ là về chính trị, mà còn gắn liền với một kế hoạch kinh tế đầy tham vọng. Hà Nội đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng hàng năm từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, bằng cách đẩy mạnh sản xuất công nghệ cao, chuyển đổi số và mở rộng khu vực tư nhân. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải đảm bảo nguồn vốn, công nghệ và tiếp cận thị trường từ nước ngoài, đặc biệt là từ Hoa Kỳ. Giáo sư Borton viết tiếp: “Yêu cầu cấp thiết về kinh tế đó giải thích cho chính sách đối ngoại thực dụng của ông Tô Lâm. Bất chấp những tranh chấp thương mại định kỳ và những lo ngại dai dẳng của Hoa Kỳ về thặng dư mậu dịch, quản lý tiền tệ và rào cản tiếp cận thị trường của Việt Nam, ông Tô Lâm đã theo đuổi một chính sách dựa trên sự linh hoạt hơn là dựa trên ý thức hệ. Việc ông sốt sắng nhận lời mời của Hoa Kỳ tham gia “Hội đồng Hòa bình”, một hành động được coi là nhanh bất thường theo tiêu chuẩn ngoại giao thận trọng cố hữu của Hà Nội, cho thấy ông sẵn sàng hợp tác với Washington, kể cả dưới thời tổng thống Donald Trump. Thông điệp rất rõ ràng: Để hiện đại hóa kinh tế Việt Nam cần phải có một mối quan hệ ổn định với Hoa Kỳ.” Tuy nhiên, theo giáo sư James Borton, việc ông Tô Lâm củng cố quyền lực cũng khiến tình hình trở nên phức tạp. Việt Nam từ lâu vẫn cố giữ thế cân bằng thận trọng giữa Washington và Bắc Kinh. Một cấu trúc lãnh đạo tập trung hơn có thể làm cho chiến lược cân bằng đó được sắc bén, nhưng cũng có thể thu hẹp không gian cho các cuộc tranh luận nội bộ mà trước đây vẫn giúp điều tiết các biến động về chính sách. Theo giáo sư Borton, ông Tô Lâm thừa hiểu Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và là thế lực áp đảo về địa lý và chiến lược. Còn Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là nguồn cung cấp công nghệ tiên tiến và đầu tư không thể thiếu. Sự thịnh vượng của Việt Nam phụ thuộc vào cả hai mối quan hệ này. Ông Borton viết tiếp: “Với quyền lực tập trung ở cấp cao nhất, ông Tô Lâm có thể hành động quyết đoán hơn trong các cải cách mà các ban lãnh đạo dựa trên sự đồng thuận trước đây vẫn thi hành một cách thận trọng. Các cải cách có thể bao gồm việc điều chỉnh quy định sâu rộng hơn để thu hút đầu tư của Mỹ trong ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo và mở rộng hợp tác năng lượng - bao gồm các hợp đồng khí đốt tự nhiên hóa lỏng dài hạn của Mỹ, giúp thu hẹp thâm hụt thương mại song phương. Những bước đi như vậy sẽ phù hợp với các ưu tiên kinh tế và chiến lược của Washington.” Nhưng giáo sư Borton lưu ý: “Học thuyết chính sách đối ngoại của Việt Nam vẫn dựa trên sự độc lập, tự lực và chủ nghĩa đa phương. Hà Nội sẽ cố không để mình trở thành đồng minh chính thức của M
Pháp luật là một trong những lĩnh vực hợp tác lâu năm nhất giữa Pháp và Việt Nam. Hợp tác trong lĩnh vực này bắt đầu từ những năm 1990 và dựa trên sự tương đồng giữa hệ thống pháp luật của hai nước, cũng như sự quan tâm của Việt Nam đến kinh nghiệm của Pháp. Mục tiêu chủ yếu của quan hệ đối tác này là hỗ trợ các cải cách hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Sự hợp tác này được tổ chức thông qua các hội thảo chia sẻ chuyên môn và các hội nghị với các bộ, ngành của Việt Nam, các chuyên gia pháp luật và các học giả. Để đánh dấu 30 năm hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, trong tháng 11 vừa qua, Pháp và Việt Nam đã tổ chức Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp. Nhân dịp này, một phái đoàn của bộ Tư Pháp của Pháp đã đến thăm Việt Nam, dẫn đầu là bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín. Theo thông báo của đại sứ quán Pháp, phái đoàn Pháp đã trao đổi với lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án Nhân dân Tối cao “về những vấn đề pháp lý cùng quan tâm”, trao đổi về tương trợ dân sự quốc tế với Vụ Pháp luật quốc tế thuộc bộ Tư pháp Việt Nam, đồng thời ký kết Chương trình hợp tác giai đoạn 2026–2027 giữa bộ Tư Pháp của hai nước. Tham gia phái đoàn Pháp đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn có nhiều chuyên gia pháp lý (công chứng viên, luật sư, thẩm phán và chấp hành viên), trong đó có luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, chủ tịch Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam ( ACJEV ) và cũng là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, một ủy ban được thành lập vào năm 2013. Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 12/12/2025, luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot cho biết: “Tôi tham gia phái đoàn Pháp từ ngày 24 đến 21/11 tham dự Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp Pháp-Việt. Đây là lần đầu tiên sự kiện được tổ chức và chúng tôi đã tham dự nhiều hội thảo, gặp gỡ Tòa án Nhân dân Tối cao và bộ trưởng Tư Pháp, cũng như dự lễ ký kết chương trình hành động hai năm 2026-2027 với sự hiện diện của thứ trưởng bộ Tư Pháp. Phái đoàn Pháp do bộ Tư Pháp dẫn đầu, bao gồm bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín và một số quan chức khác của bộ Tư Pháp, cùng với hai luật sư từ Hội đồng Luật sư Quốc gia (mà tôi là một trong những thành viên), hai công chứng viên từ Hội đồng Công chứng cấp cao, các chấp hành viên và đại diện từ Quỹ Luật Châu lục. Hợp tác pháp lý Pháp-Việt là lâu đời nhất, bắt đầu từ những năm 1990, khi tổng thống François Mitterrand thăm Việt Nam và Đại sứ Blanche Maison đang tại nhiệm. Vào thời điểm đó, Nhà Pháp luật Việt-Pháp được thành lập. Trung tâm này đã đóng cửa vào năm 2012 và năm 2013, Luật sư đoàn Paris đã lập cơ sở quốc tế đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút một lượng lớn các chuyên gia pháp lý từ các trường đại học cũng như các luật sư Pháp, Việt Nam và châu Âu. Kể từ đó, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam, chúng tôi đã tham gia vào sự hợp tác này. Đầu tiên, chúng tôi thành lập một hiệp hội gọi là Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam, hầu như năm nào cũng đến Việt Nam để đóng góp vào sự hợp tác này theo cách riêng và ở cấp độ của mình, thông qua các hội thảo về nhiều chủ đề khác nhau, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Nhóm của chúng tôi luôn sẵn sàng và trong nhóm, chúng tôi bổ sung cho nhau rất tốt, và có một sự liên tục nhất định trong sự hợp tác này, một sự hợp tác cũng gắn liền với cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi hoàn toàn muốn các hội thảo của mình được tổ chức bằng tiếng Pháp và điều này là theo yêu cầu của các học giả và hiệp hội luật sư Việt Nam.” Trong Tuần lễ Pháp - Việt Nam về Pháp luật và Tư pháp, một cuộc gặp gỡ đã diễn ra tại trụ sở Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa các luật sư của phái đoàn Pháp với Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các phó chủ tịch và các thành viên Ban Quan hệ Quốc tế của Liên đoàn. Cuộc gặp này là trong khuôn khổ các trao đổi giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Hội đồng Quốc gia các Luật sư đoàn Pháp. Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp được tổ chức trong tháng 11 vừa qua đã là dịp thúc đẩy và định hình các trao đổi mới trong lĩnh vực đại học, đặc biệt xoay quanh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những chủ đề then chốt trong tiến trình hiện đại hóa hệ thống pháp luật của hai nước. Theo bộ Tư Pháp Việt Nam, trong những năm gần đây, phía Pháp đã tiếp tục hỗ trợ bộ này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế, trong đó có các đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị định Hòa giải thương mại…, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các nghề luật của hai nước như công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên… Ngoài các phiên họp chính thức, đây đã là dịp để các chuyên gia Việt Nam và Pháp tham gia ba buổi hội thảo về những thách thức pháp lý phát sinh từ quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, theo lời luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot: “Pháp luôn được tham vấn mỗi khi Việt Nam thực hiện một dự án cải cách. Pháp được xem là mô hình cho Việt Nam. Năm nay, bộ Tư Pháp của Pháp, trong khuôn khổ Tuần lễ Pháp luật, đã nêu bật những thách thức ở cấp độ châu Âu do việc quản lý trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra. Mục tiêu là dung hòa những đổi mới công nghệ với việc bảo vệ các quyền cơ bản và bảo vệ tính độc lập của tư pháp, vốn là nguyên tắc thiết yếu của nhà nước pháp quyền. Do bộ Tư Pháp của Pháp và bộ Tư Pháp của Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, chương trình của Tuần lễ Pháp luật rất dày đặc, bao gồm chuyến thăm và cuộc gặp với một trong các phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tiếp theo, ngày hôm sau, chúng tôi có một hội thảo kéo dài cả ngày với Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội thảo này tập trung vào đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với các bài thuyết trình của nhiều học giả đến từ Đại học Luật Hà Nội và Đại học Huế, cũng như các giáo sư đến từ Pháp. Dĩ nhiên đã có bài thuyết trình của tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín của Pháp, cũng như của các công chứng viên và chấp hành viên. Chủ đề chính là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, và làm thế nào để kết hợp những đổi mới công nghệ này với việc bảo vệ các quyền cơ bản, duy trì tính độc lập của tư pháp, và làm thế nào để dung hòa tất cả những điều này. Việc xây dựng một môi trường tin cậy là rất cần thiết để đảm bảo AI hoạt động hiệu quả. Chúng tôi đang làm việc cho tương lai. AI không phải là mới, nhưng đúng là chúng ta vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được công nghệ. Chúng ta cần tập hợp các nguồn lực. Bộ Tư Pháp của Pháp giới thiệu các mô hình châu Âu và trao đổi ý tưởng với các đối tác Việt Nam, những người cũng đã tiến rất xa trong lĩnh vực này. Vì vậy, tôi nghĩ tương lai hoàn toàn khả thi đối với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.” Hội thảo chuyên đề đầu tiên, được tổ chức vào ngày 25/11/2025 tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, là về chủ đề “Thể chế pháp lý và đổi mới sáng tạo”, tập trung vào việc điều chỉnh pháp luật tại Pháp, Việt Nam và trên thế giới trong bối cảnh phát triển xã hội, khoa học và công nghệ. Hội thảo thứ hai, với chủ đề « Thể chế pháp lý và Trí tuệ Nhân tạo », được tổ chức vào ngày 27/11 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặt ra những tranh luận thiết yếu về các vấn đề pháp lý xoay quanh trí tuệ nhân tạo và các quy định liên quan. Trong khuôn khổ quan hệ đối tác giữa Trường Thẩm phán Quốc gia (Pháp) và Học viện Tư pháp (Việt Nam), một hội thảo kết hợp trực tuyến và trực tiếp về « Sử dụng trí tuệ nhân tạo của thẩm phán » đã được tổ chức để phân tích sự đóng góp của AI vào việc quản lý tư pháp tại Pháp và Việt Nam. Theo luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, trong khi đó Hội Hợp tác Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam vẫn tiếp tục đáp ứng các nhu cầu đào tạo của phía Việt Nam: “Nhu cầu đào tạo ngày càng tăng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam khởi xướng việc thành lập hai trung tâm tài chính quốc tế trong năm nay tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, và chúng tôi có yêu cầu cấp thiết là quay lại hàng năm để cung cấp các khóa đào tạo bằng tiếng Pháp cho các học giả và luật sư nhằm tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng nhau tiến lên. Hiệp hội của tôi và cá nhân tôi đã tham gia vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt này trong suốt 25 năm qua. Tôi đã mang theo cả một đội ngũ, hầu như năm nào cũng sẵn sàng đến Việt Nam theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Đó là một đội ngũ bổ sung, mang đến cách tiếp cận đa ngành, và mỗi thành viên đều đóng góp đáng kể vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt. Hầu hết các tổ chức và trường đại học đều do những người nói tiếng Pháp, từng học ở Pháp điều hành. Vì vậy, việc đào tạo tiếng Pháp không phải là vấn đề. Họ hoàn toàn có khả năng, và ngay cả khi đôi khi một số người trẻ không được đào tạo tiếng Pháp cũng nói tiếng Anh và giao tiếp rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án với các trường đại học và hiệp hội luật sư. Tại hội nghị ngày 25/11/2025, tôi đã gặp lại các sinh viên đến từ các trường đại học Toulouse-Capitole, Lyon 3 và Bordeaux. Theo yêu cầu của các giáo sư, tôi đã hướng dẫn các em trong một ngày học vào tháng Tư năm ngoái trước khi các em sang Việt Nam. Hiện các sinh viên này đang theo học năm thứ hai chương trình Thạc sĩ Hợp tác Kinh tế và Luật Thương mại Quốc tế tại Hà Nội. Ngoài ra, năm 2026 sẽ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 20 tại Siem Reap, Cam Bốt , ngay sát bên. Chúng tôi sẽ cố gắng có mặt ở đó, vì một trong những mục tiêu của hiệp hội chúng tôi là Cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi sẽ cố gắng kết nối hai bên và phát triển hơn nữa tiếng Pháp tại Việt Nam.” Theo báo chí Việt Nam, bộ Tư Pháp Pháp, Quỹ Luật lục địa cũng như Trường Đại học Paris-Assas đang phối hợp với bộ Tư Pháp Việt Nam và Trường Đại học Luật Hà Nội để thúc đẩy việc thành lập Trung tâm Pháp luật Pháp tại đại học này. Phía Việt Nam cho biết Trường Đại học Luật Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng cơ sở vật chất cho Trung tâm và mong muốn phía Pháp hỗ trợ chuyên gia và giảng viên tới giảng dạy tại Trung tâm Pháp luật Pháp. Tuy nhiên phía Pháp hiện chưa đáp ứng các yêu cầu này.
Liên Hiệp Châu Âu hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba và là thị trường nhập khẩu lớn thứ năm của Việt Nam. Năm 2026 được coi là “thời điểm vàng” để doanh nghiệp Việt Nam khai thác tối đa lợi thế từ Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) với Liên Âu vì lộ trình cắt giảm thuế quan giữa hai bên đã tiến gần đến 100%. EU cũng không ngừng hỗ trợ Việt Nam trong chuyển đổi xanh để đáp ứng tiêu chí sản phẩm của khối 27 nước. Kể từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực ngày 01/08/2020, giao thương giữa Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu không ngừng gia tăng. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 73,8 tỷ đô la, trong đó Việt Nam xuất siêu khoảng 30 tỷ đô la. Theo báo Đầu tư ngày 07/01, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Liên Âu trong khối ASEAN, đứng trong top 10 nhà cung ứng hàng hóa cho thị trường EU (Eurostat 2024). Doanh nghiệp châu Âu tin vào Việt Nam Liên Âu hiện là nhà đầu tư lớn thứ 6 của Việt Nam. Việt Nam trở thành điểm hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư Liên Âu. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier nhận định : “Tôi thậm chí có thể nói rằng trong một hoặc hai năm gần đây, chúng ta đã thấy sự gia tăng đáng kể về niềm tin của các nhà đầu tư châu Âu vào Việt Nam. Điều này được Phòng Thương mại Châu Âu - EuroCham tại Việt Nam đo lường hàng tháng. Mức độ tin tưởng vào đất nước gia tăng nhanh chóng. Năm 2025, tăng trưởng của Việt Nam đạt 8% và Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong những năm tới. Vì vậy, đây là một quốc gia có nhiều cơ hội kinh tế, nơi có một mong muốn thực sự, một tầm nhìn để hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam, và là nơi đang thu hút ngày càng nhiều công ty châu Âu. Hiện tại có 1.500 công ty thành viên của EuroCham đang đầu tư mạnh vào Việt Nam. Đọc thêmHiệp định Tự do Thương mại EU-Việt Nam : Pháp-Việt được lợi gì? Cụ thể, theo Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) quý IV năm 2025 được EuroCham thực hiện, niềm tin đã tăng 13,5 điểm so với quý trước và lên đến 80 điểm - mức cao nhất trong 7 năm gần đây. Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert đánh giá trong bài nhận định đăng trên The Investor ngày 19/01 : “Đây không chỉ là một con số ấn tượng, nó còn báo hiệu một sự chuyển biến rõ ràng trong tâm lý kinh doanh châu Âu, từ sự phục hồi thận trọng sang niềm tin chiến lược… Từ 2021 đến 2025, các nhà đầu tư châu Âu đã rót hơn 28 tỷ đô la vào Việt Nam. Điều này cho thấy niềm tin dài hạn của họ và tiềm năng của đất nước”. Trước đó, tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt Nam - EU 2025, diễn ra ngày 17/10/2025, phó chủ tịch EuroCham Jean-Jacques Bouflet nhận định : 76% lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu hiện nay nhìn nhận Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn, và 80% dự báo điều kiện sẽ còn thuận lợi hơn trong 5 năm tới. Khả năng phục hồi và tư duy cải cách : Hai yếu tố củng cố niềm tin Niềm tin này được căn cứ vào hai yếu tố chủ đạo : Khả năng phục hồi đáng kể ; tư duy cải cách mạnh mẽ. Khả năng phục hồi Về yếu tố thứ nhất, Việt Nam được giới chuyên gia đánh giá là đã thể hiện được sự linh hoạt, khéo léo hóa giải các biện pháp thuế đối ứng (ban đầu lên đến 46%) của tổng thống Mỹ Donald Trump. Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, nhận định với RFI Tiếng Việt : “Vấn đề thuế quan (với Mỹ) đã được Việt Nam đàm phán khá khéo léo, và cuối cùng họ không bị thiệt hại quá nhiều. Còn về quan hệ song phương với Trung Quốc, quan hệ đối tác kinh tế và thương mại đã cởi mở hơn và nhiều hơn. Nhìn từ góc độ này, bối cảnh rất đặc biệt cho Việt Nam, nhưng “ngoại giao cây tre” đã chứng tỏ hiệu quả đáng kể, bởi vì Việt Nam đã phần nào vượt qua các cuộc xung đột đánh dấu năm 2025 mà không bị thiệt hại đáng kể”. Năm 2025, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế có trị giá xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới, với tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 920 tỷ đô la. Theo Cục Hải quan, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất (152 tỷ đô la) của Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất (183 tỷ đô la) cho Việt Nam. Tư duy cải cách Tư duy cải cách mạnh mẽ là yếu tố thứ hai tác động đến niềm tin của doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam. Ngày 16/01, hãng tin Pháp AFP nhận định “từ khi lên nắm giữ vị trí cao nhất cách đây chỉ 17 tháng, ông Tô Lâm đã tiến hành chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt, giảm bớt thủ tục hành chính và thúc đẩy đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng” : từ 30 bộ và cơ quan chính phủ giảm xuống còn 22, giảm gần 150.000 công chức, khởi động nhiều dự án đầy tham vọng về đường sắt và năng lượng. Đối với nhiều nhà ngoại giao và nhà phân tích, được AFP trích dẫn ngày 16/01, “chính trị gia 68 tuổi là một chiến lược gia khôn khéo, có khả năng chấp nhận rủi ro, và những canh bạc táo bạo nhất của ông đã mang lại thành công”. Giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales (Úc), “không gọi ông Tô Lâm là Trump của Việt Nam, nhưng đó là một nhà lãnh đạo tìm cách củng cố quyền lực để đưa ra những quyết định nhanh chóng và dứt khoát”. Đọc thêmEuroCham : Tinh giản hành chính nhưng cần nhanh, hiệu quả để Việt Nam tăng hấp lực Tân tổng bí thư “Tô Lâm sẽ vạch ra hướng đi cho các cải cách đã ấp ủ trong năm qua”, theo nhận định với AP của Nguyễn Khắc Giang, nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Chương trình Nghiên cứu Việt Nam, Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) : “Tôi cho rằng các cải cách sẽ tiếp tục được đẩy nhanh sau Đại hội Đảng. Nhưng rõ ràng, sẽ có rất nhiều rào cản đối với các cải cách của ông ấy, đặc biệt là nếu nhìn vào cách thức mà các phe phái bảo thủ, nhất là quân đội, sẽ đặt ra nhất nhiều hạn chế, vì lo ngại rằng các cải cách sẽ đi quá xa, khiến Việt Nam có thể đi chệch khỏi con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng muốn đề ra cho đất nước”. EU sẵn sàng đồng hành trong quá trình chuyển đổi Vậy mô hình tăng trưởng mới gồm những điểm gì ? Đó là tái cấu trúc nền kinh tế, đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất là 10% hàng năm cho đến 2030, đưa thu nhập bình quân đầu người lên khoảng 8.500 USD vào năm 2030 ; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Để thực hiện chiến lược này, chính phủ coi trọng ba nhóm giải pháp chính : Hoàn thiện thể chế để phát triển, xóa bỏ những điểm nghẽn, rào cản, giải phóng mọi nguồn lực (…) ; Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài (…) ; Phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là hạ tầng giao thông chiến lược (đường sắt, cảng biển), hạ tầng công nghệ, hạ tầng năng lượng. Những hạ tầng này hết sức quan trọng để bảo đảm tăng trưởng 2 con số trở lên trong thời gian tới và mục tiêu đến năm 2045 trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao. Đây cũng là ba trụ cột cốt lõi được chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert nhấn mạnh khi nói về chiến lược phát triển của Việt Nam để đạt được tham vọng này. Cụ thể, Liên Hiệp Châu Âu, cũng như các nhà đầu tư châu Âu, trông đợi gì từ Đại hội Đảng XIV ? Đại sứ EU Julien Guerrier nhận định với RFI Tiếng Việt : “Đại hội cần hướng tới việc xác định và phê duyệt các chính sách đã được hoạch định cho 5 năm tới. Việt Nam đang thực hiện quá trình đơn giản hóa hành chính ở quy mô lớn, bao gồm việc sáp nhập các tỉnh, bộ và đơn giản hóa các thủ tục, tất cả nhằm mục đích hiện đại hóa đất nước và thu hút đầu tư. Tôi nghĩ rằng điều mà chúng tôi kỳ vọng, đó là sự thành công của tất cả các cải cách này, để môi trường kinh doanh trở nên hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh và chuyển đổi số. Đây là những ngành công nghiệp của tương lai và cũng là những lĩnh vực mà Liên Hiệp Châu Âu có lợi thế cạnh tranh và có thể cung cấp cho Việt Nam những giải pháp công nghệ cao, an toàn, bảo đảm tính tự chủ chiến lược và độc lập kinh tế của Việt Nam đối với việc phát triển trong tương lai về những lĩnh vực trọng điểm này”. Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Một khung pháp lý minh bạch, ổn định và nhất quán chính là nền tảng để xây dựng một nền kinh tế có thể tiến xa và tăng trưởng bền vững, để thuyết phục được các nhà đầu tư tự tin đặt những “viên gạch” dài hạn. Điểm này đã trở thành điều kiện tiên quyết trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao. Chủ tịch EuroCham cho rằng “nếu làm tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút thêm nhiều dòng vốn châu Âu vào các lĩnh vực giá trị gia tăng cao như công nghệ, năng lượng tái tạo, sản xuất xanh và dịch vụ hiện đại”. Để hỗ trợ chuyển đối số, chuyển đổi xanh được chính phủ Việt Nam khẳng định “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược”, Liên Hiệp Châu Âu và chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam (VETVET) với hơn 50 triệu euro. Được ký ngày 31/12/2025 - ngay trước khi khai mạc Đại hội Đảng XIV, Hiệp định có hiệu lực đến năm 2030, trùng với kế hoạch 5 năm 2026-2030. Đại sứ Julien Guerrier đánh giá Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam.
Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 đã kết thúc ngày 23/01/2026 sau khi Ban Chấp hành Trung ương "thống nhất tuyệt đối" bầu ông Tô Lâm tiếp tục giữ chức tổng bí thư. Ông Tô Lâm đã từng tuyên bố Đại hội Đảng lần này đánh dấu sự khởi đầu của một “kỷ nguyên mới”, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành “một quốc gia hiện đại có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.” Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội hôm 20/01, tổng bí thư Đảng cũng đã đề ra một mục tiêu đầy tham vọng : đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm ít nhất 10% trong giai đoạn 2026-2030. Nhưng đó là những mục tiêu đầy thách thức đối với ban lãnh đạo mới của đảng Cộng Sản Việt Nam. Cải cách hành chính: Tác động tích cực và tiêu cực Nguyên là bộ trưởng Công An, ông Tô Lâm đã lên làm tổng bí thư sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời vào tháng 8/2024. Trong thời gian ngắn nắm quyền, ông đã đẩy nhanh các cải cách hành chính, cắt giảm số lượng bộ, ngành của chính phủ từ 30 xuống còn 22, giảm số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố từ 63 xuống chỉ còn 34. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 21/01/206, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhận định: "Các cải cách này đã gây ra những tác động sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay. Thứ nhất là về mặt tích cực, các biện pháp này giúp giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy hành chính, bộ máy Đảng và các cơ quan đoàn thể, qua đó giúp tăng hiệu quả quản lý nhà nước, cũng như tăng hiệu quả của công tác quản trị và xây dựng Đảng. Thứ hai, bộ máy được tinh gọn như vậy thì giúp nhà nước tiết kiệm được ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực phát triển, cũng như đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, hay là đầu tư vào hệ thống phúc lợi cho người dân. Mặt tích cực thứ ba là việc tinh gọn guồng máy sẽ giúp tăng tính thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng, tăng hiệu quả quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của bộ máy chính trị và hành chính về lâu dài, qua đó giúp Việt Nam ngày càng ổn định, vững chắc hơn, cũng như có thể phát triển nhanh hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt trái hay những rủi ro. Ví dụ như trong thời gian qua cũng có những phản ánh, những lời phàn nàn về sự đứt gãy, hay gián đoạn trong công tác quản trị, hay trong việc cung cấp một số dịch vụ công, do tình trạng thiếu nhân lực khi bộ máy bị tinh gọn. Nhiều cán bộ ở lại thì chưa được trang bị những kiến thức mới để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới, do tình trạng thiếu trang thiết bị máy móc, hay do hệ thống công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh hay cập nhật kịp thời để tương thích với cơ cấu bộ máy chính quyền mới. Tình trạng này cũng có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, vì như tôi được biết, việc cấp phép hoặc xét duyệt các dự án, hay là thông qua các giấy phép cho một số doanh nghiệp cũng bị đinh trệ. Một mặt tiêu cực khác, đó là xuất hiện sự bất mãn trong một bộ phận cán bộ. Những cán bộ này được ở lại, nhưng do những vấn đề như tôi đã nói trên, họ bị quá tải công việc. Bộ máy tinh gọn nhưng công việc thì không những không giảm mà có thể tăng lên. Đặc biệt là những cán bộ ở các tỉnh thành bị sát nhập mà trung tâm hành chính lại đặt ở tỉnh khác, họ phải di chuyển rất xa đến nơi làm việc, họ phải sống xa vợ con gia đình nhiều ngày trong tuần. Trong số những người mà tôi đã phỏng vấn trong những chuyến tôi về Việt Nam, rất nhiều ý kiến cho rằng chủ trương sát nhập tỉnh thành hay tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng những cải cách này đã được tiến hành một cách quá vội vàng, chưa cân nhắc thấu đáo các hậu quả. Đáng lẽ nó có thể được tiến hành theo từng giai đoạn, theo một trình tự, để bộ máy điều chỉnh kịp thời, thích nghi dần, rồi sau đấy mới đi tới các bước tiếp theo." Trong bài viết đăng trên trang mạng East Asia Forum ngày 10/01/2026, nhà nghiên cứu Alexander L. Vuving nhắc lại, dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Bộ Chính Trị đã thông qua 4 nghị quyết từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, vạch ra chiến lược để đạt được các mục tiêu đề ra. Các nghị quyết bao gồm đổi mới khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo ông Alexander L. Vuving, “cách thức thực hiện các chính sách cụ thể lại gây ra nhiều tranh cãi. Việc tái cấu trúc lãnh thổ quy mô lớn đã được thực hiện mà không tôn trọng cấu trúc theo chiều ngang và bản sắc địa phương. Các quyết định quan trọng về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng được đưa ra mà không có sự tham vấn công chúng một cách thực chất, như quyết định xây dựng đường sắt cao tốc dọc bờ biển, xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân và đặt mục tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm 10% trở lên trong những thập kỷ tới.” Phát triển kinh tế tư nhân: Chỉ có lợi cho các tập đoàn lớn Ông Tô Lâm xem khu vực tư nhân là một “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế Việt Nam, cho dù khu vực nhà nước vẫn giữ “vai trò chủ đạo”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân cho tới nay chủ yếu có lợi cho các tập đoàn lớn: "Từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền, chúng ta thấy là một số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển rất nhanh, đã mở rộng rất nhanh, đặc biệt là một số các doanh nghiệp mà tôi cho rằng có quan hệ tốt với chính quyền, cụ thể là với bộ Công An, hay với những cơ quan liên quan tới an ninh, những tập đoàn như là Vingroup, Sun Group, Masterise Group hay TNT v.v.... Trong khoảng hơn một năm qua, họ phát triển rất nhanh về số lượng dự án, rồi đầu tư vào các lĩnh vực mới. Điều này cho thấy rằng những doanh nghiệp đó đã ít nhiều được hưởng lợi từ chính sách tạo điều kiện cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ mang lại lợi ích cho một số tập đoàn lớn, mà chưa tạo ra được những lợi ích đồng đều, lan tỏa ra các doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa có được những sự hỗ trợ cần thiết. Một số thành phần như kinh tế cá thể, kinh tế gia đình thì đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Họ là những bộ phận rất quan trọng tạo ra việc làm cho người dân, nhưng họ cũng đang tuân thủ các quy định về thuế, về hóa đơn, chứng từ..., khiến rất nhiều doanh nghiệp đóng cửa. Chính phủ Việt Nam phải cải cách pháp lý và chính sách để làm sao tạo ra được môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng, không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển theo. Thứ hai là cũng phải cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Thứ ba là tạo thuận lợi cho việc tiếp cận tài chính và tín dụng, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ tư là thời gian qua Việt Nam đã thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong thời gian tới, khía cạnh này cũng cần được tiếp tục thúc đẩy trong khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ ở các doanh nghiệp lớn, mà còn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo đà để họ có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, trở thành các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp quốc tế. Trong bài viết đăng trên mạng ngày 19/01/2026, nhật báo Mỹ The New York Times ghi nhận ông Tô Lâm được xem là một nhân vật “có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho nhiều loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Nhưng các nhà phân tích nhấn mạnh “đảng vẫn ưu tiên sự kiểm soát tập trung. Mặc dù có năng suất thấp, các công ty nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt.” Đảng có kế hoạch xây dựng một mô hình mới cho tăng trưởng kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào lao động tay nghề thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ. Theo The New York Times, “thách thức chính của Việt Nam là ở việc thực hiện các chính sách nhằm xây dựng một môi trường cởi mở hơn, hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn. Về nội bộ, một mối nguy hiểm là sự tồn tại của một nhóm nhỏ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái với năng suất thấp.” Theo mô hình chaebol: Cần thiết, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro Bên cạnh việc nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, ông Tô Lâm còn có tham vọng phát triển những đại tập đoàn tư nhân theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc. Nghị quyết 68 nêu rõ tham vọng của Việt Nam thúc đẩy sự phát triển 20 doanh nghiệp hàng đầu quốc gia vào năm 2030. Nhưng nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp đưa ra lời cảnh báo: "Điều quan trọng là chúng ta cần học hỏi các điểm tốt, nhưng phải tránh các mặt bất lợi, các mặt xấu. Điểm tốt từ mô hình chaeebol Việt Nam có thể học hỏi đó là tạo ra những cơ chế giúp các doanh nghiệp tư nhân có thể tập trung các nguồn lực và qua đó trở thành các tập đoàn lớn, có sức cạnh tranh cao, không chỉ ở phạm vi trong nước, mà phạm vi quốc tế. Qua đó có thể giúp Việt Nam mở rộng tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng của mình lên toàn cầu. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp này phát triển như vậy thì nó cũng có những mặt trái. Ví dụ như ở Hàn Quốc, các chaebol nổi tiếng là có sự tham gia vào những mạng lưới chính trị và qua các mạng lưới này thì họ giành được các nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, đi kèm theo là tình trạng hối lộ, tham nhũng, hay các mối quan hệ thân hữu, qua đấy nó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào chính quyền. Khi các doanh nghiệp này tận dụng những mối quan hệ với chính phủ để phát triển như vậy thì nó cũng bóp nghẹt sự cạnh tranh và khả năng sáng tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi mà các chaebol của Hàn Quốc phát triển thì họ cũng phát triển một cách liều lĩnh, ví dụ như vay nợ quá mức để tham gia vào nhiều lĩnh vực phát triển đa ngành. Các chaebol Hàn Quốc đã là một phần nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Một số mặt trái như vậy tôi thấy cũng đang xuất hiện ở một số tập đoàn tư nhân trong nước, cụ thể là vay nợ quá mức để theo đuổi các dự án rủi ro, không có hiệu quả cao về mặt kinh tế, không có tính bền vững về mặt tài chính. Tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở nên càng ngày càng phổ biến." Mục tiêu 10%: Tăng tốc quá nhanh? Mặt khác, đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên theo mục tiêu mà ông Tô Lâm đề ra, trong khi phải giảm sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và đối phó với các rào cản thương mại sẽ là thử thác
Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XIV diễn ra từ ngày 19 đến 25/01/2026 được nhấn mạnh là "Đại hội tiến vào kỷ nguyên mới". Những định hướng chính trị chính cho 5 năm tới được thông qua trong dịp này. Nhưng vấn đề được quan tâm nhất : Ai sẽ là tổng bí thư ? Tổng bí thư Tô Lâm, 68 tuổi, được cho là sẽ tiếp tục giữ chức vụ cao nhất trong Đảng thêm một nhiệm kỳ. Thậm chí, có thông tin tổng bí thư sẽ kiêm nhiệm chức chủ tịch nước, như mô hình của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên… Trong trường hợp đó, mối quan hệ với bên quân đội sẽ như thế nào vì chủ tịch nước hiện nay là đại tướng quân đội Lương Cường ? Các nhà tân lãnh đạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức như thế nào trong bối cảnh chính trường quốc tế đầy biến động ? Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Ngoại trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là "sự kiện mang ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước". Vậy thách thức trong 5 năm tới đối với ban lãnh đạo mới là gì ? Benoît de Tréglodé : Nói là "Thời điểm bước ngoặt" ư ? Đời sống chính trị của chế độ Việt Nam được chi phối bởi chu kỳ các Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam. Thời điểm năm 2026 này cũng không then chốt hơn thời điểm cách đây 5 năm, vào năm 2021. Rõ ràng đây là những mốc thời gian, lần nào cũng thực sự quan trọng khi đưa đời sống chính trị Việt Nam trở lại chu trình liên tục, không gián đoạn. Đây là những yếu tố giữ cân bằng đời sống chính trị Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam trước Đại hội Đảng: Yếu tố Trung Quốc và lá bài Hoa Kỳ Điều thú vị là trong nhiệm kỳ này có hai ngày trọng đại, đánh dấu khởi đầu và gần như kết thúc nhiệm kỳ. Những ngày kỷ niệm luôn rất quan trọng để hiểu được vị trí trung tâm của một chế độ và các nhà lãnh đạo. Việt Nam của nhiệm kỳ thứ XIV sẽ bắt đầu bằng sự kiện kỷ niệm có ý nghĩa nền tảng đối với ông Tô Lâm, cũng như với toàn bộ giới lãnh đạo chính trị đất nước : Đó là kỷ niệm 40 năm Đổi Mới. Khẳng định nền tảng và định hướng kinh tế của đất nước thông qua một lễ kỷ niệm đánh dấu thời kỳ mở cửa kinh tế là một biểu tượng không thể quan trọng hơn đối với một đất nước đang đặt việc theo đuổi phát triển và tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm trong mọi tham vọng và dự án của mình. Lễ kỷ niệm thứ hai, rất quan trọng, đánh dấu cho nhiệm kỳ này, đó là việc tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng 1930-2030. Và đây cũng là trách nhiệm của ban lãnh đạo sẽ được bầu chọn vào cuối tuần. Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đề cập tới hai trụ cột, hai nền tảng cơ bản của hệ thống Việt Nam hiện nay. Đó là sự tiếp nối của chính sách kinh tế đầy tham vọng về tăng trưởng và mở cửa. Ở điểm này, tôi tin là sẽ không có bất kỳ sự thay đổi hay điều chỉnh nào. Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc này phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Và Đảng lại tìm thấy ở đó cơ sở cho tính hợp pháp và duy trì thế độc quyền của mình. Việc một nước Việt Nam có mức tăng trưởng 8% hàng năm củng cố đáng kể vị thế của Đảng trong xã hội Việt Nam và trên trường quốc tế. Đọc thêmMột mình tiếp tổng thống Mỹ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam Về trụ cột thứ hai, đội ngũ lãnh đạo mới, được lựa chọn vào cuối kỳ Đại hội, sẽ nhắc lại hơn bao giờ hết rằng vai trò của người tổ chức, của người lãnh đạo tối cao của đảng Cộng Sản Việt Nam, sẽ tuyệt đối không được thay đổi và phải bằng mọi giá củng cố chiến lược thực dụng, thực tế về kinh tế của đất nước. RFI : Chúng ta đã nhắc đến những thách thức, những tham vọng về kinh tế, và trong bối cảnh những thay đổi toàn cầu, các nhà tân lãnh đạo của đất nước, đặc biệt là tổng bí thư cần phải có những kỹ năng, phẩm chất nào và phải đáp ứng những điều kiện gì để có thể thành công ? Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này khá phức tạp, không thể tóm gọn trong vài điểm. Phẩm chất quan trọng nhất của một tổng bí thư đảng là từng giữ chức tổng bí thư và sở hữu kiến thức cũng như mạng lưới quan hệ cần thiết để duy trì vị trí, và từ vị trí đó có thể bảo đảm sự liên tục của chính sách quốc gia. Vào đúng ngày khai mạc Đại hội Đảng XIV và chỉ bốn đến năm ngày trước khi diễn ra các phiên thảo luận cuối cùng, thì cũng không phải là không thể đưa ra một số giả định. Các nhà phân tích đã bàn luận về vấn đề này trong vài tuần qua. Rất có thể tổng bí thư đương nhiệm muốn tiếp tục tại vị. Và tin đồn còn đi xa hơn khi cho rằng ông Tô Lâm dường như muốn mở rộng vai trò và phạm vi chức năng bằng cách kiêm nhiệm thêm chức chủ tịch nước. Đây là điều không có gì đặc biệt ở Việt Nam, đã từng xảy ra và không phải là hiếm gặp ở các quốc gia khác có hệ thống chính trị tương tự. Ví dụ Trung Quốc và vai trò của Tập Cận Bình trong việc hoạch định cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại. Đọc thêmViệt Nam : “Quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư đảng Cộng Sản Một điều thú vị khác cần lưu ý, cho dù không muốn đi trước thời gian biểu của đại hội cũng như thời điểm công bố các quyết định vào cuối tuần này, là trên thực tế, 18 tháng đầu cầm quyền của ông Tô Lâm cho thấy tổng bí thư đương nhiệm đã can thiệp rất tích cực và quyết liệt vào cả chính sách đối nội, lẫn đối ngoại. Do đó, có thể nói rằng phạm vi hoạt động của hai lĩnh vực này đã được cùng một cá nhân khai thác triệt để. Vì vậy, xin nhắc lại là không phải là không thể dự đoán được quyết định được đưa ra vào cuối tuần này. RFI : Nếu hai vị trí cao nhất được sáp nhập, việc này sẽ tác động như thế nào đối với bên quân đội trong “ngũ trụ”, sắp tới có thể là “tứ trụ” ? Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là việc phân chia sẽ như thế nào. Nói một cách khái quát, ông Tô Lâm sẽ để lại chút ít gì cho quân đội nếu họ không muốn làm mất mặt quân đội. Nhưng tôi nghĩ quân đội sẽ mất khá nhiều ; họ đã mất khá nhiều nếu việc sáp nhập này diễn ra. Nhưng trong nội bộ Bộ Chính Trị, chuyện sẽ diễn ra như thế nào đối với bên quân đội ? Đây là việc rất quan trọng. Việc sáp nhập hai vị trí tổng bí thư và chủ tịch nước là một vấn đề rất phức tạp nhìn từ góc độ Hiến Pháp. Chủ tịch nước Việt Nam là người đứng đầu lực lượng vũ trang và, theo một cách nào đó, cũng là người đứng đầu Ủy ban Quốc phòng và An ninh. Vì vậy, từ góc độ đó, việc không còn trao chức chủ tịch nước cho một sĩ quan quân đội, mà lại tự cho mình nắm giữ chức vụ đó, đã đặt ra nhiều vấn đề gây khó khăn cho bộ trưởng Quốc Phòng đương nhiệm trong việc đàm phán. Xin nhắc lại là năm 2025, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được khai mạc vào đúng ngày mang tính biểu tượng, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12. Đọc thêmHà Nội căng thẳng trước thềm đại hội đảng : Quân đội có cản bước cải cách của ông Tô Lâm? Vấn đề thực sự quan trọng trong đại hội lần này là nếu ông Tô Lâm quyết định giữ cả hai vị trí này thì ông cũng tránh gây tổn hại không đáng có cho Quân đội Việt Nam và các đại diện của Quân đội, trong trường hợp hiện nay là bộ trưởng bộ Quốc Phòng. Hiện tại vẫn còn hơi sớm để thảo luận về quyết định này vì chúng ta chưa biết kết quả, mà phải chờ tới cuối Đại hội Đảng XIV. Nhưng giả sử có sự phân bổ quyền lực này và nhìn từ quan điểm cá nhân, ông Tô Lâm với tư cách là tổng bí thư, người có thể nắm giữ cả hai vị trí, và ông Tô Lâm với tư cách là tướng Công an với bộ Công An cùng với mạng lưới đằng sau, chuyện này sẽ diễn ra như thế nào trong mối quan hệ với Quân đội và bộ Quốc Phòng, một trụ cột khác của bộ máy an ninh và quyền lực Việt Nam ? Sự cân bằng giữa hai chủ thể an ninh vô cùng lớn này, mà chúng ta không nên quên hiện đã trở thành các chủ thể chính trị và kinh tế, là cốt lõi của tương lai chế độ chính trị Việt Nam. RFI : Cuộc cải cách hành chính năm 2025 cũng có những tác động nhất định đến vai trò của tổng bí thư ? Benoît de Tréglodé : Tổng bí thư Tô Lâm - người biết rằng ông thực sự không có đối thủ nào trong bộ máy thể chế Việt Nam và cũng biết rằng sự nổi tiếng của ông có thể biến động theo thời gian và bằng cách cố nắm bắt, thực hiện một bước đi quan trọng để tận dụng lợi thế của việc sáp nhập tiềm năng và quyền lực gần như tùy ý trong bộ máy Nhà nước Việt Nam - sẽ cần các công cụ hiến pháp giúp ông tiến lên, cho phép ông thi hành các quyết định của mình. Trong một chế độ mà Việt Nam gọi là "nền dân chủ nhân dân", các quyết định không phải do một người đưa ra mà phải được một bộ máy phê chuẩn, trong trường hợp này là Quốc Hội và các cơ quan khác. Do đó, tự do của ông Tô Lâm cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong bộ Chính Trị, và đa số này cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong Ban Chấp hành Trung ương. Vì vậy nếu ông Tô Lâm thực sự theo đuổi hoạt động chính trị ở Việt Nam, ông cần có một Ban Chấp hành Trung ương ủng hộ ông, một Bộ Chính Trị ủng hộ ông và một Quốc Hội thông qua các quyết định của ông. Trong mọi trường hợp đó, cải cách hành chính đều có tác động, đều có những hệ quả đối với cơ cấu của các cơ quan ra quyết định quan trọng ở Việt Nam. Cho nên có thể hiểu rằng việc thực hiện cải cách hành chính năm 2025 cũng liên quan trực tiếp đến mong muốn của người khởi xướng là có được những cơ quan nắm giữ quyền lực chính trị quan trọng ở Việt Nam đứng sau ông và xác nhận các hành động của ông. Đọc thêmQuyền lực cá nhân tổng bí thư thông qua quá trình tinh giản bộ máy hành chính ở Việt Nam RFI : Sau Đại hội, công cuộc chiến chống tham nhũng sẽ được tiếp tục thực hiện ? Và liệu có quyết liệt như đang làm hiện nay không ? Benoît de Tréglodé : Cần phải nhắc lại rằng tham nhũng là một vấn đề còn lâu mới giải quyết được và không phụ thuộc vào chu kỳ 5 năm của các Đại hội Đảng. Tham nhũng gắn liền mật thiết với khái niệm phát triển kinh tế. Và tham nhũng cũng gắn liền mật thiết với cách hoạt động và tài trợ của bộ máy hành chính. Sự phát triển kinh tế ở hầu hết các nước châu Á đều bao gồm, hoặc đi kèm với sự gia tăng các hành vi tham nhũng khá phổ biến. Vì vậy, không nên cố gắng đưa việc chấm dứt, kết thúc hoặc tiếp tục các chiến dịch chống tham nhũng vào chương trình
Nhu cầu tiêu thụ điện của ngành công nghiệp Việt Nam, nơi đặt cơ sở sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung và Apple, thường xuyên vượt quá nguồn cung, vốn bị ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên, như hạn hán và mưa bão. Trước tình hình này, Việt Nam muốn tăng sản lượng điện từ nhiều nguồn, chủ yếu là năng lượng tái tạo và khí đốt, nhưng các dự án đã bị chậm trễ và gặp trắc trở do các vấn đề quy định và giá cả, cho nên nay rất trông chờ vào điện hạt nhân. Sau khi quyết định khởi động lại chương trình năng lượng hạt nhân vào năm ngoái, Việt Nam đã giao cho Nga thực hiện dự án Ninh Thuận 1 và Nhật Bản thực hiện dự án Ninh Thuận 2. Vào đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Việt Nam vừa phê duyệt danh mục các công trình và dự án được xếp vào nhóm quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành năng lượng, trong đó có dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2 tại Khánh Hòa. Theo lộ trình của chính phủ, 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 tại Khánh Hòa, công suất 2.000-3.200MW, dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 2030-2035. Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, Nhật Bản, một trong hai đối tác mà Việt Nam đã chọn, lại thông báo rút khỏi dự án hạt nhân. Hôm 08/12/2025, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Naoki Ito nói với hãng tin Anh Reuters rằng Nhật Bản đã rút khỏi kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô lớn tại Việt Nam “vì thời gian quá gấp rút”. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 16/12/2025, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, giải thích: "Thông tin mà đại sứ Nhật ở Việt Nam nêu ra tóm tắt là như thế này: Đấy là những công trình rất là lớn và tiêu chuẩn an toàn của nó thì càng ngày càng cao, mà Việt Nam đặt thời hạn quá gấp, tức là muốn năm 2035 phải xong. Ông ấy cho là không khả thi. Tôi thấy cũng đúng thôi: Đấy là loại lò thế hệ III+, tức là có trang bị các thiết bị chống lại mất an toàn bằng phương pháp thụ động. Trong thời gian gần đây, các lò có công suất tương đương như thế được xây ở Mỹ , ở Phần Lan, ở Trung Quốc, đặc biệt ở Bangladesh, do Nga giúp xây dựng. Công trình rất lớn và rất phức tạp, đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn cao, nhưng Việt Nam lại yêu cầu là năm 2035 phải xong, thậm chí Việt Nam còn có một yêu cầu khác, tức là trong quá trình xây dựng lò như thế thì phải có chuyển giao công nghệ. Những điều đó là Nhật không thể thực hiện được. Nhật còn nói thêm là bây giờ, sau vụ Fukushima, hiện nay là ở Nhật cũng có những đòi hỏi về xây các lò phản ứng mới. Do đó họ không đủ khả năng để làm theo yêu cầu của Việt Nam. Căn cứ trên kết quả xây các lò loại thế hệ III + ở các nước thì đều hoặc là trễ tiến độ, hoặc là đội giá thành lên gấp một vài lần. Ở Bangladesh chẳng hạn, công trình do Nga trực tiếp làm đáng lý ra phải được đưa vào vận hành năm 2023, nhưng đã trễ sang năm 2024, rồi lùi sang năm 2025 và bây giờ phải đến tháng 12/26 may ra mới có thể vận hành được. Như thế rõ ràng việc xây dựng các lò lớn như thế hiện nay là một vấn đề rất khó khăn." Quyết định của Tokyo có thể làm phức tạp thêm chiến lược dài hạn của Việt Nam phát triển điện hạt nhân nhằm tránh tình trạng thiếu điện. Nói cách khác, Việt Nam khó mà đạt mục tiêu về thời hạn đặt ra cho 2 dự án nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2: "Bây giờ Nhật Bản từ chối, như thế là Việt Nam cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu lớn của Việt Nam: phải có điện là một, điện sạch là hai và ngoài ra đến năm 2050 phải đạt trung hòa carbon. Những mục tiêu đó là rất là khó đạt. Nhưng đại sứ Nhật cũng có nói Nhật mở ra một khả năng, tức là sẽ tham gia phát triển các công nghệ lò gọi là lò module, có thể lắp ghép được, gọi là SMR, công suất khoảng vài trăm megawatt. Nhật Bản sẽ hợp tác với Việt Nam trong các dự án đó." Sau khi Nhật Bản rút khỏi dự án Ninh Thuận 2, phía Nga đã trấn an là họ sẽ không bỏ rơi Việt Nam. Theo báo chí trong nước, trong cuộc điện đàm ngày 11/12 với thủ tướng Phạm Minh Chính, tổng giám đốc Tập đoàn Rosatom của Nga đã cam kết hợp tác với Việt Nam "xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 theo công nghệ hiện đại nhất." Tuy nhiên, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, cũng không chắc là Nga có thể làm theo đúng tiến độ như mục tiêu mà Việt Nam đề ra "Nga thì quyết tâm làm, khác với Nhật Bản. Họ còn có một chương trình hợp tác với Việt Nam rộng rãi hơn, bao gồm việc xây dựng trung tâm phát triển hạt nhân với lò phản ứng 10 MW và một số chuyện nữa liên quan đến nhiên liệu của trung tâm Đà Lạt. Đó là một dự án có thể nói là tổng hợp nhiều thứ và do đó việc họ phải làm dự án Ninh Thuận 1 là điều chắc chắn. Thế còn họ làm được đến mức nào thì như tôi nói khi nãy, căn cứ theo cái mà họ làm với Bangladesh thì thấy là trễ tiến độ khoảng hơn 7 năm. Cho nên nếu mà Việt Nam có làm, thì phải có những cọc mốc. Những cái cọc mốc đó rất là quan trọng, ví dụ như phải ký kết giữa hai bên, cam kết là nước Nga sẽ xây nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và cung cấp đủ tài chính để làm dự án. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy cọc mốc đó. Sau khi hai bên chính thức ký kết, có tiền bạc đủ rồi, tôi nghĩ ít nhất phải hơn 10 năm thì mới có thể hoàn thành được. Cho nên khả năng hoàn tất dự án vào năm 2035 đối với Nga cũng là không dễ. Tuy Nga chưa nói cụ thể hạn định nào,ví dụ như là bao giờ đổ mẻ bê tông đầu tiên để mà xây nhà lò , sau đó ít nhất là 7 năm, 8 năm thì mới hoàn thành. Bây giờ cho đến lúc đổ bê tông đầu tiên chưa thấy con đường đi như thế nào cả. Các nhà lãnh đạo Việt Nam có những kế hoạch, có những mục tiêu muốn đặt ra. Đối với một số công trình cổ điển thì có thể đặt kế hoạch năm này năm khác được, còn loại công trình này Việt Nam chưa hề có những trải nghiệm nào cả. Với kinh nghiệm trong những năm gần đây về xây các lò công suất lớn ở nhiều nước, kể cả những nước tư bản hiện đại, tôi cho rằng con đường đó sẽ không tồn tại lâu được. Những lò công suất trung bình, công suất bé có thể là giải pháp tổng thể cho bài toán điện hạt nhân của nhiều nước. Và nó cũng thích hợp với Việt Nam trong nhiều mặt, tức là về vấn đề chọn địa điểm, vấn đề vốn, vân vân... Có điều hiện nay chưa có nước nào đưa ra một lò thương mại hóa cho toàn thế giới cả. Mọi người đều có ý kiến là có thể loại lò đó sẽ chỉ được thương mại hóa sau năm 2030. Tôi nghĩ cũng có lý." Với sự chậm trễ trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu điện trầm trọng và phải gấp rút tìm những nguồn năng lượng bổ sung, theo giáo sư Phạm Duy Hiển: "Tôi nghĩ là điều đó cần phải đem ra bàn bạc và đó là một nguy cơ có thể có. Hai nhà máy điện Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đóng góp công suất rất lớn, mà bây giờ một nhà máy dứt khoát là không có rồi, cho nên là Việt Nam trong tương lai cho đến những năm 2040 là sẽ thiếu điện. Bây giờ trở lại dùng than thì khó .May ra hiện nay có một triển vọng là phát triển một số mỏ khí. Có những thông tin như vậy và cũng khá chắc chắn, thậm chí người ta cũng đã nói đến đường dẫn ống khí về đất liền. Tôi hy vọng đó là một nguồn có thể thay thế, nhưng cũng phải chờ những thông báo chính thức. Nếu không có những nguồn khí như vậy thì rõ ràng là Việt Nam phải đặt vấn đề lấy đâu ra nguồn để thay thế ít nhất là một nhà máy của Nhật sẽ không đưa vào hoạt động." Theo nguồn tin mà giáo sư Phạm Duy Hiển có được, Hàn Quốc đã chính thức nhận xây nhà máy điện hạt nhân thứ hai, thay chỗ của Nhật Bản và hiện "đang vào cuộc nhanh chóng". Tuy nhiên, hiện thông tin này chưa được chính thức xác nhận. Trong cuộc họp ngày 07/01 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã bày tỏ quan ngại về sự chậm trễ trong dự án nhà máy hạt nhân, "tiến độ công việc chưa được như mong muốn, có nhiều vướng mắc phải tháo gỡ ngay như công tác đàm phán hiệp định hợp tác còn chậm, phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài; bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng…" Ông Phạm Minh Chính giao cho bộ Công Thương và bộ Ngoại Giao trong tháng 1/2026phải kết thúc đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Đồng thời thủ tướng Việt Nam thúc giục tập đoàn Petrovietnam, bộ Công Thương, Bộ Ngoại Giao đề xuất lựa chọn thay thế Nhật Bản một đối tác mới "có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp với tình hình mới" để hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Nhưng có vẻ như Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phát triển các lò phản ứng hạt nhân kiểu module. Theo Nghị quyết phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, được Quốc Hội Việt Nam thông qua, có hiệu lực từ ngày 1.3.2026, chính phủ được giao ban hành cơ chế đầu tư phát triển điện hạt nhân (ĐHN) module nhỏ (SMR) "theo từng thời kỳ, căn cứ nhu cầu và tình hình thương mại hóa công nghệ và đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân".
Tháng 10/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Kuala Lumpur, Malaysia, họp thượng đỉnh với các nước ASEAN nhằm trấn an đồng minh, đối tác. Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận, cam kết liên quan đến an ninh với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Cam Bốt. Liệu Đông Nam Á lại trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Mỹ năm 2026 ? Tại sao Washington lại tái khẳng định hiện diện mạnh mẽ hơn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông, trong thời điểm này ? Liệu những cam kết như vậy có lợi cho Việt Nam không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, tại Viện Đông Á (Institut d’Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việc Hoa Kỳ trở lại hội nghị thượng đỉnh châu Á gửi đi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ. Washington thực sự đang tìm kiếm điều gì thông qua việc tái khẳng định sự hiện diện của họ ở Đông Nam Á này ? Laurent Gédéon : Đúng là Pete Hegseth đã đến Kuala Lumpur ngày 30/10/2025 để tham dự cuộc họp của các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng. Có thể thấy rõ Mỹ muốn tận dụng cơ hội này để tái khởi động mối quan hệ với ba kiểu quốc gia : Trung Quốc ; các nước trong khu vực có quan hệ tốt nhưng không mang tính chiến lược ; các nước có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng. Ông Hegseth đã gặp bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Đổng Quân để thảo luận về việc nối lại các cuộc trao đổi quân sự trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng cũng chia sẻ những lo ngại của Mỹ về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan. Thông qua cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc, bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ muốn tái khẳng định cam kết của Washington về hai vấn đề này. Rất có thể là việc tỏ thái độ kiên quyết đó chủ yếu nhằm mục đích trấn an các bên khác tham dự hội cấp cao về quyết tâm của Washington. Ngoài ra, ông Hegseth cũng đã tận dụng cơ hội đó để ký nhiều thỏa thuận quân sự với ba quốc gia trong khu vực. Trước tiên là với Philippines, ông Hegseth gặp bộ trưởng Quốc Phòng Philippines và tuyên bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines (Task Force-Philippines). Đây là một sáng kiến chung nhằm cải thiện sự hợp tác và khả năng tương tác giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp khẩn cấp ở Biển Đông và các khu vực khác. Đọc thêmMỹ và Malaysia củng cố hợp tác quốc phòng ở Biển Đông để đối phó với "chiến thuật vùng xám" Với Malaysia, ông Hegseth đã họp với bộ trưởng Quốc Phòng Mohamed Khaled Nordin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, công bố gia hạn thỏa thuận chung về mua sắm thiết bị quân sự và hỗ trợ nhau. Và cuối cùng, với Cam Bốt, ông và người đồng cấp Cam Bốt đã tuyên bố nối lại cuộc tập trận chung thường niên, vốn bị đình chỉ từ năm 2017. Hai bên cũng đề cập đến khả năng một tàu chiến của Mỹ đến thăm Căn cứ Hải quân Ream ở Cam Bốt. Căn cứ này được Trung Quốc hỗ trợ hiện đại hóa và lực lượng Trung Quốc được hưởng quyền tiếp cận đặc biệt. Tất cả những yếu tố này, bao gồm cả cuộc gặp với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, đều thể hiện rõ mong muốn tái đầu tư của Mỹ vào khu vực và, thông qua các thỏa thuận này, mong muốn tích hợp một số nước trong khu vực vào một cấu trúc an ninh trong tương lai mà phần nào có thể nhắm đến Trung Quốc. RFI : “Nước Mỹ trên hết không có nghĩa là Nước Mỹ đơn độc”. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện qua quan hệ đối tác an ninh giữa Mỹ với Malaysia và với Philippines, như ông đã giải thích. Liệu sự trở lại ấn tượng như vậy có thuyết phục được các nước ASEAN và có lợi cho họ không, khi mà những nước này không hề nhắc đích danh Bắc Kinh trong những lời chỉ trích về hành động gây bất ổn của Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Đúng vậy, không gian hàng hải đã được nhấn mạnh thành trọng tâm bởi vì trong tuyên bố ngày 01/11/2025, ông Hegseth nói : Chúng tôi đang thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”. Nhưng “Nước Mỹ trên hết” không có nghĩa là chỉ riêng nước Mỹ. Nó có nghĩa là cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, những bên có khả năng duy trì an ninh, ổn định, tự do hàng hải và cuối cùng là hòa bình. Mặc dù các nước ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh đã được bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ nhắc đến rất nhiều. Ví dụ, trong cuộc họp không chính thức, ông Hegseth đã cảnh báo các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN về mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho chủ quyền của nước họ. Ông nói : Hành động của Trung Quốc là một lời cảnh tỉnh... Các hành động khiêu khích của Trung Quốc cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với đất nước của quý vị, thách thức và đe dọa chủ quyền lãnh thổ của đất nước quý vị. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương an toàn và ổn định. Ông cũng cổ vũ sự hợp tác giữa Mỹ và ASEAN để phát triển nhận thức tình hình hàng hải chung, đặc biệt là ở Biển Đông. Đây là điểm quan trọng. Thêm vào đó, ngày 09/09, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói với người đồng cấp Trung Quốc Đổng Quân rằng Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà Washington coi là một khu vực hoạt động ưu tiên, và Mỹ sẽ kiên quyết bảo vệ những lợi ích đó. Tuy nhiên, có thể nhận thấy cho dù Mỹ thể hiện quyết đoán, có lập trường vững chắc như vậy, các quốc gia trong khu vực vẫn còn khá lưỡng lự về mức độ cam kết của Washington đối với các vấn đề như Biển Đông và Đài Loan. Thái độ lưỡng lự này được thôi thúc bởi điều được gọi là “sự mơ hồ chiến lược” của Mỹ, khi Washington không nêu rõ là sẽ tham gia hay không, hoặc là họ sẽ tham gia như thế nào vào một cuộc xung đột công khai với Trung Quốc. RFI : Sự trở lại của Mỹ, hay nói đúng hơn là sự tăng cường cam kết của Mỹ đối với khu vực có thể sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho Việt Nam ? Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự tái đầu tư nào của Mỹ vào khu vực, nếu không dẫn đến xung đột trực tiếp với Trung Quốc, đều chỉ có lợi cho Việt Nam, vì nó củng cố cán cân chiến lược khu vực và giảm bớt quan hệ bất đối xứng với Trung Quốc, ngay cả khi không có thỏa thuận quân sự chính thức giữa Hà Nội và Washington. Đọc thêmBiển Đông, Trung Quốc : Việt Nam cần đề phòng khả năng Trump "rũ áo" như với Ukraina? Do đó, chắc chắn rằng lập trường kiên quyết của ông Hegseth, đặc biệt là về Biển Đông, chỉ có thể được Hà Nội hoan nghênh vì nó phù hợp với các tuyên bố và yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn đọng một sự bất trắc chiến lược, đặc biệt là về ý muốn thực sự của Mỹ trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc bằng vũ lực nếu tình hình đòi hỏi. Điểm bất trắc thứ hai liên quan đến kết quả của một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các kịch bản được thảo ra cho kết quả khác nhau, và không phải tất cả đều cho rằng lực lượng Mỹ thắng quân đội Trung Quốc. Do đó, tôi tin rằng những điểm không chắc chắn này sẽ khiến Việt Nam tiếp tục thận trọng trong lập trường ngoại giao, ưu tiên giữ trung lập giữa Washington và Bắc Kinh để bảo vệ tương lai của mình. RFI : Thỏa thuận được gọi là “Thỏa thuận hòa bình” giữa Thái Lan và Cam Bốt được ký kết dưới sự bảo trợ của tổng thống Mỹ Donald Trump. Sự kiện này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng liệu kiểu ảnh hưởng đó, dưới sự đe dọa về hậu quả kinh tế, có bền vững hay không ? Laurent Gédéon : Chính sách của chính quyền Trump nhìn chung được coi là tương đối khó đoán, điều này làm suy yếu niềm tin vào tính ổn định chiến lược của Hoa Kỳ. Về thỏa thuận do Donald Trump, thủ tướng Thái Lan và thủ tướng Cam Bốt cùng ký, mặc dù được mô tả là một “thỏa thuận hòa bình”, nhưng nó giống với một thỏa thuận ngừng bắn hơn, bởi vì không giải quyết được vấn đề cốt lõi, liên quan đến tranh chấp biên giới giữa hai nước. Đọc thêmChính sách thuế của Trump cản trở chiến lược « xoay trục sang châu Á » của Mỹ Đúng là Donald Trump tự nhận là đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, nhất là bằng cách đe dọa đình chỉ các cuộc đàm phán thương mại với cả hai nước và tăng thuế quan. Điều này diễn ra trong bối cảnh Cam Bốt lúc đó chịu mức thuế 49% và Thái Lan 36%. Rõ ràng là áp lực của Mỹ đã thúc đẩy cả hai bên tạm ngừng giao tranh nhưng không chấm dứt được xung đột. Hơn nữa, hai quốc gia khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tạm thời tranh chấp : Malaysia, quốc gia giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2025, và Trung Quốc. Cả Kuala Lumpur và Bắc Kinh đều gây áp lực để ngăn chặn xung đột leo thang, bởi vì sẽ đi ngược lại lợi ích của họ. Do đó, sáng kiến của Mỹ quan trọng nhưng cần được xem xét dưới góc độ hai hạn chế sau đây : Thứ nhất, đây không phải là một giải pháp dứt điểm cho xung đột, mà chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn ; Thứ hai, điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ hành động phối hợp, dù kín đáo, của hai quốc gia khác. Và đó chính là cách mà các nước trong khu vực nhìn nhận và phân tích. RFI : Philippines giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2026. Manila có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, cùng với cam kết của Mỹ, về vấn đề Biển Đông. Chúng ta có thể kỳ vọng những diễn biến nào trong năm 2026 ? Laurent Gédéon : Đúng là rất khó để dự đoán tương lai. Nhưng những yếu tố hiện có cho thấy Philippines, quốc gia đã xích lại gần hơn đáng kể với Mỹ kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022, có thể sẽ tìm cách thúc đẩy một động thái cứng rắn hơn, hoặc thậm chí là cưỡng chế, đối với Trung Quốc. Ví dụ, Philippines có thể sẽ cố gắng khôi phục việc xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông. Dự án này có từ năm 2002 nhưng chưa bao giờ thành hiện thực, chủ yếu là do Trung Quốc thiếu hành động. Chính quyền Manila cũng có thể cố gắng đạt được sự lên án rõ ràng đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, điều mà ASEAN chưa từng làm cho đến nay. Tuy nhiên, Philippines sẽ phải tính đến việc các nước thành viên ASEAN có mức độ quan hệ khác nhau với Trung Quốc, điển hình như các nước Cam Bốt, Thái Lan và Miến Điện sẽ cố gắng làm giảm nhẹ bất kỳ sáng kiến nào của nước chủ tịch ASEAN mà họ coi là không thân thiện, hoặc quá không thân thiện với Trung Quốc. Đọc thêmPhilippines-Mỹ-Nhật diễn tập tại Biển Đông, Trung Quốc kêu gọi Manila ngừng khiêu khích Một điểm
Năm 2025 khép lại với hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ngày 22-23/12 và khả năng ông Tô Lâm tiếp tục làm tổng bí thư, theo nguồn tin của Reuters. Năm 2025 cũng đánh dấu nhiều kỷ lục về kim ngạch thương mại, số lượt du khách nước ngoài đến Việt Nam ; tăng trưởng “sáng nhất trong khu vực” Đông Nam Á, tinh gọn bộ máy hành chính. Bên cạnh đó là những thiệt hại khủng khiếp do thiên tai, ô nhiễm môi trường. RFI Tiếng Việt điểm lại một số sự kiện quan trọng tại Việt Nam năm 2025. Tổng bí thư tập trung quyền lực trong nước Tại hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, các đại biểu nhất trí ủng hộ những chính sách được tổng bí thư Tô Lâm thúc đẩy. Ông Tô Lâm trở thành người thi hành được nhanh chóng “cuộc cách mạng chống quan liêu” được ấp ủ từ lâu. Thành công này cũng cho thấy quyền lực cá nhân của ông Tô Lâm và những chiến lược tập trung quyền lực đằng sau, theo nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 04/07/2025 : “(…) Nếu một cuộc cải cách đầy tham vọng như vậy được thực hiện bởi một người duy nhất thì đó là do ông ấy không cảm thấy bị bất kỳ ai đe dọa và điều này nằm trong quyền lực to lớn của ông trong bộ máy chính trị Việt Nam. Vào đúng năm trước Đại hội Đảng, với cuộc tinh giản bộ máy hành chính ở cấp địa phương, nhưng cũng có thể nói là ở cấp trung ương, ở cấp bộ, không ai chắc chắn là giữ được vị trí của mình, kể cả trong Ban Chấp hành Trung ương. Số người may mắn được chọn sẽ ít hơn vào năm 2026. Có thể nói chiến dịch kiểm soát khổng lồ này thậm chí còn hiệu quả hơn các chiến dịch chống tham nhũng thông thường. Bởi vì chúng khiến mọi người run sợ, ai cũng muốn giữ lấy chỗ và có thể theo đuổi sự nghiệp trong một bộ máy hành chính bị thu hẹp lại”. Đọc thêmSáp nhập tỉnh, thành 2025 : Chiến lược tập quyền và thành công cá nhân của TBT Tô Lâm Mở rộng vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế Trong hơn một năm giữ chức tổng bí thư, ông Tô Lâm có lẽ là lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất, thăm hơn 20 nước, ký nhiều thỏa thuận nâng cấp quan hệ đối tác. Tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất. Và ông Tô Lâm đang làm cho các đối tác phương Tây quen dần với hình ảnh này, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston, Mỹ : “Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao. Đây cũng là một di sản của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông đã thành công bắt Mỹ phải công nhận tổng bí thư là ngang hàng với chức tổng thống Mỹ. Điều này chứng tỏ đây là một chính sách đường dài chứ không phải ngắn hạn cho kỳ Đại hội Đảng sắp tới, và dù ai ở vị trí tổng bí thư đi chăng nữa thì cũng sẽ được kế thừa di sản này”. Đọc thêmNâng cấp đối tác chiến lược toàn diện với Pháp, chủ tịch Tô Lâm muốn thể hiện năng lực ngoại giao, ổn định chính trị Việt Nam Mối quan hệ đặc biệt với Pháp được thể hiện qua chuyến công du Hà Nội của tổng thống Emmanuel Macron. Với 14 thỏa thuận trị giá 9 tỷ euro, Pháp muốn hiện diện mạnh mẽ tại Việt Nam, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng. Giáo sư Pierre Journoud, Đại học Paul Valery - Montpellier 3, đánh giá : “Có thể nói ngắn gọn rằng bối cảnh hiện nay thuận lợi cho việc Việt Nam và Pháp xích lại gần hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Pháp là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai thế giới vào năm 2024, cho nên có một số tham vọng chính đáng ở khu vực Đông Nam Á. Còn Việt Nam đã tổ chức triển lãm quốc phòng quốc tế lần thứ hai tại Hà Nội vào tháng 12/2024. Việt Nam bắt đầu đa dạng hóa việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự để bù đắp cho những thiếu hụt thực sự, hoặc được cho là như vậy, của nhà cung cấp Nga, vốn chiếm ưu thế ở Việt Nam”. Kim ngạch thương mại lập kỷ lục, bất chấp thuế đối ứng của Mỹ Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam lập kỷ lục, đạt 920 tỷ đô la, tăng 16,9% so với năm 2024, theo Tổng Cục Hải quan. Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỷ đô la. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt mốc kỷ lục gần 152 tỷ đô la, bất chấp các biện pháp thuế đối ứng (20%) của tổng thống Donald Trump. Tuy vậy, trả lời RFI Tiếng Việt, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng mức thuế 20% vẫn bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, so với một số nước khác được mức thuế 19% hoặc 15% : “Theo tôi, những mặt hàng bị tác động bao gồm may mặc, da giày, kể cả một số mặt hàng đồ gỗ. Nếu như tình hình tiếp tục như thế này, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ phải tìm cách đa dạng hóa các thị trường và tìm các biện pháp để có thể tiếp tục duy trì sản xuất và xuất khẩu và tìm cách né tránh thuế 20% này. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng tìm cách mở rộng thị trường ở Trung Đông và tìm kiếm những thị trường ở châu Phi, đồng thời muốn phát triển những thị trường khác tuy nhỏ nhưng hy vọng là sẽ vẫn có thể đón nhận được hàng hóa của Việt Nam một cách thuận lợi”. Đọc thêmViệt Nam: Thuế "trung chuyển" của Mỹ gây khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Thặng dự thương mại (đạt 21,2 tỷ đô la) chủ yếu đến từ khối đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với 48,2 tỷ đô la bởi vì các doanh nghiệp trong nước thâm hụt thương mại hơn 27 tỷ đô la. Mức thuế 20% có thể khả thi cho hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thuế “trung chuyển” (transshipment) lên tới 40% mới là vấn đề khó khăn. Ông Jean-Jacques Bouflet, phó chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam - EuroCham, giải thích với RFI Tiếng Việt ngày 08/08 : “Theo thuật ngữ hải quan Hoa Kỳ, “trung chuyển” không chỉ đơn giản là dỡ hàng từ một phương tiện vận chuyển hay từ một hình thức vận chuyển này sang một phương tiện hoặc hình thức vận chuyển khác, mà chủ yếu là sự thay đổi nguồn gốc ở nước cuối cùng. Nói cách khác, nếu quyết định đánh thuế hàng “trung chuyển” được sử dụng để áp đặt một hàm lượng nội địa tối thiểu đáng kể, thì có nghĩa là để ngăn chặn nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thứ ba, ý tôi muốn nói ở đây là Trung Quốc chẳng hạn. Đây có lẽ sẽ là một vấn đề lớn đối với phần lớn lĩnh vực sản xuất của Việt Nam (…) bởi vì hiện tại, Việt Nam không thể bảo đảm sản xuất được 100% hoặc 80% sản lượng nội địa, có thể là trừ sản xuất nông nghiệp”. Mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 khó đạt được vì khó khăn toàn cầu Với tổng kim ngạch thương mại năm 2025 đạt 920 tỷ đô la, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới. Sau mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng 8%, chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026. Ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á, tổng biên tập báo mạng Asialyst, cho rằng “mục tiêu này lại quá lạc quan, rất tham vọng” : “Trước tiên là mức thuế quan trung bình 20% của Mỹ mà ai cũng biết, nhưng cũng phải kể đến nhiều mức thuế đặc biệt khác đối với ô tô, thép, nhôm. Gần đây, còn có một vấn đề khác đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thông báo ngừng xuất khẩu một số mặt hàng vào năm 2026. Ngoài ra, bối cảnh chung ở một số nước khác cũng không đặc biệt hơn. Nghĩa là nhu cầu của Trung Quốc không mạnh lắm, châu Âu thì đang cố gắng hạn chế dòng hàng nhập khẩu từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Vì vậy, bối cảnh quốc tế sẽ kém thuận lợi hơn. Tất cả các tổ chức quốc tế đều dự đoán năm 2026 sẽ có mức tăng trưởng kém hơn một chút so với năm 2025”. Đọc thêm2026 : Bối cảnh quốc tế không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam Mục tiêu tăng trưởng cũng có thể bị tác động vì thiệt hại do thiên tai, ô nhiễm môi trường. Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, năm 2025 đã đi vào lịch sử thiên tai Việt Nam với những kỷ lục chưa từng có ; thiệt hại kinh tế lên tới hơn 100.000 tỷ đồng (gần 4 tỷ đô la) - lớn nhất từ trước tới nay. Theo Kế hoạch Ứng phó thiên tai chung năm 2025, được Liên Hiệp Quốc xây dựng trên cơ sở hợp tác giữa chính phủ Việt Nam và các đối tác trong nước, quốc tế, khoảng 96,2 triệu đô la được huy động để đáp ứng nhu cầu nhân đạo, hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng, đồng thời xây dựng lộ trình hướng tới khả năng phục hồi và thích ứng với biến đổi khí hậu trong dài hạn. Giải quyết ô nhiễm môi trường : Vấn đề cấp bách Một vấn đề khác là tình trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam, khiến khoảng 70.000 người chết. Để giảm bớt “thành tích” nhiều lần đứng đầu danh sách “đô thị ô nhiễm nhất thế giới”, thành phố Hà Nội triển khai lộ trình cấm xe chạy xăng dầu, bắt đầu trong vành đai 1 (trung tâm) Hà Nội, kể từ ngày 01/07/2026. Song song với biện pháp triệt để này, nhà quy hoạch đô thị Basile Hassan, trưởng dự án Moov’Hanoi, Cơ quan hỗ trợ Hợp tác quốc tế Vùng Paris tại Việt Nam - PRX-Vietnam, cho rằng cần phát triển, nâng cấp hệ thống giao thông công cộng để người dân có nhiều lựa chọn : “Mạng lưới giao thông công cộng hiện tại không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Hà Nội có tàu điện nhưng lại không đủ, thậm chí còn không đi đến trung tâm thành phố. Trong bối cảnh người dân chủ yếu sử dụng xe máy, rất cạnh tranh về mặt thời gian, đi từ điểm A đến điểm B mà không phải thay đổi phương tiện, cho nên giao thông công cộng có vẻ kém cạnh tranh hơn vì mất thời gian hơn so với xe máy, phải nối chuyến, phải đi đến các bến. Vì vậy về mặt thời gian và hiệu quả, phương tiện công cộng kém hấp dẫn hơn xe máy, được ưa chuộng ở Hà Nội”. Đọc thêm“Xanh hóa” giao thông Hà Nội: Cần bỏ ôtô cá nhân thể hiện “thành đạt” và kết nối hệ thống công cộng Việt Nam đón gần 22 triệu lượt du khách nước ngoài Cho dù trải qua một năm thiên tai, nhiều di tích, công trình bị ngập trong mưa lũ, Việt Nam ghi nhận số lượng du khách nước ngoài kỷ lục, gần 22 triệu lượt. Mục tiêu đặt ra cho năm 2026 là thu hút 25 triệu du khách quốc tế. Ngoài việc chú trọng vào dịch vụ chăm sóc khách hàng, chi phí không quá đắt, thì kéo dài thời gian miễn thị thực đối với nhiều nước được cho là một yếu tố quan trọng, theo giải thích với RFI Tiếng Việt của ông Nguyễn Xuân Hải, giám đốc của La Palanche Voyages : “Bây giờ khi được 45 ngày,
“Đi tàu từ Nam ra Bắc giúp tôi khám phá sự đa dạng của Việt Nam. Kỷ niệm của tôi về tàu hỏa ở Việt Nam, đó là một phương tiện di chuyển thực sự chậm, nhưng không hề lãng phí thời gian vì tàu thường chạy đêm, sáng mai thức dậy là nhìn thấy cả đồng lúa xanh rì bên ngoài cửa sổ…”. Từ phương tiện giao thông chậm, rẻ hơn máy bay, tàu hỏa đang được phát triển thành cách du lịch chậm, tham quan ngay từ khung cửa sổ. Những cảm nhận trên là của Jean-Marc De Jaeger, phóng viên chuyên mục du lịch của nhật báo Pháp Le Figaro khi trả lời RFI Tiếng Việt. Ông là tác giả cuốn Đi tàu hỏa ở Châu Á: 22 Hành trình trên Đường ray (En train En Asie : 22 itinéraires sur les rails, NXB Voyage Gallimard, 2025), trong đó có Việt Nam : Tại sao có Việt Nam trong lộ trình? Đối với tôi, việc này quan trọng vì đây là một quốc gia khá rộng lớn về mặt địa lý và dân số. Và đặc biệt, tuyến tàu Thống Nhất giống như huyết mạch của đất nước, dài hơn một nghìn km, kết nối các điểm đến chính của Việt Nam, trong 36 giờ. Cho nên trong một cuốn sách hướng dẫn về du lịch bằng tàu hỏa, không thể bó quả Việt Nam. Còn theo tạp chí du lịch Lonely Planet, tuyến đường sắt Bắc-Nam nằm trong số những tuyến đường sắt đẹp nhất thế giới năm 2025. Tàu hỏa ở Việt Nam chạy rất chậm, chỉ khoảng 50 km/giờ, chỉ có một đường, khổ cũ 1,43 mét, từ thời Pháp thuộc và tránh nhau tại các ga lớn. Tàu hỏa không phải là phương tiện để đi khi có công việc gấp, nhưng là “cứu cánh” cho những người say xe, sợ máy bay. Nhưng những năm gần đây, tàu hỏa đã được phát triển thành một dòng du lịch trải nghiệm sang trọng, đề cao dịch vụ cá nhân, “sống chậm”. Đây là một trong những mảng được định hướng để phát triển du lịch nghỉ dưỡng cao cấp ở Việt Nam. “Nhâm nhi thời gian trôi, có nghĩa là khi đi máy bay, thực sự là chẳng nhìn thấy gì nhiều. Ví dụ nếu bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Hà Nội, chúng ta sẽ chỉ thấy sân bay khởi hành và sân bay đến, rồi ngắm được một chút quang cảnh ở độ cao 10.000 m, nhưng sẽ không thấy các chặng trung gian, sẽ không được hòa mình vào cuộc sống. Đi tàu có thể ngắm rõ quang cảnh vì tàu chạy khá chậm, khoảng 50 km/giờ, đặc biệt là ở phía bắc Đà Nẵng, nơi tàu chạy dọc bờ biển và quang cảnh đẹp một cách ấn tượng. Với tàu hỏa, chúng ta cũng được thoải mái ứng biến, có thể xuống ở một ga nhỏ, nơi không có sân bay, và tự do khám phá đất nước, gần gũi với thiên nhiên, với người dân hơn”. Độc đáo du lịch tàu hỏa Có khoảng 7 tuyến du lịch sang trọng đang được khai thác hoặc sắp được triển khai ở Việt Nam. Nổi tiếng nhất, có chí phí cao nhất (hơn 9.000 đô la) là tuyến SJourney xuyên Việt 8 ngày 7 đêm (Hà Nội - Ninh Binh - Quảng Bình - Huế - Đà Nẵng (Hội An) - Nha Trang - Mũi Né - TP Hồ Chí Minh). Đoàn tàu là khách sạn 5 sao di động, chỉ có 10 toa ngủ với 30 phòng ngủ và đón tối đa 60 khách, tập trung vào chăm sóc cá nhân và nghệ thuật ẩm thực. Từ phòng riêng, du khách có thể thấy phong cảnh lướt qua những ô cửa sổ lớn, từ những phố thị ồn ào, sôi động cho đến những vùng nông thôn yên bình, ruộng đồng thẳng cánh cò bay. Và mỗi sáng thực dậy lại là một địa điểm khác và bắt đầu chuyến tham quan những địa danh được xếp hạng di sản văn hóa thế giới. Không sử dụng SJourney, nhưng nhà báo Pháp Jean-Marc De Jaeger cũng dừng ở những chặng như vậy : “Đi tàu từ Nam ra Bắc đã giúp tôi khám phá sự đa dạng của Việt Nam : Thành phố Hồ Chí Minh là một thủ phủ kinh tế khá năng động và hiện đại, thành phố Đà Nẵng ven biển với thiên nhiên hùng vĩ, còn Hà Nội là một thành phố đậm chất văn hóa, khá truyền thống, và cách không xa đó lắm là những rặng núi ở Sapa (…). Ngày đầu tiên tới Việt Nam, tôi bắt tàu Violette Express ở thành phố Hồ Chí Minh (…). Những ngày đầu tiên tôi ở Việt Nam là trên tàu hỏa. Kỷ niệm đọng lại trong tôi rất đẹp. Tàu khá thoải mái, có rất nhiều khách du lịch. Tàu có hai hạng, giá vé chênh lệch nhau, có những toa tàu mà khách du lịch ưu tiên và những toa tàu mà người dân địa phương ưa thích”. Violette Express là loại hình toa tàu du lịch chất lượng cao, được gắn vào đoàn tàu quốc gia để phục vụ khách, giống như tàu đêm Hà Nội - Sapa của Victoria Express, Sapaly Express, le Vic Sapa Train hoặc Chapa Express, Hoa Phượng Đỏ với các toa VIP trên tuyến Hà Nội - Hải Phòng. Ngoài ra, còn có một số tuyến được khai thác riêng, như The Vietage nối Đà Nẵng - Quy Nhơn, được coi là khách sạn 5 sao di động với giá khoảng 450 đô la/chuyến. Hành trình được chọn đi qua những cung đường đẹp, một bên là biển, bên kia là cánh đồng và làng mạc. Đậm chất du lịch trải nghiệm hơn còn có tuyến La Reine dài 7 km nối Đà Lạt - Trại Mát, được công ty đường sắt Việt Nam khai thác, tàu du lịch Hà Nội 5 cửa ô nối Hà Nội - Từ Sơn (Bắc Ninh), Revolution Express : hai tiếng đi tàu từ Đà Nẵng đến Huế với đầu máy hơi nước của những năm 1960… Điểm chung của những tuyến tàu du lịch này là dịch vụ, trải nghiệm văn hóa, truyền thống, kết hợp tiện nghi của hiện đại với vẻ đẹp của kiến trúc Đông Dương để tạo nên nét tinh tế, sang trọng và rất lịch sử. Đây là “chìa khóa để tạo nên những tour trọn gói, đẳng cấp” và là “chiến lược nhằm khai thác nhóm đối tượng khách hàng sẵn sàng chi trả cho những dịch vụ chất lượng vượt trội” trong phân khúc du lịch bằng tàu hỏa, theo báo Nhân Dân ngày 03/06/2025. Phó Cục trưởng Du lịch Quốc gia Việt Nam Phạm Văn Thủy, được trang Nhân Dân trích dẫn, cho rằng những chuyến tàu không chỉ kết nối địa lý mà còn kết nối trải nghiệm, góp phần thúc đẩy và lan tỏa giá trị vùng miền đến đông đảo du khách trong và ngoài nước theo cách độc lạ, góp phần mở đầu cho một hình thức tour tuyến mới trong việc phát triển du lịch Việt Nam trong nhiều năm tới. Nhật ký ảnh hành trình du lịch bằng tàu hỏa ở Việt Nam Nhà báo Jean-Marc De Jaeger truyền tải kinh nghiệm du lịch tàu hỏa ở Việt Nam qua dạng nhật ký hành trình với những hướng dẫn thực tế và thông tin lịch sử, văn hóa những địa danh ông đi qua. “Đây là một cuốn sách minh họa, có nhiều hình ảnh, có cả phố Đường tàu nổi tiếng ở Hà Nội, giới thiệu một số địa điểm không thể bỏ qua khi tới Việt Nam. Đây là một câu chuyện, một hành trình, nên tôi tìm cách nói với độc giả, kiểu : “Nào, hãy theo tôi, lên tàu cùng tôi, khám phá địa danh này, địa danh kia”. Tôi nghĩ thông qua hành trình này mà tôi kích thích được độc giả khám phá đất nước bằng tàu hỏa. Trong số những địa điểm tôi ở lại vài ngày có Đà Nẵng, thành phố mà tôi rất thích vì có bờ biển xung quanh, thiên nhiên hùng vĩ, rất nhiều di tích tôn giáo. Và đặc biệt Đà Nẵng là trung tâm đường sắt của Việt Nam, có nghĩa là có những chuyến Bắc-Nam, hoặc có những chuyến đến Đà Nẵng rồi quay đầu. Tiếc là không có tàu đi từ Đà Nẵng đến Hội An, mà phải đi taxi hoặc xe buýt thêm gần một tiếng. Qua đó cũng thấy rằng từ ga tàu, có thể tỏa đi các địa điểm xung quanh bằng taxi hoặc phương tiện giao thông công cộng”. Cuốn sách không chỉ là những hướng dẫn mà cũng là nơi chia sẻ cảm xúc, cảm nhận của tác giả về hành trình. Mỗi thành phố, mỗi địa danh đã được Jean-Marc De Jaeger nghiên cứu và tìm tài liệu tỉ mỉ từ trước đó, tham khảo ý kiến những người biết rõ về Việt Nam. Và nếu có nhiều thời gian hơn, Jean-Marc De Jaeger nói là “có thể truyền đạt nhiều hơn trong sách. Nhưng chắc cũng không đủ chỗ mà sẽ phải làm một hướng dẫn riêng”. Một điểm nữa được nhà báo của tờ Le Figaro nhấn mạnh đó là đi tàu làm nảy sinh những mối liên hệ, kết nối, là cách hay nhất để hiểu được phần nào cuộc sống của người dân địa phương : “Khi ở trên tàu, tôi được tiếp xúc với người dân địa phương, mặc dù không phải ai cũng nói được tiếng Anh. Nhưng tôi vẫn có thể thấy một chút về lối sống, thói quen ăn uống trên tàu, cách mọi người di chuyển trong một hành trình dài như vậy. Đó là cách trải nghiệm rất hay. Tàu hỏa là cách tìm hiểu và gần gũi với người dân địa phương, để biết thêm một chút về cuộc sống hàng ngày của họ. Hành trình từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Đà Nẵng có vẻ dài, mất 16 hoặc 17 tiếng, nhưng tôi không để ý thời gian trôi qua vì tàu rất thoải mái, có nhiều dịch vụ. Hơn nữa, tôi thực sự đánh giá cao lòng hiếu khách của đội ngũ nhân viên trên tàu, những người rất tận tâm với hành khách. Bữa sáng được tính trong vé. Khách luôn có thể yêu cầu đồ ăn bất cứ lúc nào ban ngày hay ban đêm. Vì vậy, đây là một phương tiện di chuyển khiến bạn cảm thấy như là ở nhà. Trong khoang tàu, ban đầu có thể là những người không quen biết, nhưng sau đó cũng có thể bắt chuyện rất dễ dàng”. Du lịch bằng tàu hỏa xa xỉ có thể sẽ phát triển hơn nữa trong thời gian tới. Công ty Belmond, trực thuộc tập đoàn LVMH (Moët Hennessy Louis Vuitton), đã ký thỏa thuận khung với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam để thực hiện đề xuất đưa 10 toa tàu cổ của Eastern & Oriental Express đến Việt Nam, phục vụ khách du lịch giữa Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh. Tập đoàn Belmond khai thác các đoàn tàu du lịch nổi tiếng Venice-Simplon Orient Express, Royal Scotsman và Andean Explore. Tuy nhiên, kể từ khi được bộ Giao thông Vận tải Việt Nam “bật đèn xanh” vào tháng 03/2024, không có thêm thông tin nào về dự án này.
Theo các chuyên gia, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nhiều nguy cơ với các hiện tượng triều cường, sụt lún và sạt lở đồng loạt gia tăng. Không chỉ gây ngập úng diện rộng, các hiện tượng này còn làm suy yếu hệ thống đê bao, có thể dẫn đến những sự cố nghiêm trọng nếu không có giải pháp ứng phó kịp thời. Theo báo chí trong nước, trong những ngày đầu tháng 10 âm lịch vừa qua, nhiều khu vực ở Đồng Tháp liên tục ngập sâu do triều cường lên mức cao nhất từ đầu năm. Triều cường mạnh cũng có nguy cơ làm vỡ đê. Cùng thời điểm, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam (VAWR) cảnh báo nhiều khu vực trong vùng có khả năng tiếp tục bị ngập úng do kết hợp giữa triều cường, mưa trái mùa và dòng chảy yếu từ thượng nguồn. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 12/12/2025, tiến sĩ Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Đại học Cần Thơ và là chủ tịch Quỹ bảo tồn Mekong MCF, giải thích: "Nói về ngập, chúng ta phân biệt ba thông số. Thứ nhất là diện tích ngập, thứ hai là độ sâu ngập và thứ ba là thời gian ngập. Ví dụ các tỉnh ven phía Biển Đông như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, thành thử khi bị ngập thì sẽ ngập rất nhanh, nhưng mà rút rất là lẹ, tại vì một ngày một đêm có tới hai lần nước ròng, hai lần nước kém. Các tỉnh khác như Kiên Giang, Cà Mau thì lại bị ảnh hưởng chế độ nhật triều, ngập thì cũng ngập nhanh, nhưng lại rút rất chậm, bởi vì một ngày một đêm chỉ có một lần nước ròng thôi. Những tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang thì lại ít bị ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều từ Biển Đông, mà bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi lượng nước đổ về của sông Mekong và lượng mưa tại chỗ. Ở những nơi đây có mùa nước mà người ta hay gọi là mùa nước nổi, khoảng giữa rằm tháng 7 thì nước dâng lên từ từ nhưng lại kéo dài cho tới khoảng cuối tháng 9 âm lịch thì nước mới bắt đầu rút được. Còn những tỉnh nằm giữa như Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang thì lại bị ảnh hưởng bởi hai phần. Một phần là các tỉnh phía thượng nguồn như Đồng Tháp, An Giang và một phần khác là các tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu... Nếu xảy ra ngập lụt ở Cần Thơ và nếu các tỉnh phía bên trên như Đồng Tháp, An Giang không có nước đổ về tiếp tục và trong khi đó phía Sóc Trăng và Trà Vinh không bị ngập, thì Cần Thơ bị ngập không đáng kể, có nghĩa là ngập, nhưng sau đó nước sẽ rút rất nhanh. Nhưng ngược lại, nếu các tỉnh ven biển như Trà Vinh, Sóc Trăng cũng bị ngập và cộng thêm các tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang lại ngập nữa, thì lúc bây giờ các tỉnh phía giữa như Vĩnh Long và Cần Thơ sẽ ngập rất sâu. Khi muốn đánh giá ngập ở một chỗ nào thì có rất nhiều nguyên nhân, chứ không đơn thuần một hai nguyên nhân. Và bản chất của chuyện ngập là hoàn toàn khác nhau giữa tỉnh này với tỉnh khác. Nó không chịu một ảnh hưởng nguyên nhân chung, mà mỗi tỉnh có một nguyên nhân riêng. Thậm chí những địa phương trong cùng một tỉnh cũng có những nguyên nhân ngập khác nhau. Và điều đó tác động lên ba thông số mà tôi vừa trình bày: Diện tích ngập, độ sâu ngập và thời gian ngập." Tình trạng sụt lún Không chỉ đối mặt với ngập úng, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn đang chịu tác động của sụt lún đất và sạt lở bờ sông, bờ biển. Mưa lớn, dòng chảy thay đổi và tác động của triều cường khiến các điểm sạt lở xuất hiện với tần suất dày hơn. Tại một số khu vực, sạt lở đã ăn sâu vào sát chân đê, làm tăng nguy cơ mất an toàn cho cả tuyến đê lẫn người dân sinh sống ven sông. Phân tích của các chuyên gia VAWR cho thấy việc khai thác nước ngầm kéo dài đã khiến nền đất hạ thấp. Khi nền đất lún xuống, mực nước vốn chỉ ngang bờ kênh nay có thể gây ngập ngay cả khi triều không quá cao. Theo phân tích của tiến sĩ Dương Văn Ni, có rất nhiều nguyên nhân giải thích tình trạng sụt lún của đồng bằng sông Cửu Long: "Đồng bằng chúng ta là một vùng đất non trẻ, trước khi hình thành chỉ là những bãi bùn rất là nhão. Sau đó đất bắt đầu dần dần săn chắc và như vậy có một quá trình gọi là 'sụt lún tự nhiên'. Hiện tượng này khác nhau ở từng vùng. Do điều kiện địa chất, có những nơi thì sụt lún tự nhiên khoảng chừng 5 cm, có những nơi thì chỉ sụt một vài cm thôi. Nó hoàn toàn lệ thuộc vào cấu tạo địa chất của lớp trầm tích nằm bên dưới. Nhưng một nguyên nhân thứ hai đó là do chúng ta khai thác nước ngầm. Mà lý do căn bản của chuyện khai thác nước ngầm không phải là người ta thiếu nước ngọt mà là thiếu nước có đủ chất lượng để mà sản xuất và sinh hoạt. Bấy lâu nay chúng ta thâm canh, chúng ta đã sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc trừ sâu và như vậy tạo ra một lượng dư thừa đổ xuống sông rạch và làm ô nhiễm nước mặt. Đặc biệt là trong quá trình xây đê điều, cống đập để ngăn mặn, ngăn lũ, điều tiết nước thì chúng ta cản trở dòng chảy rất là lớn. Do đó bây giờ gần như người dân nông thôn không còn uống nước dưới sông nữa, hoặc là không còn sinh hoạt, tắm giặt dưới sông nữa, bởi vì người ta sợ ô nhiễm. Và chính vì sợ ô nhiễm như vậy, người ta phải khoan rất nhiều giếng để lấy nước ngầm lên xài. Nghiêm trọng hơn là ở những vùng ven biển, khi người ta nuôi tôm thì người ta cần những độ mặn thích hợp cho quá trình con tôm tăng trưởng. Thành thử người ta phải cần rất nhiều nước ngọt pha loãng với nước mặn để có độ mặn lý tưởng. Và người ta sử dụng một lượng nước ngầm vô cùng lớn không phải chỉ để sinh hoạt, mà cho cả sản xuất, góp phần rất đáng kể vào chuyện làm sụt lún mặt đất. Và nguyên nhân cuối cùng là các công trình xây dựng của chúng ta càng ngày càng dày đặc. Những thành phố ngày xưa chỉ là những nhà thấp thì bây giờ xuất hiện rất nhiều nhà cao tầng, thậm chí những nhà cao tầng đó tập trung rất dày đặc. Với trọng lượng rất là lớn trên mặt đất như vậy nó ép xuống và như vậy cũng sẽ làm tăng mức độ sụt lún chung cho cả vùng. Bao nhiêu năm nay khi nói là nước biển dâng, biến đổi khí hậu, nhưng mà nước biển chỉ dâng chừng vài mm trong vòng 1, 2 năm, trong khi tốc độ sụt lún của chúng ta tới mấy chục mm trong vòng 1 năm.Và như vậy chúng ta thấy là thiên tai đến chậm, nhưng nhân tai đến nhanh hơn!" Sống chung với lũ Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, trước viễn cảnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục ngập úng diện rộng trong thời gian dài, thay vì chế ngự nguồn nước bằng đê điều như vẫn làm từ trước đến nay, chính quyền địa phương nên giúp cho người dân ở vùng này học cách sống chung với lũ: "Những năm gần đây, chúng ta thấy rõ ràng ngay cả trong các văn bản của nhà nước cũng không còn mạnh dạn nói chuyện chống hạn, chống mặn, chống lũ nữa, mà đang dần dần khuyến khích người dân sống chung với lũ, sống chung với mặn. Thách thức hiện nay đó là nhiều khi giải pháp sống chung đó chưa được phát triển một cách đầy đủ. Và như vậy người dân và các cấp chính quyền ở địa phương khá lúng túng khi áp dụng những mô hình cụ thể vào cuộc sống hàng ngày. Ở những tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp vài chục năm trước người ta bao những đê triệt để, không cho nước lũ tràn vào trong mùa mưa, để người ta thâm canh lúa vụ ba nhằm tăng sản lượng lúa. Nhưng sau hàng chục năm sử dụng mô hình đó, bây giờ người ta đã thấy một điều rất rõ là ở những vùng đó gần như đất bị kiệt quệ về dinh dưỡng và người sản xuất phải bón phân ngày càng nhiều. Năng suất lúa thì không tăng bao nhiêu nhưng lượng phân bón phải tăng lên rất cao, do đó lợi nhuận của sản xuất lúa vụ ba này gần như không còn. Người dân ý thức được chuyện đó, chính quyền địa phương và mọi người ý thức được chuyện đó, nhưng bây giờ muốn xả nước trở lại để lấy phù sa, để lấy dinh dưỡng trở lại tự nhiên cho đất, thì đó là một vấn đề không dễ. Trong hàng chục năm qua, vì chúng ta đã giữ mực nước thấp như vậy, thành thử nhà cửa, chuồng trại, vườn tược, thậm chí mồ mả cũng xây thấp lè tè bằng với mực nước. Bây giờ nếu xả nước trở lại thì tất cả những công trình này sẽ bị chìm ngập hết. Và như vậy người dân không đồng thuận mặc dù người ta ý thức rất rõ là bây giờ phải xả nước trở lại để cho đất đai nó màu mỡ trở lại. Chúng ta cũng phải đi từng bước chứ không thể một ngày một buổi mà có giải pháp tổng thể được. Thứ nhất, phải chuyển đổi cách sử dụng đất làm thế nào để bảo đảm được thu nhập cho người dân ổn định hàng tháng, hàng năm chuyển đổi từ sinh kế không lệ thuộc vào nguồn nước sang thích nghi tốt với những nguồn nước. Khi chuyển đổi được những sinh kế cho bà con ở một vùng nào đó rồi đó thì bước tiếp theo là phải lần lần rút người dân ra khỏi những vùng không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nữa, ví dụ như những vùng bưng biền mà ngày xưa nó ngập rất lâu, khi mùa nước tới là nước nó ngập ba bốn mét. Những vùng này trong bao nhiêu năm qua chúng ta bao đê khô triệt để cho người dân sống trong đó, nhưng mà người ta sống với một tâm thế rất là phập phồng rủi ro, không biết đê bao bị vỡ gây ngập lụt bất cứ lúc nào, tài sản người ta xây dựng hàng chục năm có thể đổ sông đổ biển trong vòng một vài tiếng đồng hồ. Thứ ba là chúng ta cũng phải định hình lại chiến lược phát triển tổng thể của Đồng bằng sông Cửu Long và chiến lược đó phải phân khu vực. Những nơi nào mà bắt buộc chúng ta phải không cho nước nó ngập bất cứ lúc nào, thì những khu đó, với khoa học công nghệ hiện đại, chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng kiểm soát hoàn toàn mực nước, để không có chuyện ngập tràn lan. Dĩ nhiên là những khu này phải tương xứng với cái trình độ phát triển và phải đóng góp rất lớn cho nền kinh tế của cả khu vực. Bởi vì đầu tư cho những khu vực này là vô cùng tốn kém và quản lý những khu này lại càng tốn kém hơn nữa. Đó là những khu vực đặc biệt phải ưu tiên, ví dụ như những khu công nghiệp, những nơi có những công trình phúc lợi công cộng như trường học, bệnh viện... Còn lại những khu vực không đóng góp thực sự lớn cho nền kinh tế thì chúng ta phải xem xét từng bước trả nó trở về với thiên nhiên. Khi chúng ta làm được điều đó đó thì tự bản thân cộng đồng đã thích nghi được rồi. Kinh nghiệm của Hà Lan Tiến sĩ Dương Văn Ni nêu ví dụ của Hà Lan, một quốc gia có giàu kinh nghiệm sống với nước, đồng thời có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao trong việc xây dựng các đê điều và quản lý đê điều. Tuy nhiên, những n
“Washington muốn hợp tác chặt chẽ hơn với Việt Nam về mặt quân sự”. Mối quan hệ này được thể hiện qua việc Mỹ chuyển giao ba tàu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam (1), năm máy bay huấn luyện T-6C trên tổng số 12 chiếc (2). Một cột mốc quan trọng khác là chuyến công du Hà Nội của bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ Pete Hegseth đầu tháng 11/2025. Ông khẳng định “Hoa Kỳ quyết tâm theo đuổi những dự án này và nhiều dự án khác”. Việt Nam giữ vai trò như thế nào trong chiến lược quốc phòng vừa được tổng thống Trump điều chỉnh ngày 05/12, theo đó Trung Quốc vẫn là đối thủ “hàng đầu” của Mỹ ? Liệu Hà Nội có thể tăng cường mối quan hệ quân sự với Washington mà vẫn không tách rời Matxcơva ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon tại Viện Đông Á (Institut d’Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việt Nam nằm trong số các điểm dừng chân trong chuyến công du châu Á của bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ Pete Hegseth tháng 11/2025. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh nào ? Laurent Gédéon : Trước hết, cần lưu ý rằng ông Pete Hegseth được coi là một đồng minh thân cận của tổng thống Donald Trump và được biết là người có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc. Ngày 03/11, ông Hegseth kết thúc chuyến thăm Việt Nam kéo dài hai ngày, gặp bộ trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang và cam kết tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Chuyến thăm này trùng với kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương và hai năm nâng cấp lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện - cấp ngoại giao cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh ngoại giao tế nhị, được đánh dấu bằng chuyến công du Bắc Triều Tiên của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm ngày 09/10, dự lễ duyệt binh tại Bình Nhưỡng để kỷ niệm 80 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên. Dĩ nhiên là chuyến công du đầu tiên của một quan chức cấp cao Việt Nam từ năm 2007 cũng được theo dõi sát sao ở Washington. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Việc tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam thăm Bình Nhưỡng có thể được phân tích trên hai cấp độ. Thứ nhất là thể hiện mong muốn của Hà Nội trong việc khôi phục quan hệ với Bình Nhưỡng bị đình trệ vì đại dịch Covid-19, Bắc Triều Tiên gần như đóng cửa hoàn toàn biên giới với du khách nước ngoài. Mặt khác, điều này có thể liên quan đến môi trường địa-chiến lược nhạy cảm ở Đông Nam Á, đặc biệt là liên quan đến Trung Quốc, cũng như sự bất cân xứng quân sự đặc trưng trong mối quan hệ Việt-Trung. Trong bối cảnh này, Hà Nội quan tâm đến các phương pháp hiện đại hóa hệ thống vũ khí Liên Xô do Bắc Triều Tiên phát triển, đặc biệt là không quân, bởi vì Việt Nam cũng được trang bị vũ khí hạng nặng từ Nga hoặc Liên Xô cũ. Mối quan tâm này có thể giải thích sự hiện diện của bộ trưởng Phan Văn Giang. Giả thuyết này càng được củng cố qua việc hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác quốc phòng song phương. Bên cạnh hai yếu tố này, Việt Nam cũng đang định hình là một trung gian tiềm năng nếu đối thoại giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên được nối lại, như trường hợp hồi tháng 02/2019. Lập trường này sẽ giúp Hà Nội có được lợi thế ngoại giao quý giá đối với Washington, đặc biệt là trong giai đoạn quan hệ kinh tế song phương nhạy cảm. Chuyến thăm của bộ trưởng Pete Hegseth, diễn ra trong bối cảnh phức tạp như đã nói ở trên, còn được đánh dấu bởi mong muốn của Hà Nội trong việc tìm kiếm sự cân bằng giữa hợp tác với các bên liên quan trong khu vực, tìm kiếm ảnh hưởng của Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc, và duy trì khoảng cách tương đối với Washington mà không cắt đứt quan hệ với Mỹ. RFI : Hoa Kỳ đã tạm dừng viện trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID trên thế giới, yêu cầu các đối tác và đồng minh chi tiêu nhiều hơn cho an ninh của họ. Ngược lại, Washington lại công bố khoản tài trợ mới 130 triệu đô la cho dự án xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa, nâng tổng số viện trợ không hoàn lại lên 430 triệu đô la. Đâu là lý do có thể giải thích cho quyết định này ? Laurent Gédéon : Thông qua quyết định này có thể thấy kết quả của sự hợp tác về các vấn đề hậu chiến, vốn là nền tảng chính trị và biểu tượng thiết yếu trong quan hệ Việt-Mỹ. Năm 1995 khi bình thường hóa quan hệ, hai nước hợp tác trong việc rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân mất tích và tẩy sạch chất dioxin tại các căn cứ không quân cũ bị nhiễm của Mỹ. Vết tích chiến tranh vẫn in hằn đối với cả người Mỹ và người Việt Nam. Việc nêu bật hậu quả về con người và môi trường của các vụ ném bom của quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nâng cao nhận thức tại Hoa Kỳ và thúc đẩy mong muốn giải quyết cuộc xung đột này. Bối cảnh này là một trong những yếu tố giải thích cho quyết định tài trợ của Washington. Đọc thêmMỹ - Việt Nam tăng cường hợp tác quân sự Ngoài ra, còn có một lý do khác liên quan đến mong muốn của Washington trong việc thúc đẩy bất cứ việc gì có thể giúp hai nước xích lại gần nhau về mặt chiến lược, cho dù chi phí không phải là nhỏ. Theo quan điểm của các chiến lược gia Mỹ, một Việt Nam trung lập nhưng hòa giải đối với Mỹ, hoặc thậm chí là một Việt Nam đồng minh, là một mục tiêu đặc biệt quan trọng, bởi vì sẽ giúp kiềm chế Trung Quốc. Đây chắc chắn là một trong những lý do cho sáng kiến của Mỹ. RFI : Liệu sự hợp tác về di sản chiến tranh có tạo nền tảng cho mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu sắc hơn không ? Việt Nam có thể vận dụng sự hợp tác này như thế nào để phát triển quan hệ với một cựu thù ? Laurent Gédéon : Hợp tác về di sản chiến tranh chắc chắn rất quan trọng để củng cố quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Việc này cũng mang ý nghĩa chính trị nội bộ ở Việt Nam. Tại một đất nước mà cuộc chiến vẫn giữ ý nghĩa biểu tượng rất quan trọng đối với người dân, kể cả các thế hệ về sau, sự hợp tác về di sản chiến tranh này mang lại cho chính quyền tính chính danh chính trị cần thiết trong nỗ lực phát triển quan hệ với cựu thù. Tuy nhiên, sự hợp tác này không phải là động lực duy nhất thúc đẩy mối quan hệ Việt-Mỹ. Ngoài di sản chung của chiến tranh, mối quan hệ đó còn được thúc đẩy bởi thực tế cụ thể của bối cảnh địa-chiến lược hiện tại trong khu vực, được đánh dấu bằng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ riêng thực tế này cũng rất thuận lợi cho việc thúc đẩy các cuộc đàm phán giữa hai nước. Đọc thêmHoa Kỳ muốn hợp tác giúp Việt Nam có đủ vũ khí để tự vệ Các cuộc đàm về việc mua 24 chiến đấu cơ F-16, được tiết lộ ngày 22/04, cũng phải được đặt trong bối cảnh này. Mặc dù khởi đầu đầy hứa hẹn nhưng thỏa thuận lại không tiến triển trong chuyến thăm Hà Nội của bộ trưởng Pete Hegseth. Tuy nhiên, thất bại này không liên quan - hoặc chỉ liên quan tối thiểu - đến vấn đề ký ức lịch sử và di sản chiến tranh như vừa đề cập ở trên. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng còn có những yếu tố tác động khác. Thật vậy, cần phải nói là song song với đàm phán Việt-Mỹ, nhiều cuộc đàm phán khác cũng diễn ra giữa Hà Nội và Matxcơva để Việt Nam mua chiến đấu cơ của Nga. Báo New York Times đưa tin vào ngày 27/10 rằng Hà Nội đã đặt mua vũ khí Nga trị giá 8 tỷ đô la, trong đó có 40 chiến đấu cơ Su-35 và Su-30. Nếu được xác nhận, hợp đồng này chứng minh hai điều : Thứ nhất, sự xích lại gần nhau ngày càng sâu sắc giữa Hà Nội và Matxcơva, và thứ hai, những thắc mắc của Việt Nam liên quan đến mức độ tin cậy lâu dài của Mỹ. Tuy nhiên, vì Washington hiểu rằng Việt Nam đã tăng cường quân sự đáng kể trong những năm gần đây, với ngân sách quốc phòng hiện chiếm gần 2% GDP, cho nên rất có thể Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực xích lại gần hơn bằng cách dựa vào những nền tảng được đặt ra trong hợp tác song phương về di sản chiến tranh, cũng như những chương trình hợp tác khác. RFI : Trong cuộc đối thoại ngày 02/11, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực quốc phòng và chia sẻ kinh nghiệm về an ninh mạng. Đâu là mục đích của Việt Nam trong việc này ? Laurent Gédéon : Đây là điểm đáng chú ý, bởi vì từ một năm nay, Việt Nam giữ vị thế nổi bật trong lĩnh vực an ninh mạng. Ngày 24/12/2024, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống Tội phạm Mạng và chỉ định Hà Nội là địa điểm tổ chức ký kết. Lễ mở ký Công ước Hà Nội được tổ chức ngày 25 và 26/10/2025. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hợp tác quốc tế về an ninh mạng, đồng thời phản ánh tầm quan trọng đặc biệt cho ngành ngoại giao Việt Nam. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, thiệt hại kinh tế hàng năm trên quy mô toàn cầu do tội phạm mạng dự kiến vượt quá 10.000 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025, với hàng triệu cuộc tấn công mạng xảy ra mỗi ngày. Đọc thêmHơn 60 nước ký kết Công ước chống Tội phạm Mạng tại Hà Nội, nhiều tập đoàn kỹ thuật số tẩy chay Tại Việt Nam, cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, tội phạm mạng ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp về bản chất, cũng như tác động. Theo thiếu tướng Lê Xuân Minh, cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm mạng, bộ Công An, năm 2024 đã xảy ra hơn 100.000 sự cố an ninh mạng. Tội phạm mạng chuyển hướng từ các cuộc tấn công đơn lẻ, quy mô nhỏ sang hoạt động xuyên quốc gia được tổ chức bài bản, nhắm vào các hệ thống quốc gia trọng yếu và các doanh nghiệp kinh tế lớn. Đầu tháng 12/2025, bộ Công An cũng đã cảnh báo về sự gia tăng nhanh chóng của các video và hình ảnh được AI tạo ra sau trận lũ lụt ở miền Trung Việt Nam một tuần trước đó. Rõ ràng đây là vấn đề dân sự. Nhưng vì có tính chất hỗn hợp, những vấn đề này thường đan xen giữa lĩnh vực dân sự và quân sự, hoặc thậm chí là an ninh dân sự và quốc phòng. Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ - quốc gia sở hữu một trong những chuyên môn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này - rõ ràng có thể hỗ trợ Việt Nam, nếu Hà Nội yêu cầu, dưới hình thức đào tạo chuyên gia, cung cấp chuyên gia, chia sẻ dữ liệu số, xây dựng năng lực, thậm chí là hội nhập vào các mạng lưới quốc tế. Tuy nhiên, để đi xa hơn trong quá trình hợp tác này, ví dụ, liên quan đến việc chia sẻ kinh nghiệm từ xung đột Ukraina, có lẽ Việt Nam sẽ phải thay đổi triệt để các ưu tiên chiến lược và ngoại giao, trong
“Hà Nội quá ô nhiễm! Không khí quá dầy đặc, toàn khói xe và toàn mùi xăng. Mọi người rất vất vả vì mùi xăng và khói xe, nhất là giờ tan tầm, người ta sẽ ngạt thở”. Đó là cảm nhận của một người dân Hà Nội năm 2017. Đến đầu năm 2025, Hà Nội nhiều lần đứng đầu danh sách thành phố ô nhiễm nhất thế giới, nhiều ngày không thấy mặt trời. Nguyên nhân chủ yếu là xe máy phát thải 87% khí CO2 và 66% bụi mịn, theo một nghiên cứu năm 2023. Hàng năm, khoảng 70.000 người chết vì ô nhiễm không khí ở Việt Nam, theo đánh giá của Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 2024. Cải thiện bầu không khí, giảm ô nhiễm môi trường trở thành vấn đề vô cùng cấp bách đối với Việt Nam, đặc biệt là ở Hà Nội. Từ ngày 01/07/2026, xe máy chạy xăng dầu sẽ bị cấm hoạt động ở vành đai 1 (trung tâm) Hà Nội, theo chủ trương được thông báo ngày 04/07/2017. Đây là bước đầu trong lộ trình chuyển sang xe điện, bắt đầu từ Hà Nội, tiếp theo là thành phố Hồ Chí Minh, hai đô thị lớn lần lượt có 7 triệu và 8,5 triệu xe máy. Trả lời AP ngày 20/10/2025, bà Dương Tử Phi (Zifei Yang), giám đốc Chương trình Xe khách tại Hội đồng Quốc tế về Giao thông sạch (International Council on Clean Transportation) nhắc lại : “Xe điện hai bánh sạch hơn nhiều, về cơ bản là không hề có khí thải từ ống xả. Và chỉ cần xét đến việc rất nhiều xe điện được sử dụng ở trung tâm thành phố và mọi người tiếp xúc với không khí, đã thấy việc này sẽ giúp cải thiện đáng kể chất lượng không khí tại địa phương. Nó làm giảm khí nitơ ôxit (Nox), giảm bụi mịn (PM). Những yếu tố này rất quan trọng đối với khu vực đô thị. Hơn nữa, xe máy điện còn tiết kiếm nhiên liệu hơn”. Đọc thêm9 triệu người chết mỗi năm vì ô nhiễm môi trường, nhiều hơn bệnh tật, khủng bố và chiến tranh Lộ trình ba chặng ở Hà Nội Quá trình “xanh hóa” phương tiện giao thông ở Hà Nội được chia làm ba chặng : Từ ngày 01/07/2026, Hà Nội sẽ cấm xe máy chạy xăng dầu trong khu vực Vành đai 1, mở rộng phạm vi ra Vành đai 2 từ ngày 01/01/2028 và tiến tới Vành đai 3 vào năm 2030. Nhìn chung, người dân đều muốn một môi trường trong lành vì chính sức khỏe của bản thân, như trường hợp một khách hàng mua xe đạp điện : “Nhà nước đang có chính sách để bảo vệ môi trường, nhất là ở khu vực trung tâm Hà Nội. Tôi đã tìm hiểu một số mẫu xe đạp điện của nhiều thương hiệu tại Việt Nam và tôi quyết định sẽ lựa chọn một hãng để mua một chiếc, không chỉ vì môi trường mà còn vì tiết kiệm chi phí cho bản thân”. Đọc thêm“Xanh hóa” giao thông Hà Nội: Cần bỏ ôtô cá nhân thể hiện “thành đạt” và kết nối hệ thống công cộng Hà Nội dự kiến hỗ trợ mỗi người dân 3 triệu đồng để chuyển đổi xe máy xăng sang xe điện (có giá trị từ 15 triệu đồng trở lên và phải đăng ký trước thời điểm nghị quyết có hiệu lực) và 4 triệu đồng/xe đối với hộ cận nghèo ; 5 triệu đồng/xe đối với hộ nghèo. Mỗi cá nhân được hỗ trợ tối đa 1 xe đến hết năm 2030. Thành phố Hồ Chí Minh cũng có kế hoạch “xanh hóa” phương tiện giao thông, với tham vọng thay thế 400.000 xe máy chạy xăng bằng xe điện cho đến năm 2028, bắt đầu bằng lệnh cấm sử dụng xe máy chạy xăng để gọi xe và giao hàng ngay năm 2026. Thành phố sẽ cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp, giảm thuế và thiết lập các khu vực phát thải thấp để hạn chế ô nhiễm. Một quyết định “quyết liệt” khác nhằm cải thiện môi trường là ngay từ ngày 01/07/2027, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh sẽ áp dụng quy chuẩn khí thải đối với xe mô tô, xe gắn máy. Hà Nội sẽ phân vùng phát thải thấp, áp dụng nhiều biện pháp hạn chế giao thông, trong đó có cấm lưu thông xe tải hạng nặng chạy bằng dầu diesel… Các đô thị lớn khác như Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Huế triển khai từ ngày 01/07/2028, còn các tỉnh, thành khác sẽ áp dụng từ ngày 01/07/2030. Bộ Giao Thông Vận Tải Việt Nam đặt mục tiêu 1/3 ô tô và hơn 1/5 xe máy sẽ chạy bằng điện đến năm 2030. Quyết định nhanh, thời hạn ngắn gây hỗn loạn hậu cần và xã hội ? Hà Nội “cần những biện pháp nghiêm ngặt để giải quyết ô nhiễm môi trường”, theo phát biểu vào tháng 07/2025 của ông Dương Đức Tuấn, khi đó là phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, thông báo đột ngột và việc triển khai trong thời hạn ngắn khiến không ít người dân lo lắng, đặc biệt là những người lao động sống nhờ xe máy. Đổi sang xe điện là cả một khoản ngân sách lớn, không phải ai cũng sẵn có, như anh Trần Văn Thanh, lái xe ôm : “Tôi không có kinh tế nhiều để đổi sang xe điện nên vẫn phải chạy xe này (chạy xăng) thôi. Chạy xe này, tôi sẽ phải lựa cuốc, lựa những chuyến chạy ngoại thành. Chứ bây giờ không có kinh tế để đổi xe mới nên cũng chịu”. Đối với một số người dân, được báo Tuổi Trẻ trích dẫn ngày 18/07, mức hỗ trợ 3 triệu đồng là “quá ít”. Đọc thêmCấm xe máy chạy xăng ở Việt Nam: Nhật Bản cảnh báo thất nghiệp hàng loạt và kêu gọi « chuyển đổi có lộ trình » Về phía các nhà sản xuất xe máy lớn nhất ở Việt Nam, như Honda và Yamaha, họ cho rằng mốc thời gian năm 2026 là quá tham vọng. Theo hãng tin Anh Reuters ngày 21/10, đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội đã gửi thư đến các cơ quan chức năng Việt Nam đề nghị xem xét một “lộ trình phù hợp” cho quá trình chuyển sang xe chạy điện vì lệnh cấm đột ngột này có thể “ảnh hưởng đến việc làm trong các ngành công nghiệp hỗ trợ”, như đại lý xe máy và nhà cung cấp phụ tùng. Xe máy Honda chiếm 80% thị trường tại Việt Nam với 2,6 triệu xe bán ra trong năm 2024. Tập đoàn của Nhật Bản rất thận trọng trong việc tiếp cận xe điện và chỉ mới bắt đầu bán xe đạp điện trong năm 2025, một phần vì nhu cầu người dùng xe xăng vẫn rất lớn. Yamaha bám sát với khoảng 17% thị phần. Theo các nguồn tin của Reuters, chính Honda dẫn đầu nỗ lực kiến nghị chính phủ xem xét lại chỉ thị. Hiện có 4 nhà máy ở Việt Nam, chủ yếu sản xuất xe xăng và chỉ có một vài mẫu xe điện, Honda có thể xem xét thu hẹp quy mô sản xuất. Các cửa hàng cho thuê, đại lý bán xe cũng sẽ phải thay đổi mô hình hoạt động, như chia sẻ của Cao Bảo Ngọc, chủ cửa hàng cho thuê xe máy, với hãng tin Mỹ AP : “Khi lệnh cấm được ban hành, đó là một thay đổi lớn và ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động kinh doanh của chúng tôi. Chúng tôi đã cân nhắc kế hoạch cho cửa hàng trong tương lai. Nhưng tôi nghĩ sự thay đổi này là cần thiết để Hà Nội sạch hơn, tốt hơn cho sức khỏe của mọi người. Đây cũng là một động thái tốt, có lợi cho du lịch Việt Nam”. Nước tiên phong ở Đông Nam Á nếu thực hiện được tham vọng Theo trang Mordor Intelligence, thị trường xe hai bánh Việt Nam là một trong những thị trường lớn nhất thế giới, có trị giá ước tính 4,6 tỉ đô la trong năm 2025. Một số chuyên gia cho rằng việc Việt Nam hạn chế xe xăng có thể sẽ gây ra nhiều biến động tiêu cực. Tuy nhiên, phải nói rằng thị trường xe máy điện tại Việt Nam đã hình thành từ khá lâu, ban đầu là các dòng xe nhập khẩu hoặc lắp ráp trong nước, với linh kiện chủ yếu từ Trung Quốc. Sau đó, thị trường trở nên chuyên nghiệp hơn với sự xuất hiện của nhiều thương hiệu nội địa, như VinFast hoặc Dat Bike. Những công ty này cũng như nhà sản xuất xe máy điện Trung Quốc Yadea lại đang đặt cược vào một tương lai xe điện ở Việt Nam. Với khoảng 3,5 triệu chiếc mỗi năm, Việt Nam là thị trường xe máy lớn thứ hai ở Đông Nam Á. Riêng về xe điện hai bánh, Việt Nam là thị trường lớn thứ ba ở châu Á, sau Trung Quốc và Ấn Độ, mặc dù xe máy điện hiện chiếm khoảng 12% tổng doanh số. Bà Dương Tử Phi, thuộc Hội đồng Quốc tế về Giao thông sạch, cũng cho rằng đây là một cơ hội cho các nhà sản xuất Việt Nam, bởi vì không giống như thị trường ô tô, xe máy bán ở Việt Nam được sản xuất trong nước. Việc này có nghĩa là chuyển sang xe máy điện có thể cổ vũ các nhà sản xuất trong nước, thúc đẩy khởi nghiệp và thu hút đầu tư mới. Quá trình chuyển đổi của Việt Nam cũng có thể định hình các thị trường đang phát triển khác. Ông Nguyễn Tấn Long, giám đốc tiếp thị của Dat Bike, cho biết : “Dat Bike hy vọng chính phủ sẽ có các chính sách hỗ trợ các nhà sản xuất xe máy điện như giảm tiền thuê đất sản xuất, giảm thuế nhập khẩu linh kiện xe máy điện và hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ mới cho xe điện tốt hơn”. Đọc thêm Ô nhiễm không khí ở Hà Nội: Giải pháp không phải đơn giản Dù sao doanh số bán xe máy điện đã tăng vọt kể tư khi lệnh cấm được công bố, theo MotorcyclesData, được AP trích dẫn ngày 20/10. Doanh số xe máy cỡ nhỏ tăng 89% và xe máy cỡ lớn tăng 197% trong tám tháng đầu năm 2025. VinFast dẫn đầu với doanh số tăng hơn gấp 4 lần, vượt xa Yadea của Trung Quốc và các đối thủ nội địa khác. Hiện tại, VinFast đã có đội xe taxi riêng và cung cấp xe cho nhiều hãng đối tác khác. Ngày 30/10/2025, công ty khởi nghiệp Dat Bike và xe công nghệ Grab ký thỏa thuận hợp tác “để triển khai các dự án khuyến khích, hỗ trợ đối tác tài xế Grab tiếp cận và chuyển đổi sang xe máy điện… Hai bên cũng đặt trọng tâm phối hợp xây dựng hệ sinh thái xe điện hỗ trợ bền vững cho tài xế công nghệ”. Các nhà sản xuất xe máy điện đua nhau thiết lập trạm đổi pin để giải quyết mối lo ngại của người tiêu dùng về sự an toàn và tiện lợi của việc sạc pin. Honda thí điểm mô hình đổi pin cho người thuê mẫu xe máy điện Honda CUV e. TMT Motors triển khai hệ thống trạm đổi pin cho cả ô tô điện và xe máy điện trên phạm vi toàn quốc. VinFast có kế hoạch xây dựng 150.000 trạm đổi pin tại tất cả các địa phương trong vòng 3 năm tới, trong đó có 50.000 trạm từ giờ đến cuối năm 2025. Theo trang Thanh Niên, hệ thống đổi pin của Selex Motors được lập ở nhiều tỉnh, thành cho phép người dùng thao tác đổi pin chỉ trong 2 phút. Thương hiệu Việt này còn phát triển pin “đại trà” tương thích với nhiều mẫu xe, để người dùng của các hãng khác như DK Bike hay Evgo có thể cùng chia sẻ hệ sinh thái. Thói quen bỏ xe xăng chuyển sang xe điện của đa số người dùng mới là thách thức, rào cản lớn nhất. Về mặt cơ sở và kỹ thuật, một nhà lãnh đạo của Dat Bike, được trang CafeF trích dẫn, cho rằng “Việt Nam đang ở vị trí rất thuận lợi để dẫn đầu xu hướng xe máy điện tại Đông Nam Á. Sự hỗ trợ từ chính phủ sẽ càng củng cố vị thế này trong tương lai”. Song song với giải pháp xe điện, tăng cường kiểm tra kỹ thuật xe, lập các khu vực phát thải thấp ở trung tâm thành phố, Tổ Chức Y Tế Thế Giới cũng khuyến cáo Việt Nam cổ vũ cho phương tiện cô
Theo báo cáo do Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) công bố vào tháng 5 vừa qua, hoạt động sản xuất và buôn bán trái phép ma túy tổng hợp từ khu vực Tam giác Vàng ( khu vực nằm giữa biên giới ba nước Lào, Thái Lan, Miến Điện ) đã tăng gấp bội. Là quốc gia có đường biên giới chung với Lào, một trong 3 quốc gia của khu Tam Giác Vàng, Việt Nam đang phải đối phó với ngày càng nhiều đường dây buôn lậu ma túy tổng hợp từ nước láng giềng. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 15/09/2025, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc, và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), trước hết nêu lên những tuyến đường mà ma túy tổng hợp xâm nhập vào Việt Nam : Lương Thanh Hải: Đến nay, việc thẩm lậu ma túy từ khu vực Tam Giác Vàng vào Việt Nam trải đều trên cả ba tuyến chính, đó là đường bộ, đường hàng không và đường biển. Việt Nam may mắn là không nằm trực tiếp trong vòng xoáy của Tam Giác Vàng. Thế nhưng Việt Nam lại là hàng xóm, chia sẻ đường biên trực tiếp với nước Lào, một trong ba nước của khu vực Tam Giác Vàng. Thành thử điều không tránh khỏi được là việc thẩm lậu ma túy, đặc biệt là ma túy tổng hợp, vào Việt Nam trải đều cả ba tuyến, đặc biệt là tuyến đường bộ. Báo cáo mới đây nhất của Liên Hiệp Quốc vào tháng 5 vẫn sử dụng các tài liệu của 63 tỉnh thành. Cho nên tôi cũng theo cái thói quen đó tạm thời đề cập đến các tỉnh trước ngày 01/07 năm nay, khi Việt Nam giảm xuống còn 34 tỉnh thành. Tôi lấy ví dụ đường biên giới Việt Nam và Lào, đặc biệt là các cái cửa khẩu Cầu Treo của Hà Tĩnh, Cha Lo của Quảng Bình và Lao Bảo của Quảng Trị, những vùng rất nóng bỏng, hoặc là tuyến Tây Bắc thì có những khu vực đặc biệt nóng bỏng ở Lóng Luông, Mộc Châu, Sơn La, hay là ở Lạng Sơn, vân vân... Các trục đường biên giới giữa Việt Nam và Lào là một trong những điểm nóng mà Cục cảnh sát phòng chống ma túy của Bộ Công an Việt Nam đã đưa vào tầm ngắm không chỉ bây giờ, mà từ rất lâu. Ngoài ra, tuyến biên giới Việt Nam - Cam Bốt cũng vậy. Ở các đường biên giữa hai nước như Tây Ninh, An Giang, Long An, giới buôn ma túy cũng lợi dụng các hoạt động thương mại, du lịch và vận tải đường bộ. Có thể nói rằng trên đường bộ, ngoài các khu vực cửa khẩu mà tôi có nhấn mạnh, với một đường biên giới trải dài tổng cộng hơn 3000 km tiếp giáp giữa Việt Nam, Lào, Cam Bốt, giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì có thể nói rằng có rất nhiều đường mòn, lối mở. Lực lượng bộ đội biên phòng cũng như cảnh sát phòng chống ma túy của Việt Nam mặc dù đã chủ động và đã bố trí nhiều điểm chốt nhưng cũng không xuể được. Có thể nói nguồn nhân lực không thể kham hết được. RFI: Như vậy thì giữa Việt Nam với các nước láng giềng Lào, Cam Bốt, Trung Quốc, các lực lượng thực thi pháp luật có phối hợp với nhau để ngăn chận những đường dây đó? Lương Thanh Hải: Đó cũng là một trong những khía cạnh rất đáng ghi nhận. Nói gì thì nói, việc tăng cường hợp tác song phương và đa phương giữa Việt Nam và các nước láng giềng cũng có những tiến triển nhất định. Điều này đã được Ủy ban phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hiệp Quốc UNODC ghi nhận. Một điểm tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó chính là mô hình hợp tác song phương đường biên, mà chúng tôi hay gọi là Border Liaison Office, tức là việc bố trí song song lực lượng thực thi pháp luật của cả hai nước, bao gồm cảnh sát, biên phòng, hải quan, vân vân. Hai bên sẽ chia sẻ thông tin, kể cả thông tin tình báo, phối hợp các chuyên án để cùng nhau đánh sập các đường dây ma túy thẩm lậu giữa các nước với nhau. Tuy nhiên, thành công trong các chuyên án phối hợp song phương hoặc đa phương cũng chỉ dừng lại góc độ chừng mực nhất định. Việc thực thi pháp luật vẫn đang còn những hạn chế, bởi vì thứ nhất, có sự khác biệt về mặt luật pháp. Đôi khi việc bắt và đánh sập một đường dây ma túy sau đó còn liên quan đến việc truy tố, xét xử và thi hành án, thậm chí là có dẫn độ hay không? Tất cả những câu hỏi đó, những rào cản đó cũng góp phần làm cản trở hiệu quả mang tính chất bền vững trong hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia. Ngoài cái đầu tiên đó là đường mòn, như tôi nói, rất phức tạp, có thể là điểm nóng nhất, thì đường biển cũng vậy. Đặc biệt trong giai đoạn Covid thì hầu hết đường biên giới của các nước đều đóng cả. Chính vì vậy, giai đoạn từ 2021 cho đến 2023 có thể nói là giai đoạn bùng nổ, không chỉ đối với Việt Nam hay ba nước khu vực Tam Giác Vàng, mà kể cả là Úc, Nhật hay Trung Quốc, kể cả Nam Mỹ, tất cả các hoạt động buôn bán vận chuyển trái phép ma túy tổng hợp đều tận dụng đường biển rất nhiều. Cho nên khu vực eo biển nằm ở Vịnh Thái Lan và đi qua eo biển Malacca có thể nói cũng là một trong những đường biển mà Việt Nam cần phải tập trung để hạn chế tối đa. Ngoài đường bộ và đường biển, đường hàng không và bưu kiện có thể nói cũng là một trong những hướng thẩm lậu ma túy nổi lên trong nhiều năm trở lại đây đối với Việt Nam, mà lực lượng thực thi pháp luật cũng đã ít nhiều có những thành công nhất định và đã phá được nhiều chuyên án liên quan vận chuyển trái phép ma túy tổng hợp bằng đường hàng không và bưu kiện vào Việt Nam. RFI: Với lượng bưu kiện nhập vào Việt Nam rất là lớn thì làm sao các cơ quan chức năng có thể kiểm tra để mà phát hiện được ma túy tổng hợp giấu trong những bưu kiện đó? Lương Thanh Hải: Đây là một trong những vấn đề rất là đau đầu và cũng là một trong những cái khó, bởi vì thứ nhất nó liên quan đến chính sách, pháp luật về kiểm soát và giám sát hàng hóa của từng nước. Việt Nam cũng vậy, không tránh khỏi những vướng mắc và khó khăn. Chẳng hạn về phương tiện trang thiết bị cho các lực lượng thực thi pháp luật, không phải cơ quan nào cũng đều được trang bị một cách tối tân nhất như ở các nước phương Tây. Đó cũng là một hạn chế làm giảm thiểu khả năng phát hiện đối với lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam đối với các đối tượng vận chuyển ma túy qua đường hàng không, hoặc là đường bưu kiện. Ngoài ra, những phương thức, thủ đoạn của các đối tượng vận chuyển ngày càng tinh vi hơn, không chỉ là giấu trong vali hay các vật dụng, vân vân. Có nhiều đối tượng còn nuốt vào trong bụng và thậm chí còn phẫu thuật để nhét vào các bộ phận của cơ thể, vân vân... Tất cả những điều đó đặt ra những thách thức và đòi hỏi các lực lượng thực thi pháp luật phải nâng cao hơn nữa trình độ nghiệp vụ, cùng với việc sử dụng phối hợp các trang thiết bị. Hiện nay, đối với Việt Nam thì Cảnh sát Liên bang Úc AFP cũng hỗ trợ rất nhiều cả về vật chất lẫn chương trình đào tạo, hỗ trợ về trang thiết bị. Ở góc độ nhà nghiên cứu và cũng là người thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa lực lượng thực thi pháp luật Úc và Việt Nam, tôi hy vọng trong thời gian tới sẽ có nhiều hỗ trợ về trang thiết bị tối tân hơn. Ví dụ như các máy tia hồng ngoại có thể rà soát các loại chất ma túy qua đường bưu kiện và đường hàng không, hoặc là có thể có các khóa huấn luyện chuyên sâu đặc biệt đối với các detective dog, chó nghiệp vụ, để hỗ trợ Việt Nam trong quá trình điều tra, phát hiện và suy xét các chuyên án ma túy liên quan đến đường hàng không. RFI: Cũng nói về hợp tác giữa Việt Nam với Úc, bây giờ có những đường dây vận chuyển ma túy tổng hợp từ Việt Nam sang Úc, chắc là qua đường hàng không nhiều hơn, hay không? Như vậy hai nước phối hợp như thế nào để ngăn chặn những đường dây đó? Đúng vậy. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung, so với các nước khác, việc vận chuyển từ Việt Nam trực tiếp sang Úc thì số lượng không đáng kể. Theo báo cáo hàng năm của Ủy ban nghiên cứu về tội phạm và ma túy của Úc, hầu hết các đối tượng vận chuyển ma túy tổng hợp từ Việt Nam qua Úc với số lượng vừa phải, nhỏ lẻ. Tức là nếu căn cứ theo định lượng tội danh của khung hình sự thì nó cũng ít nghiêm trọng, chứ không phải là hàng tạ hay hàng tấn, như khối lượng từ Tam Giác Vàng thẩm lậu vào Việt Nam. Các đối tượng vận chuyển như vậy thì rơi vào các nhóm thứ yếu, có thể là những du học sinh, những người lớn tuổi, những người nhẹ dạ cả tin cầm hành lý hộ, vân vân. Tuy nhiên, ở góc độ về thực thi pháp luật, hợp tác giữa Cảnh sát Liên bang Úc AFP và cảnh sát Việt Nam khá chặt chẽ, bởi vì AFP là một trong những lực lượng thực thi pháp luật triển khai khá sớm con người cụ thể ở đại sứ quán ở Hà Nội cũng như lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh . Mô hình thành lập trung tâm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Việt - Úc có thể nói là một trong những mô hình đầu tiên mà một lực lượng cảnh sát ngoài Việt Nam, cụ thể là Úc, phối hợp cùng Tổng cục Cảnh sát trước đây, bây giờ là văn phòng cơ quan điều tra phụ trách. Cả hai bên đã phối hợp và xây dựng và đặt tại trụ sở thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm phòng chống tội phạm xâm quốc gia này hoạt động khá hiệu quả, là nơi trung chuyển, cung cấp, trao đổi thông tin, cả thông tin tình báo lẫn thông tin về các loại tội phạm, đặc biệt là về ma túy, để giúp lực lượng thực thi pháp luật cả hai nước có cơ sở để triển khai các hoạt động phòng chống hiệu quả.
Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 đạt 10% trở lên “để tạo đà, tạo lực, tạo thế cho tăng trưởng hai con số trong những năm tiếp theo, GDP đầu người đạt 5.500 đô la” (1). Đây là hai trong số 15 chỉ tiêu về kinh tế-xã hội trong kế hoạch dự kiến năm 2026 để đạt hai mục tiêu 100 năm đã đề ra : Đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Ngày 19/10/2025, thủ tướng Phạm Minh Chính thừa nhận mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số những năm tới là không dễ đạt được, nhưng không thể không làm. Chính phủ duy trì mức tăng trưởng 8% cho năm 2025 (thấp hơn so với dự báo hồi đầu năm) nhờ vào việc “nền kinh tế Việt Nam đã chứng minh được khả năng phục hồi bất chấp những cú sốc bên ngoài”. Tuy nhiên, các định chế tài chính, ngân hàng quốc tế đưa ra mức thẩm định thấp hơn : từ 6,5% đến 6,7%. Chính phủ xác định phải thay đổi mô hình kinh tế, hiện vẫn dựa vào gia công, nhập khẩu và mô hình tăng trưởng, chủ yếu đến từ vốn, lao động (2). Tuy nhiên, những thay đổi này liệu có thể mang lại kết quả ngay năm 2026 để góp phần cho mục tiêu tăng trưởng 10% ? Tăng trưởng của Việt Nam vẫn phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Mỹ, mức thuế hải quan 20% áp dụng đối với hàng hóa của Việt Nam, cũng như những xáo trộn trên thế giới do thuế đối ứng của Mỹ, sẽ tiếp tục tác động như thế nào đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 ? Ông Hubert Testard, chuyên gia về châu Á và các thách thức kinh tế quốc tế, tổng biên tập báo mạng Asialyst chuyên về châu Á, chia sẻ một số nhận định với RFI Tiếng Việt. RFI : Chính phủ Việt Nam đưa ra dự báo tăng trưởng GDP năm 2025 là 8%. Vào tháng 9, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đưa ra dự báo là khoảng 6,7%, còn Ngân hàng Thế giới là 6,6%, Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 6,5%. Có thể thấy sự khác biệt rất rõ giữa những mức dự báo này. Liệu chúng ta có thể lạc quan về dự báo được chính phủ Việt Nam đưa ra không ? Hubert Testard : Đúng là có sự khác biệt giữa dự báo chính thức của chính phủ Việt Nam, khá là lạc quan cho năm 2025, và dự báo của các tổ chức quốc tế. Sự khác biệt này có thể là do những gì xuất hiện trong báo cáo của các tổ chức quốc tế thường dựa trên dữ liệu chậm hơn ngày công bố từ một đến hai tháng. Ví dụ, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế - IMF vừa công bố báo cáo thường niên vào ngày 15/10, nhưng dữ liệu đối với Việt Nam có lẽ là những dữ liệu dừng lại vào cuối tháng 8. Vấn đề ở chỗ là Việt Nam đã ghi nhận kết quả quý III rất tốt, với mức tăng trưởng hơn 8% một chút. Và đó là lý do khiến chính phủ Việt Nam lạc quan về tăng trưởng cả năm. Nhưng chúng ta biết rằng quý IV sẽ ít khả quan hơn vì áp lực từ thuế quan của Mỹ. Xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong quý I đã rất tốt vì các nhà xuất khẩu lường trước được những vấn đề này và do đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng gần 30% trong nửa đầu năm. Nhưng rõ ràng, giờ đây mọi chuyện không thể như cũ được nữa và sẽ có tác động trong quý IV. Đọc thêmMỹ-Việt công bố tuyên bố chung về thỏa thuận khung thương mại, Hà Nội vẫn chịu mức thuế quan 20% Nhưng vì kết quả quý III rất tốt, tôi nghĩ rằng nhìn chung, kết quả cả năm sẽ không chênh lệch quá nhiều so với dự báo của chính phủ. Tôi nghĩ con số này sẽ tốt hơn so với những gì Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế hoặc Ngân Hàng Thế Giới dự báo trong số liệu chính thức hiện nay của họ. Theo tôi, kết quả sẽ đạt trên 7% trong năm nay. RFI : Ngày 20/10, thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh “kinh tế Việt Nam khẳng định đủ sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài, tăng trưởng cao hàng đầu thế giới”. Liệu điều này có thể giúp đạt được mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026 ? Hubert Testard : Mức 10% vào năm 2026, trái lại, lại quá lạc quan, rất tham vọng. Và theo tôi, có lẽ không thể đạt được đối với Việt Nam, bởi vì bối cảnh quốc tế trong năm 2026 sẽ bớt thuận lợi hơn nhiều. Trước tiên là mức thuế quan trung bình 20% của Mỹ mà ai cũng biết, nhưng cũng phải kể đến nhiều mức thuế đặc biệt khác đối với ô tô, thép, nhôm. Gần đây, còn có một vấn đề khác đối với các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thông báo ngừng xuất khẩu một số mặt hàng vào năm 2026. Tất cả những điểm này sẽ có tác động nhất định. Ngoài ra, bối cảnh chung ở một số nước khác cũng không đặc biệt hơn. Nghĩa là, nhu cầu của Trung Quốc không mạnh lắm, châu Âu đang cố gắng hạn chế dòng hàng nhập khẩu từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc. Vì vậy, bối cảnh quốc tế sẽ kém thuận lợi hơn. Tất cả các tổ chức quốc tế đều dự đoán năm 2026 sẽ có mức tăng trưởng kém hơn một chút so với năm 2025. Vì vậy, việc đạt được 10% trong bối cảnh này, đối với tôi, là không được khả thi lắm. RFI : Ông vừa nhắc đến mức thuế 20% của Mỹ, khả năng thủy sản Việt Nam không được xuất khẩu sang Mỹ năm 2026… những biện pháp này có tác động đến GDP của Việt Nam không trong khi năm 2024, xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm khoảng 30% GDP của Việt Nam ? Hubert Testard : Có, chắc chắn là có. Đã có những đánh giá về tác động này, nhưng chúng ta hãy chờ xem tác động thực sự như thế nào. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc tế - IMF, tác động của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của Mỹ gây thiệt hại ít nhất là khoảng 0,5 đến 0,7% GDP cho Việt Nam. Đó là một cú sốc đáng kể và có thể bù đắp được nếu Việt Nam thúc đẩy nhiều hơn nhu cầu nội địa và đa dạng hóa trao đổi thương mại quốc tế. Tuy nhiên, đây vẫn là một cú sốc tiềm tàng khá mạnh. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) cũng ước tính xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ có thể giảm 20%. Tôi thấy con số này hơi quá. Nhưng rõ ràng là vẫn sẽ có một cú sốc rất lớn, cho nên Việt Nam sẽ phải bù đắp cú sốc này bằng nhiều biện pháp khác nhau trên thị trường nội địa cũng như đa dạng hóa trao đổi thương mại. Đọc thêmViệt Nam : “Bạn” hay “thù” trong chính sách đánh thuế của Trump ? RFI : Mô hình tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đầu tư công và xuất khẩu, chủ yếu từ các nhà đầu tư nước ngoài. Liệu mô hình này có còn phù hợp trong tương lai ? Hubert Testard : Rõ ràng là phải thay đổi mô hình này. Đó là điều mà Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCDE) khuyến nghị trong báo cáo tháng 06/2025 về Việt Nam. Tổ chức này đưa ra một loạt đề xuất để mô hình tăng trưởng của Việt Nam tiến triển. Tôi nghĩ là trong bối cảnh nhu cầu quốc tế sẽ phức tạp, Việt Nam cần phát triển nhu cầu nội địa nhiều hơn hiện tại. Dù sao vẫn có một số điểm tích cực, ví dụ như tiền lương ở Việt Nam đang tăng nhanh hơn so với các nước ASEAN khác. Và đó là một cách tốt để hỗ trợ nhu cầu nội địa. Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề khác, ví dụ, chi tiêu về xã hội rõ ràng là không đủ, đặc biệt là cho người cao tuổi. Cho nên lương hưu, đặc biệt là lương hưu tối thiểu, là một vấn đề. Ngoài ra, chi tiêu cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, cũng không đủ. Chúng ta biết rằng kinh phí mà thanh niên Việt Nam phải trả để học đại học là quá cao, và khiến một bộ phận người trẻ không muốn hoặc không thể theo học. Đó là điều cần phải thay đổi bởi vì Việt Nam ngày càng cần một lực lượng lao động được đào tạo bài bản và có trình độ để đạt được tăng trưởng hiệu quả hơn và hướng tới các công nghệ khác. Đọc thêmĐể duy trì tăng trưởng cao, Việt Nam buộc phải thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân Ngoài ra, còn có một vấn đề tiềm ẩn khác đang bắt đầu nổi lên, đó là tình trạng lão hóa dân số. Hiện nay, những người trên 65 tuổi chiếm 15% dân số Việt Nam, còn khá thấp so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, điều này sẽ thay đổi rất nhanh chóng và sẽ đạt hơn 30% vào năm 2050, đồng nghĩa với việc chi tiêu xã hội cho y tế và hưu trí sẽ tăng đáng kể. Như vậy, chính phủ cần tìm cách tài trợ cho chi tiêu xã hội và làm thay đổi phát triển mô hình xã hội Việt Nam. RFI : Gần đây thiệt hại do thiên tai gây ra ở Việt Nam cũng được đề cập. Theo đánh giá sơ bộ, thiệt hại này chiếm khoảng 2% GDP. Liệu đây có phải là một tác động cần được xem xét cho tăng trưởng ở Việt Nam ? Hubert Testard : Như chúng ta đã biết, biến đổi khí hậu vẫn đang tiếp tục gây ra những tác động, và Việt Nam nằm trong số những nước bị tác động nặng. Chị nhắc đến khoảng 2%, nhưng có khả năng con số này sẽ tăng lên trong những năm tới. Điều đó có nghĩa là, chúng ta không nên kỳ vọng vào việc các cú sốc khí hậu sẽ giảm đi, mà ngược lại sẽ gia tăng. Vì vậy, ở điểm này, Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn để có thể ứng phó với những cú sốc trong tương lai. Ngoài ra còn có một khía cạnh khác, đó là quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam nhằm giảm phát khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Đây cũng là một dự án đầu tư lớn được tiến hành tại Việt Nam. Có thể thấy là có nhiều dự án đã được khởi động, mọi việc tiến triển, nhưng vẫn còn rất xa mục tiêu được đặt ra cho năm 2050. Cho nên chính phủ Việt Nam vẫn còn rất nhiều việc phải làm. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn chuyên gia Hubert Testard, tổng biên tập báo mạng Asialyst chuyên về châu Á. (1) Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng 2026 từ 10%, GDP đầu người đạt 5.500 USD 2/ Chính phủ đặt mục tiêu GDP năm 2026 tăng 10%
Một phần do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng ngập lụt đang trở nên thường xuyên hơn và trầm trọng hơn ở các đô thị lớn của Việt Nam như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh. Hầu như bất cứ cơn mưa lớn nào cũng có thể biến đường phố thành sông hồ, không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến đời sống người dân. Đặc biệt là hai đợt mưa lớn cuối tháng 9 và đầu tháng 10 vừa qua đã khiến Hà Nội bị ngập nước ở rất nhiều điểm, có nơi bị ngập đến vài ngày, khiến giao thông tê liệt. Đâu là những nguyên nhân của tình trạng này? Những giải pháp nào thật sự hiệu quả để giải quyết tận gốc vấn đề? Trong chương trình hôm nay mời quý vị nghe ý kiến của kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ từ Việt Nam. RFI Việt ngữ hôm nay rất vui mừng được tiếp chuyện với kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn để nói về tình trạng ngập lụt tại các đô thị lớn ở Việt Nam hiện nay. Trước hết theo quan sát của ông, tình trạng ngập lụt ở các đô thị hiện nay đang trở nên trầm trọng như thế nào? Tình trạng ngập lụt ở Việt Nam trong hai năm gần đây ngày càng trầm trọng hơn, một phần là do biến đổi khí hậu, bởi vì có những cơn mưa rất lớn, bình thường là cả chục năm mới có một lần, còn bây giờ thì tần suất thường xuyên hơn. Lượng mưa và độ tăng thủy triều trở nên ngày càng thất thường hơn. Đó là ảnh hưởng chung trên cả thế giới. Thứ hai là những khu, đặc biệt là những khu đô thị mới, những khu đang xây nhà cao tầng, khi có mưa lớn thì thường là dễ bị ngập. Vừa rồi Hà Nội cũng có một trận ngập cả thành phố rất lớn, ngay cả sân bay cũng bị ngập. Nói chung là những đô thị lớn tại Việt Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng đều bị ngập và đặc biệt là những khu mới. Mặt khác, do Việt Nam đang có độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới, các đô thị là những nơi đang phát triển rất năng động. Ở những đô thị lớn thì có thể nói gần như con đường nào cũng có một vài công trình gì đó đang mọc lên. Rõ ràng là hệ thống thoát nước không theo kịp với cái đà phát triển đô thị. Tức là ở đây, ngoài yếu tố biến đổi khí hậu, theo ông, vấn đề chính phải chăng là do chúng ta quy hoạch không đúng quy cách? Ở đây cũng không hoàn toàn là do quy hoạch đô thị, mà là do nhiều yếu tố cộng lại. Thứ nhất, việc quy hoạch đô thị thường là có những tiêu chuẩn quy phạm thì mình chưa đổi mới kịp. Những tiêu chuẩn đó chỉ đáp ứng với điều kiện bình thường và khi có những tình huống như vậy, thì rõ ràng là những tiêu chuẩn, tiêu chí để phê duyệt quy hoạch phải được nâng tầm lên, để dự phòng những trường hợp có nguy cơ ngập cực đoan, mình có thể ứng phó với nó. Đó là một phần thôi, nhưng phần khác cũng khá quan trọng: Việt Nam sau này phát triển theo nền kinh tế thị trường rồi, thành ra những dự án phát triển đô thị không phải luôn luôn dùng vốn của nhà nước, mà đa số những dự án đó là dùng nguồn vốn của tư nhân. Có những trường hợp mà nhà đầu tư thiếu trách nhiệm xã hội. Khi phát triển dự án, họ nhắm đến lợi ích cá nhân nhiều, không coi trọng lợi ích của cộng đồng. Ví dụ như trong một bản quy hoạch khu đô thị mới được phê duyệt, người ta vẽ đầy đủ hết: Công viên, có đường xá, có cống rãnh, có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Nhưng khi đi vào thực hiện thì rất nhiều dự án người ta có lẽ muốn thu lợi nhanh, nên nhà cửa xây xong rồi, bán rồi, người dân dọn vô rồi, mà đường xá kết nối chưa xong, cống rãnh chưa xong, hệ thống hạ tầng xã hội, trường học còn thiếu thốn, dịch vụ thương mại còn thiếu rất nhiều thứ. Thứ hai, với những khu đô thị hiện hữu mà đã ổn định rồi, nếu chúng ta giữ nguyên như vậy thì không sao, ví dụ như khu trung tâm quận 1, quận 3 của Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng do trong quá trình phát triển, người ta lại xây dựng rất nhiều nhà cao tầng vào đó. Mật độ xây dựng, mật độ bê tông hóa rõ ràng tăng lên có thể gấp 5, gấp 10 lần. Tuy nhiên, việc nâng cấp cho hệ thống hạ tầng để đảm đương cho mật độ đó lại không được thực hiện đồng bộ. Như vậy là bản thân những khu chỉnh trang cũng gây ngập. Thành phố Hồ Chí Minh sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, trở thành một siêu đô thị rất là lớn, với quy mô diện tích tăng gấp ba, dân số cũng như quy mô kinh tế tăng gấp rưỡi. Việc quản lý một siêu đô thị 14 triệu dân cũng không phải dễ dàng. Chúng ta đang bị động với một quy mô đô thị ngày càng lớn, đô thị hóa ngày càng tăng. Phải có sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, phối hợp giữa công và tư, phối hợp nhà đầu tư và ngay cả với cư dân đô thị. Mọi người đều cần tham gia trong việc chống ngập. Đối với người dân, cũng có những chuyện nhỏ nhưng mà không nhỏ. Ví dụ như một số người dân có thói quen đổ rác vào những chỗ thoát nước, làm nghẹt cống thoát nước, gây ngập và chính bản thân họ cũng là người bị thiệt hại. Thưa ông, ngoài vấn đề ông nêu lên, tức là phải có ý thức của cộng đồng nói chung, của các nhà đầu tư, của người dân, hiện nay cứ mỗi lần mưa lớn một chút là đường phố ngập lụt kéo dài nhiều giờ. Như vậy trước mắt chúng ta có những giải pháp gì về mặt xây dựng, ví dụ như có những cống thoát nước nhiều hơn, lớn hơn hoặc những hồ điều tiết để khi nào mưa lớn thì nước rút nhanh hơn? Đầu tiên, tỷ lệ bê tông hóa của các đô thị rất là cao, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay cao đến mức là tỷ lệ không gian xanh chỉ đạt khoảng nửa mét vuông trên đầu người, trong khi tỷ lệ mà UNESCO đề xuất tối thiểu phải là 10 mét vuông trên đầu người. Những đô thị lớn như Berlin chẳng hạn thì lên tới 40 mét vuông cây xanh trên đầu người và những đô thị khác thì trung bình ít nhất cũng phải 20, 25, 30 mét vuông. Việc đầu tiên đối với các thành phố bị ngập là phải giảm bê tông hóa và tăng không gian xanh. Nói nôm na là mình phải quy hoạch lại để tăng không gian cho nước. Không gian cho nước bao gồm sông, hồ, kênh, rạch phải liên thông với nhau, để thoát nước nhanh. Thứ hai là phải tăng không gian xanh lên, như chúng tôi nói là Thành phố Hồ Chí Minh phải tăng lên ít nhất 20 lần để mà đạt tối thiểu là 10 mét vuông cây xanh trên đầu người. Bí thư mới Trần Lưu Quang cách đây vài ngày cũng vừa có một quyết định rõ ràng là một định hướng mới cho thành phố, đó là về khu đất ven cảng Sài Gòn ngày xưa. Trước đây nhà đầu tư muốn xây một cái bức tường cao ốc ở đây, bởi vì nó có vị trí đẹp, nhìn thẳng ra trung tâm, nhìn ra sông Sài Gòn. Vừa rồi thì bí thư Trần Hữu Quang đã quyết định không cấp phép cho dự án xây cao tầng ở đây nữa, mà biến nó thành một công viên kết hợp với công trình văn hóa cộng cộng. Đây là một quyết định rất là khó khăn, bởi vì người ta hay gọi những khu đất như vậy là đất "vàng" và nhà đầu tư khi đầu tư những dự án lớn như vậy thì họ sẽ đóng góp cho ngân sách cũng không nhỏ. Tuy nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh quá thiếu không gian xanh, nếu như những khu đất này mà không làm thành không gian xanh thì còn ở đâu để làm nữa? Đây rõ ràng là một định hướng rất là bền vững, đáp ứng nhu cầu tăng không gian xanh cho thành phố và tăng không gian văn hóa công cộng cho thành phố. Làm nhiều công viên cũng rất quan trọng ở chỗ là khi mưa xuống mà mình có nhiều diện tích không gian xanh, thì nước từ khu vực cao xuống khu vực thấp sẽ chảy chậm lại, bởi vì không gian xanh làm chậm tốc độ chảy của nước và làm giảm áp lực nước dồn xuống thấp quá nhanh. Mặt khác nó sẽ thu hút được lượng nước bổ sung cho lượng nước ngầm ở dưới, vừa giúp để cho nước hấp thụ xuống dưới và dần dần chảy ra sông. Nó cũng sẽ tránh được tình trạng sụt lún đất, bởi vì khi nước ngầm ở dưới mà bị cạn, thì nó sẽ tạo những túi không khí ở dưới và gây tình trạng sụt lún đất. Thứ hai, việc tăng không gian cho nước là nạo vét sông, hồ, kênh, rạch. Thành phố cũng đang có ý thức là trả lại những con kênh trước đây. Trước đây, vì muốn thúc đẩy phát triển đô thị, người ta lấp kênh và làm cống hộp ở dưới, nhưng sau này, với nguy cơ ngập thì một số nơi đã đào lại con kênh. Không gian hở của kênh hiệu quả hơn rất nhiều so với không gian cống hộp ở dưới. Đây cũng là điều nên làm: xây dựng những hồ điều tiết, có thể là hồ nổi, kết hợp với cảnh quan và cũng có thể là ngầm, để khi mưa lớn thì mình hút nước vào đó và sau đó mưa tạnh thì dần dần nó thoát ra. Điều đó cũng giảm cho nguy cơ ngập. Bên cạnh đó, về mặt quy hoạch, tôi nghĩ là nên có một chính sách quản lý đô thị nhất quán. Trước đây đôi khi mình buông lỏng, để cho có tình trạng người ta xây nhà, xây những cao ốc để bán, nhưng thiếu đường xá, thiếu cống rãnh, thiếu hạ tầng. Bây giờ nên chuyển thành một chiến lược mới là hạ tầng phải đi trước, tức là những nhà đầu tư làm những khu đô thị, dù là chỉnh trang hay xây mới, phải bàn giao hạ tầng đảm bảo thì mới được bắt đầu bán những dự án đó. Mình không để cho trách nhiệm xã hội nhà đầu tư một cách tự giác nữa, mà mình phải đưa nó vào luật, bắt buộc là hạ tầng phải đi trước. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu thành một đô thị khổng lồ. Phải chăng đây là cơ hội để chính quyền địa phương đề ra những giải pháp rộng lớn hơn để giảm bớt tình trạng ngập lụt? Nhìn trên bản đồ, chúng ta cũng thấy là khu nội thành Thành phố Hồ Chí Minh rất là chen chúc, nhìn trên Google Maps nó trắng xóa hết, bê tông hết, không thấy bao nhiêu không gian xanh. Khi đô thị lớn gấp ba thành siêu đô thị thì đây là cơ hội để khuyến khích giãn dân ra, khuyến khích phát triển về phía Bình Dương, là nơi có thể tạo công ăn việc làm về công nghiệp, công nghệ cao, hay là giãn dân về phía biển là chuỗi đô thị Cần Giờ, Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Tràm, những nơi cũng có công ăn việc làm phục vụ du lịch và hiện giờ tỷ lệ bê tông hóa không cao, quỹ đất còn rất nhiều. Khi chúng ta giãn dân ra như vậy, đây cũng là cơ hội để chúng ta nâng tầm chất lượng cho khu nội Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi kỳ vọng là trong 5,10 năm tới, chúng ta sẽ đạt được tiêu chí mà chúng ta đang mong muốn hàng mấy chục năm nay là 10 mét vuông cây xanh trên đầu người. Nó không chỉ giảm ngập mà nó còn giúp nâng cao giá trị của môi trường, tạo cho người dân nhiều không gian để thư giãn, sinh hoạt cộng đồng và cải thiện chất lượng không khí, không bị tiếng ồn. Không gian xanh rất là quan trọng trong việc tổ chức đô thị.
Khoảng 20 chuyến công du đến 20 nước trong vòng hơn một năm giữ chức tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Tô Lâm có lẽ là nhà lãnh đạo đảng công du nước ngoài nhiều nhất. Trong khuôn khổ những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp Đối tác Chiến lược Toàn diện với 6 nước, và Đối tác Chiến lược với 5 nước khác. Dưới thời ông Tô Lâm, Việt Nam đang “quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư. Khi đưa tin về chuyến công du Anh Quốc và Bắc Ireland của ông Tô Lâm, từ 28-30/10/2025, hãng tin Anh Reuters nhận định nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Việt Nam, ông Tô Lâm, đã đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chính sách đối ngoại kể từ khi trở thành tổng bí thư đảng Cộng Sản vào năm ngoái (2024), một nỗ lực trước đây do chủ tịch nước và thủ tướng dẫn đầu. Cho thế giới thấy nhà lãnh đạo thực sự ở Việt Nam Ngay sau khi chính thức được bầu làm tổng bí thư, tại buổi họp báo ngày 03/08/2024, ông Tô Lâm có bài phát biểu “khẳng định kế thừa và phát huy những thành quả cách mạng mà cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và các thế hệ lãnh đạo đi trước đã gây dựng”. Điểm này đang được ông Tô Lâm phát triển mạnh mẽ hơn, theo nhận định của giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales : “Tổng bí thư Tô Lâm đang tận dụng sự lãnh đạo của mình để phát huy di sản của người tiền nhiệm Nguyễn Phú Trọng, người đã chính thức hóa vai trò của tổng bí thư trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Tổng bí thư Trọng đã được lãnh đạo chính phủ Anh và Nhật Bản, hai nền dân chủ tự do, đón tiếp, và được tổng thống Barack Obama tiếp đón tại Nhà Trắng. Ông Trọng cũng đã tiếp đón tổng thống Joe Biden tại Hà Nội”. Theo thông lệ, chuyến công du nước ngoài đầu tiên của tân tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam là đến Lào, sau đó là Cam Bốt và Trung Quốc - nước láng giềng rộng lớn mà ngay vào thời kỳ đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam xác định rõ chính sách đối với Trung Quốc “là phải thân thiện”. Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng tại Đại học Boston, Mỹ, nhận định với RFI Tiếng Việt : “Việc Việt Nam quốc tế hóa vai trò của tổng bí thư thực ra không có gì là bất ngờ. Một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là bảo vệ an ninh của thể chế, và một trong những cách đó là nâng cao vai trò của tổng bí thư trên trường quốc tế. Với các nước chung chí hướng như là Bắc Triều Tiên, Trung Quốc hay Lào thì đây cũng không phải là một sự thay đổi lớn do vai trò của quan hệ kênh Đảng từ lâu đã được khẳng định”. Đọc thêmViệt Nam : Tổng bí thư Tô Lâm thăm Bắc Triều Tiên, dự lễ 80 năm thành lập đảng Lao Động Tiếp theo là hàng loạt vòng công du cho đến cuối năm 2024. Ví dụ, tháng 09/2024, tổng bí thư Tô Lâm đến dự Hội nghị thượng đỉnh Tương Lai, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và làm việc ở Hoa Kỳ. Sau đó, ông công du nước Cuba anh em. Đến đầu tháng 10, ông công du Mông Cổ, tiếp theo là Ireland và Pháp. Đến tháng 11 là Malaysia. Trong những chuyến công du này, Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành Đối tác Chiến lược Toàn Diện với ba nước Mông Cổ, Pháp, Malaysia. Các nước ASEAN mở đầu cho vòng công du năm 2025 của tổng bí thư Tô Lâm. Tháng 03, ông thăm Singapore, Indonesia, nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất với hai nước. Với những hoạt động này, tổng bí thư “đang đảm nhiệm vai trò nhà ngoại giao cấp cao, thường là nhiệm vụ của chủ tịch nước hoặc thủ tướng”, theo ý kiến của giáo sư Zachary Abuza, Đại học Chiến tranh Quốc gia Hoa Kỳ ở Washington : “Bằng cách này, ông Lâm đã khẳng định rõ ràng rằng ông coi chức vụ quyền lực nhất của đảng Cộng sản Việt Nam là chức vụ có chức năng điều hành trong đảng-nhà nước, điều mà những người tiền nhiệm của ông, những người chỉ tập trung vào chính sách và hệ tư tưởng, chưa từng đảm nhiệm”. Trong tháng 05, ông thăm bốn nước thuộc Liên Xô cũ (Kazakhstan, Azerbaijan, Nga, Belarus), nhân chuyến công du theo lời mời dự Ngày Chiến thắng với lễ diễu binh trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva. Ba tháng sau ông thăm Hàn Quốc. Trong tháng 10/2025, ông Tô Lâm công du Bắc Triều Tiên dự lễ kỷ niệm 80 thành lập đảng Lao Động Triều Tiên, sau đó là vòng công du hai nước châu Âu Phần Lan và Bulgari, cuối cùng là Anh Quốc và Bắc Ireland, nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Helsinki và đối tác chiến lược toàn diện với Luân Đôn. Có thể thấy ông Tô Lâm quảng bá mạnh hơn, cho quốc tế thấy rõ hơn hình ảnh và vai trò của tổng bí thư - nhà lãnh đạo trên thực tế của Việt Nam, theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer ngày 28/09 : “Tổng bí thư Tô Lâm đã liên tiếp công du nước ngoài kể từ khi nắm quyền lãnh đạo đảng và đóng vai trò quan trọng trong việc ký kết bảy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới (Úc, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore và Thái Lan). Ông Tô Lâm đang chứng minh rằng vị thế tổng bí thư không chỉ quan trọng đối với các vấn đề đối nội mà còn cả đối ngoại”. Đọc thêmLãnh đạo Việt Nam Tô Lâm đi Mỹ dự Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc Một yếu tố mới, được tiến sĩ Lê Hồng Hiệp nhận định trên trang Fulcrum ngày 02/07/2025, là vai trò của “Đệ nhất phu nhân” định nghĩa lại nền ngoại giao và chính trị Việt Nam. Bà Ngô Phương Ly, “đệ nhất phu nhân trên thực tế, đã mở đường cho việc tăng cường các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam và làm dịu đi hình ảnh của chồng bà” : “Bà Phương Ly, phu nhân của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm, đang nhanh chóng nổi lên như một nhân vật mang lại sự thay đổi trong ngoại giao quốc tế của Việt Nam. Bà tháp tùng ông Tô Lâm trong hầu hết các chuyến thăm nước ngoài và tiếp đón các nhà lãnh đạo nước ngoài tại Việt Nam. Thông qua việc thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa và xã hội với các đối tác nước ngoài, bà đã nâng cao vị thế ngoại giao của Việt Nam và nâng cao hình ảnh của ông Tô Lâm trước công chúng, qua đó góp phần nâng cao vị thế chính trị của ông. Ví dụ, trong chuyến thăm Singapore của ông Tô Lâm vào tháng 03/2025, bà Phương Ly đã tham gia các cuộc thảo luận về các vấn đề văn hóa với bà Loo Tze Lui, phu nhân thủ tướng Singapore Lawrence Wong, và chứng kiến lễ ký kết Biên bản ghi nhớ giữa Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và Nhạc viện Yong Siew Toh của Singapore. Gần đây hơn, trong chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Pháp Emmanuel Macron tháng 05/2025, bà Phương Ly đã tháp tùng bà Brigitte Macron tham quan Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Văn Miếu Quốc Tử Giám, chia sẻ những hiểu biết sâu sắc về di sản văn hóa phong phú của Việt Nam với Đệ nhất phu nhân Pháp”. Đọc thêmQuảng bá hình ảnh Việt Nam qua những chuyến công du của lãnh đạo thế giới Vai trò của tổng bí thư trong “định hình chính sách đối ngoại” Ngoài việc khẳng định quyền lực lãnh đạo thực sự ở Việt Nam, những chuyến công du nước ngoài của ông Tô Lâm, với tần suất dày đặc hơn so với người tiền nhiệm, còn nằm trong định hướng Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, được quy định trong Nghị quyết số 59 (ngày 24/01/2025) và được cổng thông tin Chính phủ nhấn mạnh ngày 16/09 là “quyết sách quan trọng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước”. Một mặt, Nghị quyết đưa ra hướng dẫn củng cố mối quan hệ “hữu nghị truyền thống” lâu đời của Việt Nam với Nga, Cuba, Bắc Triều Tiên. Mặt khác, Nghị quyết cũng cho thấy Việt Nam đang chủ động hơn trong các vấn đề quốc tế. Giáo sư Carl Thayer, Đại học New South Wales, phân tích : Nghị quyết số 59 lưu ý rằng hội nhập quốc tế đòi hỏi “chủ động, tích cực và dũng cảm” để thúc đẩy các mạng lưới đối tác đã được thiết lập, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, củng cố lòng tin chính trị và giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu thông qua hợp tác hòa bình, tất cả đều trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Nghị quyết số 59 cũng củng cố một trong những mục tiêu quan trọng của hội nhập quốc tế - duy trì môi trường hòa bình và ổn định để Việt Nam có thể phát triển kinh tế. Ví dụ chuyến công du Bình Nhưỡng của tổng bí thư Tô Lâm cũng được coi là nhằm trong chiến lược “bảo vệ đất nước từ sớm và từ xa, trước khi đất nước lâm nguy” phù hợp với chủ trương của Nghị quyết số 59, theo nhận định của giáo sư Carl Thayer : “Nếu ông Tô Lâm đến thăm Bình Nhưỡng, ông có thể sẽ tìm hiểu xem Việt Nam có thể đóng vai trò ngoại giao và chính trị nào trong bất kỳ tiến trình hòa bình nào trên bán đảo Triều Tiên. Việt Nam có lợi ích thiết yếu trong việc duy trì ổn định trên bán đảo Triều Tiên. Bất kỳ sự suy giảm nào trong hiện trạng, dẫn đến đối đầu giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc với Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Nga, sẽ đẩy Việt Nam ra ngoài lề và gây khó khăn cho quan hệ với các cường quốc”. Đọc thêmTổng bí thư đảng Cộng Sản, chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm công du Mông Cổ, Ireland và Pháp Trong số 5 quan điểm chỉ đạo về hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh được coi là một trong những trụ cột và là “một nội dung rất quan trọng”, theo phát biểu ngày 16/09 của ông Lê Hoài Trung, lúc đó là quyền ngoại trưởng. Ngoài ra, Việt Nam “chuyển từ xin nhận, gia nhập, tham gia sang chủ động đóng góp và xây dựng, định hình và sẵn sàng đóng góp có trách nhiệm vào công việc chung của cộng động quốc tế”. Sự kiện Hà Nội đăng cai tổ chức Lễ mở ký Công ước Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng ngày 25/10/2025, được Việt Nam coi là “dấu mốc lịch sử không chỉ với cộng đồng quốc tế mà còn khẳng định vai trò vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”. Trang VnExpress đưa tin “các nước đánh giá cao vai trò lãnh đạo, dẫn dắt của Việt Nam thông qua sáng kiến đăng cai Lễ mở ký”. Nhân dịp này, tổng bí thư Tô Lâm đã tiếp tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres. Cho dù “hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân” nhưng được thực hiện “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước”. Trong tiến trình này, tổng bí thư không chỉ còn muốn đứng đầu đảng, giữ vai trò về tư tưởng, mà là một nhà lãnh đạo cao nhất đất nước. Hình ảnh mới này đang được ông Tô Lâm làm cho các đối tác phương Tây quen dần, theo nhận định của tiến sĩ Vũ Khang, Đại học Boston : Đối với các đối tác phương Tây, Việt Nam đã đặt các đối tác phương Tây vào vị trí phải công nhận tính chính danh và sự ngang hàng của vị trí tổng bí thư với các vị trí nguyên thủ quốc gia qua các cuộc gặp cấp cao.
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến vừa cho ra mắt cuốn sách mới về lịch sử Sài Gòn, thành phố mà sự hình thành và phát triển vẫn gắn liền với con sông Sài Gòn và cả một hệ thống kênh rạch. Cuốn sách tựa đề Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước đưa độc giả trở về cội nguồn của Sài Gòn, từ lâu đã là nơi buôn bán phồn thịnh nhờ thế mạnh sông nước, từng là thủ đô Liên Bang Đông Dương, rồi Quốc Gia Việt Nam, từng được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Ngoài cuốn sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước, Trần Hữu Phúc Tiến còn là tác giả của những cuốn sách khác về Sài Gòn và Đông Dương xưa, như Sài Gòn không phải ngày hôm qua ( 2016 ), Sài Gòn hai đầu thế kỷ ( 2017 ), Kiến trúc Pháp-Đông Dương, những viên ngọc quý tại Hà Nội ( 2021 ), Du lịch Đông Dương xưa ( 2224 ), Kiến trúc Pháp Đông Dương, dấu tích Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông ( 2025 ). Sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước, do Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, ấn hành, bao gồm 3 chương và phần phụ lục, với hơn 312 trang. Phần mở đầu trích dẫn các nhận xét của người xưa trong và ngoài nước từ về vẻ đẹp cảng thị và phố thị của Sài Gòn. Sách giới thiệu nhiều hình ảnh, bản đồ tư liệu sưu tầm công phu từ nhiều nguồn, trong đó có hình ảnh do tác giả chụp ở nhiều năm tháng khác nhau. Tác giả là người sinh trưởng tại Sài Gòn, thuở nhỏ đã thấy thành phố nguy nga lớn mạnh bên sông biển, kinh rạch. Lớn lên được học Sử và làm báo, tác giả có thêm cơ hội học hỏi các thời kỳ phát triển của thành phố, đồng thời khám phá các chốn phố phường, chợ búa, bến tàu, học đường và nhiều công trình di sản. Theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, "dòng sông Sài Gòn không phải là dòng sông khuất nẻo mà là dòng sông vươn ra biển lớn, dòng sông sinh thành cảng thị và phố thị đông vui, thu hút tinh hoa xa gần". Công sức lớn lao của người Việt từ thế kỷ 17 đến nay đã làm nên Sài Gòn, một kinh đô lịch lãm và kiều diễm. Thông qua nhiều chi tiết cụ thể, cuốn sách Sài Gòn Kinh Đô Sông Nước điểm lại quá trình hình thành các thế mạnh của Sài Gòn từ sông biển, địa linh, nhân kiệt, đến kinh tế, dịch vụ, công nghiệp, đào tạo. Đặc biệt với sự mở rộng của thành phố, tác giả chú trọng giới thiệu các tiềm năng về kinh tế biển và kinh tế di sản. Thế nhưng, giống như nhiều đô thị lớn đang trong cơn sốt bùng nổ dân cư và kinh tế, thành phố này cũng đang đối mặt với biến đổi khí hậu, ô nhiễm, lũ lụt, đòi hỏi nhà nước phải có những giải pháp cấp bách cũng như dài hạn. Trả lời RFI Việt ngữ nhân dịp sang Paris để giới thiệu sách của ông, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến trước hết cho biết, từ trước khi được người Pháp xây dựng thành một thành phố hiện đại, Sài Gòn đã là một chốn phồn hoa đô hội: “Sài Gòn Kinh Đô có nghĩa là Sài Gòn trong lịch sử đã từng là thủ đô, là thủ phủ, là trung tâm không chỉ của Nam Bộ, mà là của cả nước. Kinh Đô Sông Nước có nghĩa là một đại cảng thị, một đại phố thị lớn mạnh bên dòng sông Sài Gòn và đặc biệt vị trí của Sài Gòn là rất gần biển và nối kết với khu vực miền Đông Nam Bộ, cũng như miền Tây Nam Bộ, nối kết với miền Nam Đông Dương, rồi ra biển để đi đến với thế giới. Thật sự là từ thế kỷ 17, với công sức của người Việt Nam khai phá các miền đất mới, vai trò của Sài Gòn như là một trung tâm kinh tế, giao thương, phồn hoa đô thị rất là lớn. Trước khi người Pháp đến, Sài Gòn đã được hình thành như một trung tâm lớn và đặc biệt là từ 1788 - 1790, Sài Gòn đã được Chúa Nguyễn Ánh, sau này là Vua Gia Long, đặt tên là Gia Định Kinh, có nghĩa là Kinh Đô Gia Định. Ngay vào thời điểm đó thì một số chuyên gia Pháp đã giúp Nguyễn Ánh - Gia Long thiết kế Sài Gòn như là một thành phố kết hợp yếu tố phương Đông với yếu tố phương Tây, đặc biệt là coi trọng vị trí cảng thị của Sài Gòn. Khi vào xâm chiếm Việt Nam, người Pháp đã hiện đại hóa Sài Gòn kế thừa những sự phát triển sẵn có của Gia Định Kinh và người Pháp tổ chức những quy hoạch xây dựng rất là bài bản, rất là chuyên nghiệp, để thành phố này không những là một trung tâm về giao thương, mà đặc biệt còn là một trung tâm về giao thông và dịch vụ.” Vậy thì từ bao giờ thành phố Sài Gòn bắt đầu được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhà nghiên cứu Phúc Tiến giải thích: “Theo chúng tôi tìm hiểu, lúc đó người Pháp coi như là chỉ mới quản trị chủ yếu là phần Nam Bộ, Nam Kỳ, sau này họ mới phát triển ra toàn miền Bắc, rồi cả Đông Dương. Nhưng lúc đó họ đã đặt kế hoạch phát triển kinh tế, trong đó vấn đề giao thông có một mũi nhọn trên thế giới lúc đó cũng bắt đầu phát triển lớn mạnh đó là đường sắt. Vào năm 1881, thị trưởng Pháp của Sài Gòn Jules Blancsubé khi trả lời báo chí đã nói rằng người Pháp muốn phát triển hệ thống đường sắt xuyên Đông Dương từ Sài Gòn ra đến miền Bắc và đi đến đến Nam Trung Hoa, rồi có thể mở ra phía Lào, phía Cam Bốt, rồi các nước Đông Nam Á lục địa. Nếu hệ thống đường sắt này mà được hình thành thành công, thì Sài Gòn, với cảng Sài Gòn, sẽ có thêm vị trí quan trọng, có nghĩa là hàng hóa của nguyên khu vực Nam Trung Quốc và khu khu vực Đông Nam Á sẽ đổ về cảng Sài Gòn để mà xuất khẩu đi các nước. Ngược lại thì những hàng hóa từ các nước cũng từ Sài Gòn theo đường sắt, đường bộ, đường sông để mà ra với các nước trong khu vực. Và do vậy, ông nói, lúc đó Sài Gòn sẽ trở thành một Hòn Ngọc Viễn Đông. Tôi cho rằng là lời tiên đoán đó vào năm 1881 thực sự đã thể hiện một chiến lược quy hoạch kinh tế lớn lao và người Pháp lúc đó đã nhìn thấy được thế mạnh sông nước của Sài Gòn. Sau này, sang đầu thế kỷ 20, chúng ta thấy không chỉ có đường sắt, mà đường hàng không cũng phát triển và bây giờ nhìn toàn cục thì chúng ta có thể thấy là chữ Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông đã được mở rộng từ vấn đề kinh tế sang vấn đề kiến trúc, văn hóa, giáo dục, con người. Bây giờ thì từ Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông sang thế kỷ 20, sang thời kỳ trước 75, đã trở thành một tên gọi thân yêu để cho thấy một thành phố không những đẹp về mặt mỹ quan, đẹp về sự duyên dáng, yếu tố Đông Tây kết hợp, mà còn đẹp vì thế mạnh của nó, về kinh tế, đẹp về tinh thần cởi mở hội nhập quốc tế. Từ thời còn là Kinh Đô Gia Định ( 1789-1802 ), Thủ đô Liên bang Đông Dương ( 1887-1902 ), cho đến Thủ đô Quốc gia Việt Nam ( 1949-1955 ) và thủ đô Việt Nam Cộng Hòa ( 1955-1975 ), Sài Gòn luôn luôn là “đầu máy hùng mạnh” về nhiều mặt của cả nước, không chỉ về kinh tế, mà còn tiên phong cả về văn hóa - xã hội trong nhiều thời kỳ, theo ghi nhận của tác giả Trần Hữu Phúc Tiến. Đó chính là nhờ thế mạnh về sông nước của thành phố này: “Ngược dòng lịch sử thì chúng ta biết sông Đồng Nai là một hệ thống sông rất lớn, song song với hệ thống sông Tiền và sông Hậu, tức là hệ thống sông Mekong. Hai hệ thống sông này lại có một cầu nối là Sài Gòn. Hay nói cách khác là giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ thì Sài Gòn lúc nào cũng nằm ở trung điểm và Sài Gòn lại được xây dựng bên dòng sông Sài Gòn, một chi lưu của hệ thống sông Đồng Nai. Có thể có gần 200 km bắt đầu từ Tây Ninh rồi đi qua Bình Dương, đi qua Đồng Nai rồi xuống Sài Gòn để thoát ra được cửa biển. Trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, đoạn sông đó đi qua diện tích lãnh thổ của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh hơn 80 cây số. Và điều rất quan trọng là nó đi ra cửa biển Cần Giờ. Cửa biển Cần Giờ là khoảng hơn 20 cây số bờ biển. Nhưng sau ngày 1 tháng 7 năm 2025, với sự hợp nhất Sài Gòn với Bình Dương và Vũng Tàu - Bà Rịa, thế mạnh sông biển của Sài Gòn gia tăng rất lớn. Chỉ tính riêng về bờ biển thì bây giờ Sài Gòn có gần 400 km bờ biển và đặc biệt là có Côn Đảo bây giờ thuộc về siêu đô thị này. Và thêm nữa là hơn 100.000 km2 thềm lục địa, mà chúng ta biết là về thềm lục địa Biển Đông, trong ngành dầu khí họ nói là có hai vùng trũng là vùng Nam Côn Sơn và vùng Mekong, thì Sài Gòn nằm rất gần khu vực gọi là Nam Côn Sơn. Thế thì riêng về mặt kinh tế biển, thành phố đã phát triển. Đương nhiên người Pháp khi đến Việt Nam năm 1858, với tầm nhìn của một đế chế công nghiệp, họ nhận ra tài nguyên của Sài Gòn không phải là hàng hóa, mà là vị trí thuận lợi để giao thương kết nối được nhiều miền. Đặc biệt họ đưa ra tầm nhìn là Sài Gòn thuộc về khu vực Nam Đông Dương, nói cách khác chính là Đông Nam Á. Tôi còn nhớ là trong nhật ký của một sĩ quan Pháp tham gia trận đánh vào Sài Gòn năm 1859, ông này có ghi rằng vị trí Sài Gòn không khác gì Batavia, nay là Jakarta của Indonesia, như là Singapore hay là Hồng Kông và nó có những điểm độc đáo riêng. Chính vì vậy, theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, một trong những mũi nhọn kinh tế mà người Pháp xây dựng ở Sài Gòn không phải là công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất hàng hóa, mà điều rất quan trọng là dịch vụ. Trong quyển sách, tác giả kể ra đến 6 ngành, gọi là 6 “cổ máy không khói” của Sài Gòn từ thời Pháp: Thứ nhất là hàng hải, bao gồm sửa chữa tàu biển và hải cảng. Thế mạnh thứ hai là giao thương, tổ chức thương mại, chế biến nông sản để xuất ra nước ngoài. Thứ ba là một trung tâm tài chính, vì đương nhiên là xuất khẩu thì phải cần có sự trợ giúp của ngân hàng, bảo lãnh tín dụng, vân vân…Ngay từ cuối thế kỷ 19, Sài Gòn đã là một trung tâm tài chính, với khá nhiều ngân hàng quốc tế cũng như các hãng bảo hiểm đóng tại Sài Gòn và hình thành một khu phố tài chính. Thế mạnh thứ tư là về viễn thông. Ngay trung tâm thành phố, ngay bên cạnh nhà thờ Đức Bà, có nhà bưu điện rất lớn, rất đẹp và đã được coi là kiến trúc nhà bưu điện đẹp thứ hai trên thế giới. Thế mạnh viễn thông của Sài Gòn thì phải nói rất là sớm. Năm 1865, 1870, người Pháp đã bắt đầu thiết lập đường điện tín cáp quang để liên thông giữa Sài Gòn với Paris, nối cáp dưới dưới biển đi qua Singapore và sau đó làm đường ngược lên Hồng Kông để liên thông với cả khu vực châu Mỹ. Kế đến là hệ thống giao thông vận tải, Sài Gòn có đủ phương tiện, từ đường bộ, đường sắt, rồi đường biển, đường thủy. Cái độc đáo của Sài Gòn lúc đó là người Pháp đã tổ chức những đội tàu, không những đi dọc theo bờ biển để đi ra Hải Phòng, đi ra phía Bắc, mà còn làm hệ thống tàu thuyền để chở khách đi khắp đồng bằng sông Cửu Long, rồi đi lên được cả Phnom Penh, thậm chí là đến được cả Bangkok. Ngay cả bây giờ, đường thủy lên Phnom Penh và đường thủy lên Bangkok, chúng ta vẫn chưa thực hiện lại được đ



