Discover
Tạp chí kinh tế
254 Episodes
Reverse
Trái với các dự báo, kinh tế Mỹ không sụp đổ, chỉ số chứng khoán tiếp tục tăng thêm. Riêng có chính sách mạnh tay trục xuất người nhập cư của chính quyền Trump trong năm đầu nhiệm kỳ 2 ảnh hưởng nhiều đến đời sống kinh tế của cộng đồng người Việt tại California. Từ đầu 2026, phí tổn về y tế sẽ là một gánh nặng mới đối với thành phần có thu nhập thấp. RFI tiếng Việt phỏng vấn nhà bình luận Nguyễn Kim Bình đài Little Saigon TV. 1 tỷ đô la cho mỗi « vé vào cửa » 365 ngày để thay đổi cục diện của thế giới và của chính nước Mỹ. Về đối ngoại, tổng thống Hoa Kỳ thứ 47 đang theo đuổi tham vọng chiếm đoạt Groenland từ tay Đan Mạch, kể cả bằng sức mạnh quân sự. Sáng kiến mới nhất của chủ nhân Nhà Trắng là thành lập Hội đồng Hòa bình, mà theo các tiết lộ ban đầu, đây sẽ là một cơ chế để thay thế Liên Hiệp Quốc với một khác biệt quan trọng là các bên tham gia phải chi ra một tỷ đô la để được công nhận là thành viên thường trực. Gần như hàng tháng, Washington sử dụng lại đòn thuế quan để dọa nạt các đối thủ cũng như đối tác hay đồng minh của Hoa Kỳ. Đời sống chính trị văn hóa, xã hội của khoảng 350 triệu người dân Mỹ cũng đã có nhiều thay đổi : Hơn 300.000 nhân viên làm việc cho chính phủ Liên Bang đã không còn tại chức. Một số cơ quan Nhà nước đã bị giải thể hoặc đã được tổ chức lại. Bộ Quốc Phòng Mỹ đã đổi tên thành bộ Chiến Tranh, một số trung tâm văn hóa ở thủ đô Washington đã được gắn thêm tên của tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm. Tháng 11/2024 ứng viên tổng thống Donald Trump đắc cử với lời hứa tiến hành « một đợt trục xuất quy mô nhất trong lịch sử Hoa Kỳ ». Chính phủ huy động đặc vụ di trú ICE đến tận trường học, nhà thờ, nhà máy đến các nông trại để săn lùng người nhập cư không có giấy tờ hợp lệ … Chính sách di trú trong một năm qua của chính quyền Trump ảnh hưởng nhiều đến đời sống, đến các sinh hoạt kinh tế của người dân Việt Nam tại bang California, cho dù là trái với các dự báo, kinh tế Hoa Kỳ hoàn toàn không sụp đổ vì các đòn « thuế hải quan », kể cả ở mức nặng nhất và với các đối tác thương mại quan trọng nhất của Mỹ. Chỉ số chứng khoán vẫn rất ổn định kể từ khi ông Trump nhậm chức cách nay đúng một năm. Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà bình luận Nguyễn Kim Bình, của đài truyền hình Little Saigon TV nhấn mạnh đến hai tốc độ của cùng một nền kinh tế Hoa Kỳ. Là một tiếng nói quen thuộc của chương trình « Tin Nổi Bật » Little Saigon TV, ông Bình đặc biệt nhấn mạnh đến những thay đổi trong trong cộng đồng người Việt ở Mỹ trong năm qua, với một khác biệt lớn giữa thành phần khá giả với những người có thu nhập thấp. Giới tiểu thương trông cậy vào nguồn lực lao động nhập cư gặp nhiều khó khăn. RFI : Xin kính chào ông Nguyễn Kim Bình, cảm ơn ông nhận tham gia chương trình Việt ngữ của Đài phát thanh Quốc tế Pháp. Thưa câu hỏi đầu tiên, trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ Trump 2, đời sống của người Việt tại Hoa Kỳ có những thay đổi nào ? Nguyễn Kim Bình : Phải nói 2025 là một năm lạ kỳ. Có vẻ như là có hai nền kinh tế song song với nhau. Đối với thành phần khá giả, cụ thể là ví dụ như gia đình có hai người đi làm và có thu nhập trung bình một năm là khoảng trên 100.000 - những chuyên gia..., thì cuộc sống thoải mái. Các công ty kỹ thuật cao vẫn phát triển, không sa thải người hàng loạt giống như là những cái cuộc suy thoái kinh tế lớn trước đây. Giới có thu nhập cao và đã có một cái nền tảng vững - nhất là đã mua nhà,thì cảm thấy mỗi lúc họ mỗi giàu lên vì giá nhà tăng lên trong năm vừa rồi. Tương tự như vậy là những người đã đầu tư tiết kiệm trong thị trường cổ phiếu chẳng hạn thì thấy tài sản đó đã tăng lên : cuộc sống sung túc hơn. Trái lại, những người mà không có tài sản- đây là những người chưa mua được nhà, những người trẻ mới đi làm hoặc là những người mới sang Mỹ gia đình thu nhập thấp thì đời sống chật vật hơn. Đối với thành phần này thì họ không có tài sản và đời sống khó khăn hơn. Ngoài ra, giá nhà vẫn tăng lên, giá bảo hiểm, nhà, bảo hiểm, sức khỏe, nói chung là các loại bảo hiểm đều tăng. Có lẽ một cái tin vui nhất thôi là vào cuối năm 2025 giá xăng bắt đầu giảm : giảm khoảng chừng gần 20%o ở vùng California. Ngoài ra thì những nhu cầu hàng ngày (thực phẩm, thức ăn, tiền bảo hiểm y tế...) và vật giá nói chung không có tăng mạnh như thời Covid nhưng cũng không giảm chút nào. RFI : Báo chí nước ngoài thường chú ý đến chỉ số lạm phát, vậy cụ thể, giá một bát phở chẳng hạn ở khu Little Saigon trong 12 tháng qua có đắt hơn so với trước hay không ? Nguyễn Kim Bình : Dạ câu hỏi rất cụ thể : Và món mà mỗi người đều để ý không chỉ là một tô phở mà gần như là mì, hủ tiếu hay là một đĩa cơm tấm... trung bình vẫn là khoảng 15 đô la . Ngay cả những món mà bình dân hơn như là bánh mì hay là bánh bao, cà phê ... thì giá cả có tăng chút đỉnh chứ không thể giảm được chút nào. RFI : Trên thị trường lao động, hiện tại có dễ tìm việc làm ở Mỹ hay không ? Nguyễn Kim Bình : Tỷ lệ thất nghiệp mới nhất hiện giờ là 4,4% (tháng 12/2025). Tức là tương đối cao so với lại thời điểm thuận lợi nhất, tức là khi tỷ lệ thất nghiệp chỉ chừng 3,5%. Một cách cụ thể số người mất việc thì chưa có nhiều, nhưng mà những người mà đã lỡ mất việc thì khó tìm việc hơn so với 3 năm trước. Có lẽ hai cái ngành mà nó có ảnh hưởng nhiều nhất đó là ngành xây cất và cái ngành dịch vụ mà người Việt Nam mình vẫn khống chế lâu nay, đó là các tiệmlàm móng tay. Trong ngành xây cất vì lượng lao động chính trong ngành xây cất là những người Mễ và có lẽ đa số là những người Mễ mà không có giấy tờ. Cho nên bây giờ lượng đó hiếm lắm và nhờ vậy mà lại tạo ra cơ hội cho những người Việt Nam. Ngược lại những ông chủ Việt tuyển dụng lao động là người Mễ thì gặp khó khăn và mất đi một nguồn nhân công quan trọng. Bây giờ mà muốn thuê một người Mễ đi cắt cỏ thì giá lương tăng lên gấp rưỡi. RFI : Còn về bảo hiểm y tế ? Nguyễn Kim Bình : Người Việt Nam ở đây ngoài những người khá giả tự lo bảo hiểm y tế thì có hai trường hợp. Những người mà thu nhập thấp lâu nay họ đã được chăm sóc miễn phí cquachương trình Medicaid. Những người này cho đến bây giờ vẫn chưa có bị ảnh hưởng trực tiếp. Qua năm mới 2026 có những cái điều kiện đi kèm để được trợ cấp y tế. Thí dụ như những người nào mà không có con nhỏ thì sẽ phải đi làm chứ không có ngồi nhà mà hưởng được cái bảo hiểm y tế miễn phí đó được. Thành phần thứ nhì sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn là những người mà thu nhập vừa phải thôi, chưa phải là khá giả nhưng mà cũng không còn nghèo. Thành ra họ không được bảo hiểm miễn phí đó mà sẽ phải mua bảo hiểm qua chương trình của chính phủ trợ giá mà người ta vẫn gọi là ObamaCare . Số này họ sẽ bị ảnh hưởng nhiều là vì theo cái quy định mới mà hiện giờ vẫn còn đang tranh cãi ở Quốc Hội. Nếu không đạt được một giải pháp vào cuối tháng này thì khoản trợ giá cho những trường hợp đó nó không còn nữa, Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến trường hợp những gia đình bốn người mà có thu nhập khoảng chừng 50 hay là 60 ngàn. Ở California này thì mức thu nhập năm 60 ngàn đô la một năm nó cũng vừa đủ sống thôi. Số này sẽ phải mua bảo hiểm sức khỏe cho gia đình và có lẽ sẽ phải trả thêm cả ngàn đô la một tháng. RFI : Các biện pháp bố ráp người nhập cư trái phép cứng rắn trong năm vừa qua, đã có những tác động cụ thể nào đến đời sống kinh tế của người Việt ở California, khi biết rằng không ít các nhà hàng, các siêu thị của người Việt, của người Châu Á sử dụng lao động nước ngoài… Nguyễn Kim Bình : Đối với những người Việt đã định cư ở Mỹ ở lâu rồi thì thật sự là có vẻ dửng dưng với chuyện này. Có thể thấy là hầu hết những người mà đã từng ủng hộ ông Trump trong cuộc bầu cử 2024 thì họ không có gì phải lo. Rất ít người phản đối chính sách di trú. Đối với những người mà chưa vào quốc tịch, thì có lo chứ không phải không. Những có những người đang có thẻ xanh, họ không dám đi về Việt Nam vì họ sợ khó quay trở lại. Lỡ mà có gì trục trặc ở phi trường thì không biết hậu quả như thế nào. Tuy là họ không có một cái tiền án nào hết ở Mỹ. Trong trường hợp thứ hai là những người Việt Nam đã định cư ở Mỹ nhiều năm rồi - phần lớn họ là những người đến Mỹ trong lúc trẻ và họ lỡ phạm một cái tiền án. Họ đã thi hành án nhưng đó là một tì vết, khó vào quốc tịch trong nhiều năm. Những trường hợp này bị ảnh hưởng nhiều. (...) Rất nhiều người Việt Nam lúc ban đầu cứ nghĩ ra cái những các đợt càn quét nhắm vào người nhập cư chỉ ảnh hưởng đến người di dân lậu thôi. Đặc biệt là những người gốc Hispanic tại vì họ là cái số đối tượng lớn nhất. Thành ra người Việt Nam mà lúc đầu có vẻ dửng dưng. Có rất nhiều người cũng có vẻ dửng dưng nghĩ là đây là cái cách mà Mỹ sẽ giải quyết chuyện nội bộ của Mỹ thôi và không ảnh hưởng gì đến Việt Nam mình. Nhưng sau một năm thì mới khám phá là cái cuộc sống và nền kinh tế giữa hai cái cộng đồng gắn kết chặt chẽ vào nhau. Chỉ riêng ở vùng Orange County cộng đồng người Trung Mỹ chiếm khoảng 30% dân số. Gần như là trong tất cả các nhà hàng ở Little Saigon Snếu mình đi vào trong bếp á mình sẽ thấy những người Mễ làm việc ở trong. Và nhờ vậy mà thức ăn đây vẫn rẻ hơn ở những nơi khác trên nước Mỹ. Cho nên người Việt Nam mình lâu nay mình vẫn hưởng được cái lợi đó. Gần như tất cả mọi căn nhà ở vùng này từ cái sân trước cửa cho đến cái vườn sau đều có một bàn tay của người công nhân người Mễ. Có khi họ dựng lên từ đầu luôn. Trong ngành xây dựng ở đây, chủ là Việt Nam nhưng mà người Mễ là công nhân xây dựng. Không còn nguồn lao động này nữa người ta mới thấy ảnh hưởng đến kinh tế của người Việt Nam. Đó là mặt cung. Còn ở mặt cầu, vắng người Mễ rồi mới hiểu. Ví dụ như những tiệm làm móng tay, có những tiệm thì họ phục vụ cho khách sang ở những cái vùng thành phố sang. Có rất nhiều tiệm họ phục vụ cho khách bình dân ở những khu vực mà có đông cư dân người Mễ. Và một năm vừa rồi lúc mà người Mễ họ bắt đầu họ bị trục xuất. Ngay cả những người nào không bị trục xuất , họ cũng không dám ra đường. Và họ có ra đường thì họ cũng để dành tiền cho những khoản chi tiêu thiết yếu. Cho nên các cửa hàng của người Việt bị mất đi một cái lượng khách lớn. RFI : Xin chân thành cảm ơn nhà bình luận Nguyễn Kim Bình, đài Litt
Mỹ là mẫu số chung của nhiều biến cố xảy ra trên thị trường dầu hỏa thế giới trong một chục ngày đầu năm 2026 : Can thiệp quân sự và kiểm soát xuất khẩu dầu hỏa của Venezuela ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của Bắc Kinh. Là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng khác của Trung Quốc, Iran bị Hoa Kỳ đe dọa nếu đàn áp người biểu tình. Hải quân Mỹ bắt giữ một tàu chở dầu mang cờ Nga làm dấy lên lo ngại về một « cuộc chiến dầu hỏa » giữa hai nhà sản xuất và xuất khẩu nặng ký của thế giới. Tổng thống Donald Trump đang tính toán những gì chưa đầy một năm đến kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ ? Sau các đòn « trừng phạt », và « thuế quan » đến lượt dầu hỏa trở thành công cụ phục vụ lợi ích an ninh và địa chính trị của nước Mỹ ? Sau nhiều tháng chuẩn bị, Mỹ đã can thiệp quân sự vào Venezuela. Ngay sau đó tổng thống Donald Trump thông báo chính quyền mới tại Caracas đã chuyển nhượng từ 30 triệu đến 50 triệu thùng dầu cho Hoa Kỳ, mở thêm van dầu cho dân Mỹ. Ông Trump cũng khẳng định Hoa Kỳ đã « lập tức » kiểm soát các hoạt động xuất khẩu dầu hỏa, chiếm 90 % tổng kim ngạch xuất khẩu của Venezuela và Washington « sẽ tiếp tục cung cấp dầu của Venezuela cho Trung Quốc ». Mục đích đối nội trước bầu cử giữa nhiệm kỳ Báo tài chính The Wall Street Journal tiết lộ tổng thống Hoa Kỳ muốn giữ giá dầu ở ngưỡng 50 đô la một thùng, thay vì từ 60 đến 65 đô la một thùng như hiện tại. Lý do tháng 11/2026 cử tri Mỹ được kêu gọi bầu lại 35 thượng nghị sĩ và 435 dân biểu ở Hạ Viện. Bầu cử giữa nhiệm kỳ sau gần 2 năm cầm quyền là một « cuộc hẹn » quan trọng đối với mỗi tổng thống Hoa Kỳ, Donald Trump không là một ngoại lệ. Trong một năm qua, giá 1 gallon xăng tại Mỹ đã giảm 8 % và đây là dấu hiệu rõ rệt nhất giảm chi phí sinh hoạt tại Mỹ và cũng là một " phương tiện hiệu quả để chinh phục lá phiếu cử tri trước bầu cử giữa nhiệm kỳ (mid-term)". Đối với các nhà sản xuất của Mỹ, cái giá 50 đô la một thùng dầu cũng được coi là ngưỡng « có thể chấp nhận được » họ vẫn có lãi để tiếp tục khai thác. Ngay sau chiến dịch quân sự tại Venezuela, Donald Trump đã lập tức khuyến khích các tập đoàn dầu hỏa Hoa Kỳ đầu tư vào quốc gia Nam Mỹ này. Trả lời báo Le Figaro, chuyên gia về dầu hỏa, Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp nhấn mạnh không là yếu tố duy nhất, nhưng dầu hỏa là một chìa khóa trong quyết định của tổng thống Trump về Venezuela : « Donald Trump rất rõ ràng và đã nhanh chóng hành động : chỉ trong vài ngày, Mỹ hoàn toàn làm chủ nguồn xuất khẩu dầu hỏa của Venezuela. Dầu hỏa ở đây là một trong những lý do thôi thúc Washington can thiệp vào quốc gia Nam Mỹ này, bên cạnh những vấn đề như là ma túy, nhập cư, hay tư tưởng chính trị của Caracas và nhất là những liên hệ giữa Venezuela với Trung Quốc cũng như với Iran ». Cũng tổng thống Trump kêu gọi các tập đoàn Mỹ mạnh dạn đầu tư vào Venezuela. Tuy là một trong những mỏ dầu tiềm năng nhất của thế giới và từng là một thành viên sáng lập của khối các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa, nhưng Venezuela đã đánh mất hào quang. Sản lượng hiện tại ước chừng từ 900.000 đến 1 triệu thùng mỗi ngày. Để so sánh thì một quốc gia dầu hỏa khác cũng đang bị phương Tây trừng phạt là Iran, năm 2024 cung cấp từ 3,2 đến 3,5 triệu thùng dầu một ngày. Do vậy theo chuyên gia Francis Perrin, viện IRIS trước mắt các tập đoàn năng lượng của Mỹ không hào hứng như tổng thống Trump mong đợi. « Các tập đoàn dầu hỏa Mỹ là những công ty tư nhân. Họ chạy theo lợi nhuận nhưng không nhất thiết phải nghe theo chỉ định của tổng thống Trump. Không phải vì ông bảo họ lao vào Venezuela mà họ nghe theo. Các tập đoàn này căn cứ vào một số điều kiện trước khi quyết định đầu tư. Những điều kiện đó gồm : ổn định chính trị lâu dài, bởi vì ngành công nghiệp dầu hỏa cần đầu tư rất nhiều, đầu tư hàng chục tỷ đô la và phải mất 10 -20 thậm chí là 30 năm mới mong lấy lại vốn. Điều kiện thứ nhì để bỏ vốn vào Venezuela là các hãng Mỹ cầm chắc phải có lãi. Điều đó có nghĩa là sẽ phải đàm phán rất chi tiết với Caracas về hợp đồng khai thác, hoạt động … Về điểm này quyết định sau cùng thuộc về Venezuela. Yếu tố thứ ba mang tính quyết định tùy thuộc vào những dự phóng của các tập đoàn dầu hỏa về thị trường vàng đen trên thế giới trong trung và dài hạn. Xu hướng hiện nay là thế giới dư thừa dầu hỏa, cung nhiều hơn cầu. Giá dầu do luật thị trường định đoạt và hoàn toàn không do Caracas hay Washington quyết định ». Caracas đương nhiên phải chấp nhận Nhưng trong vấn đề dầu hỏa Venezuela, tổng thống Trump đã ghi được một bàn thắng quan trọng : Mỹ giành được từ tay chính quyền mới ở Caracas quyền quyết định về lượng dầu xuất khẩu của Venezuela. Chuyên gia về dầu hỏa Francis Perrin nhìn nhận đây là một thỏa thuận quá bất cân đối với Venezuela. « Các giới chức Venezuela không có sự lựa chọn nào khác. Caracas bắt buộc phải chấp nhận đàm phán và để cho Hoa Kỳ quyết định Venezuela được xuất khẩu bao nhiêu dầu, bán cho ai và với giá nào. Điều đó có nghĩa là Caracas không thể áp dụng chính sách giá cả ưu đãi với Cuba và nhất là với Trung Quốc » Mục tiêu đối ngoại : Từ Trung Quốc đến Nga Mỹ là mẫu số chung của ba sự kiện gần đây nhất liên quan đến ngành dầu hỏa toàn cầu là từ vụ can thiệp quân sự ở Venezuela đến việc Hải Quân Hoa Kỳ tạm bắt giữ một tàu dầu của Nga, và nhất là những diễn biến tại Iran, một mỏ dầu khác của thế giới. Tuy không mới nhưng Nga và Trung Quốc là những mục tiêu quan trọng nhất các nhà chiến lược của MỸ đang nhắm tới. Francis Perrin viện IFRI phân tích : « Rõ ràng, Trung Quốc trong tầm ngắm của Hoa Kỳ khi Washington can thiệp quân sự vào Venezuela. Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ công bố tháng 12/2025 đã nhấn mạnh là không một cường quốc nào ngoài châu Mỹ và là những đối thủ của Hoa Kỳ được quyền sở những cơ sở mang tính chiến lược tại châu lục này. Với chính quyền Trump, dầu hỏa của Venezuela là một vấn đề chiến lược. Trung Quốc là khách hàng lớn nhất của Venezuela và lại mua dầu của nước này với giá rẻ. Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia của Nhà Trắng, Marco Rubio quan niệm thời kỳ đó đã chấm dứt ». Sự cố tàu dầu của Nga hôm 07/01/2025 bị bắt giữ từng làm dấy lên lo ngại Matxcơva sẽ trả đũa và có thể là bằng cách « cũng sẽ chặn bắt » các tàu dầu của Hoa Kỳ…. Nhưng kịch bản « một cuộc xung đột dầu hỏa » trực tiếp giữa Washington và Matxcơva tạm thời đã lắng xuống. Dù vậy giới phân tích lưu ý : Từ đầu những năm 2000, Nga đã thắt chặt quan hệ với Venezuela coi đây như một điểm nhất trong mục tiêu thách thức Hoa Kỳ đang dẫn dắt trật tự thế giới. Các ông Vladimir Putin và Hugo Chávez tận dụng mối quan hệ cá nhân tốt đẹp để thách thức Washington và mở ra một cánh cửa cho nước Nga tại châu Mỹ Latinh, như nhận định của Financial Times. Mua bán vũ khí và dầu hỏa là trọng tâm trong mối bang giao song phương. Do vậy giới quan sát đã ngạc nhiên trước phản ứng kín đáo của Nga khi Mỹ can thiệp vào Venezuela và bắt cóc tổng thống Maduro. Thực ra từ 2025 chính quyền Trump đã tìm cách chận nguồn thu nhập dầu của Nga. Rõ rệt nhất áp lực triền miên nhắm vào Ấn Độ. Nhà Trắng liên tục đòi New Delhi ngừng hay hạn chế mua vào dầu hỏa của Nga. Ẩn số Iran Trái lại thì lo ngại đang lớn dần khi mà tổng thống Mỹ dọa « can thiệp » kể cả bằng phương tiện quân sự vào Iran, đã khiến giới trong ngành thận trọng hơn hẳn. Trung Quốc là một trong những bên liên quan hàng đầu, do là khách hàng lớn nhất và gần như duy nhất, rất trung thành với dầu hỏa Iran. Năm ngoái Iran sản xuất dưới 3,5 triệu thùng dầu mỗi ngày và gần một nửa hoàn toàn chỉ để cung cấp cho Trung Quốc. Giám đốc nghiên cứu của viện quan hệ quốc tế và chiến lược IRIS của Pháp nói đến mối liên hệ chặt chẽ giữa dầu hỏa và chiến tranh : « Dầu hỏa và chiến tranh luôn gắn liền với nhau : lúc thì dầu hỏa là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh, lúc thì đấy là một trong những lý do dẫn tới xung đột. Chiến tranh -như trường hợp của Ukraina từ đầu 2022 mang lại những hậu quả rất lớn đối với lĩnh vực dầu hỏa, năng lượng. Trong mọi trường hợp dầu hỏa nuôi dưỡng chiến tranh bởi vì xe thiết giáp, chiến xa … chiến đấu cơ hay tàu chiến cũng đều cần phải có xăng dầu … Trong trường hợp của Venezuela, vàng đen chỉ là một trong những yếu tố đã thúc đẩy Hoa Kỳ can thiệp ». Tham vọng chiếm đoạt tài nguyên Trong thời đại « ảo » thế giới cần những tài nguyên « thực » hơn bao giờ hết, cho nên yếu tố địa chính trị và tham vọng tài nguyên thiên nhiên càng lúc càng gắn chặt vào nhau. Francis Perrin, giám đốc nghiên cứu viện IRIS của Pháp kết luận. « Địa chính trị và tài nguyên thiên nhiên giờ đây gắn chặt vào nhau. Dầu hỏa là yếu tố quyết định trên bàn cờ năng lượng. Còn khoáng sản chiến lược thì đang nắm giữ chìa khóa trong những lĩnh vực then chốt như công nghiệp quân sự, công nghệ kỹ thuật số, công nghệ năng lượng sạch …Thế giới ảo ngày hôm nay thực ra rất cần những tài nguyên thực, những tài nguyên vật chất ». Điểm nhấn trong hồ sơ dầu hỏa hiện nay là ba biến cố đang diễn ra từ đầu năm 2026, có thể báo trước những gì có thể xảy ra trong những tranh chấp tài nguyên ở mọi nơi trên thế giới, kể cả ở Biển Đông.
Một ngày trước khi bị Hoa Kỳ « bắt cóc » và đưa về New York, hôm 02/01/2025, tại phủ tổng thống Venezuela, Nicolas Maduro đã tiếp đặc sứ Trung Quốc đặc trách toàn khu vực châu Mỹ Latinh. Caracas là một cánh cửa quan trọng cho phép Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng khu vực sát cạnh với Washington. Trong cuộc đọ sức với Mỹ âm ỉ từ 2017 đến nay, châu lục này càng mang tính chiến lược với Trung Quốc. Chủ nợ và khách hàng lớn nhất của Venezuela « Chỉ trong vài giờ, Trung Quốc vừa mất đi một đối tác thân thiết và có lẽ là gần gũi nhất ». Chuyên gia về châu Á Marc Julienne, giám đốc điều hành trung tâm nghiên cứu Centre Asie thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRi nhận định như trên về vụ Mỹ can thiệp vào Caracas. Còn David Wurmser, nguyên cố vấn của phó tổng thống Hoa Kỳ Dick Cheney, nhận xét với báo tài chính Nhật Niekki Asia : Bắc Kinh phải cân nhắc lại chiến lược tại châu Mỹ Latinh và ở vùng biển Caribe sau vụ Mỹ bắt giữ tổng thống Maduro, đồng thời mất các nguồn dầu của Venezuela sẽ là một « tai họa » đối với đà tăng trưởng của Trung Quốc. Năm 2024, tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều đạt 6,4 tỷ đô la. Khoảng 70 % xuất khẩu dầu hỏa của Venezuela nhằm phục vụ thị trường Trung Quốc. Từ 2019, khi Washington ban hành lệnh cấm vận chính quyền Maduro, Trung Quốc đã trở thành khách hàng lớn nhất của Venezuela, nhất là thông qua các công ty « bình phong », giúp các đại tập đoàn năng lượng như Sinopec và PetroChina lách lệnh trừng phạt của Mỹ. Chỉ một mình Venezuela chiếm khoảng 10 % kim ngạch nhập khẩu dầu của Trung Quốc. Theo các số liệu của cơ quan tư vấn chuyên về năng lượng Kpler, năm ngoái, Trung Quốc nhập khẩu gần 400.000 thùng dầu của Venezuela mỗi ngày, khối lượng này cao hơn 47 % so với hồi 2024 và trung bình Caracas bán cho Trung Quốc dầu với giá thấp hơn so với thị trường từ 12 đến 15 đô la/thùng. Từ đầu những năm 2000, Trung Quốc đã chú ý đến Venezuela dưới thời cố tổng thống Hugo Chavez. Với dự án Con Đường Tơ Lụa thế kỷ 21, Bắc Kinh từng bước trở thành chủ nợ chính của một đất nước đang nắm giữ gần 1/5 dự trữ dầu hỏa toàn cầu. Trong giai đoạn 2007-2013 Trung Quốc cấp 60 tỷ đô la tín dụng cho Caracas để đối lấy vàng đen, mua với giá rẻ. Mỹ gián tiếp phương hại tới quyền lợi của Trung Quốc tại Venezuela Trả lời kênh truyền hình Pháp France 24, nhà báo độc lập Paul Cabanis ghi nhận : « Chắc chắn Trung Quốc là mục tiêu Mỹ nhắm tới trong đợt can thiệp quân sự vào Caracas và đương nhiên là Washington quan tâm đến dầu hỏa của Venezuela. Đây là nơi nắm giữ 18 % dự trữ dầu của toàn thế giới, mà phần lớn còn chưa được khai thác. Từ nhiều năm qua, kinh tế Venezuela bị phong tỏa và trên nguyên tắc dầu hỏa bị cấm vận. Nhưng thực ra chính quyền Maduro vẫn bán dầu cho Cuba và nhất là cho Trung Quốc. Từ 2022, chính quyền Biden đã từng liên hệ với Caracas, nhiều cuộc họp bí mật đã diễn ra để đưa tập đoàn dầu hỏa Chevron trở lại Venezuela ». Dầu hỏa, nhược điểm của Bắc Kinh Phát biểu chỉ vài giờ sau khi tổng thống Venezuela Nicolas Maduro và phu nhân bị dẫn độ sang Hoa Kỳ và bị tạm giam ở một nhà tù New York, nguyên thủ quốc gia Mỹ Donald Trump để ngỏ khả năng Trung Quốc tiếp tục nhận được dầu sản xuất từ Venezuela, nhưng đây mới chỉ là một tuyên bố kiểu « lời nói gió bay ». Hơn nữa, theo một số nhà phân tích, « không có gì chắc chắn là Bắc Kinh sẽ mặn mà với việc đặt trong tay Hoa Kỳ, nhất là trong bối cảnh hiện tại, một phần nhu cầu năng lượng vốn là củi lửa cho cỗ máy tăng trưởng của mình ». Trên đài truyền hình Pháp - Đức Arte, phóng viên báo L’Humanité Luis Reygada đặc trách về khu vực châu Mỹ Latinh đưa ra một yếu tố khác cho thấy việc Mỹ can thiệp vào Venezuela tác hại đến lợi ích kinh tế của Bắc Kinh, những lợi ích không chỉ giới hạn trên lãnh thổ Venezuela : « Suốt 25 năm nay Venezuela luôn trong tầm nhắm của Hoa Kỳ. Mỹ không hài lòng từ khi Hugo Chavez (1999-2013) lên cầm quyền và giành lại quyền kiểm soát, quyền khai thác tài nguyên, đẩy các tập đoàn Mỹ ra ngoài. Cùng lúc Trung Quốc trở thành đối tác thương mại quan trọng thứ hai của toàn khu vực châu Mỹ Latinh. Bắc Kinh chăm chút cho mối quan hệ với các quốc gia trong khu vực này. Tháng năm vừa qua, Trung Quốc tổ chức thượng đỉnh tiến đón lãnh đạo 23 nước Nam Mỹ và trong vùng biển Caribe để bàn về hợp tác, đầu tư, để thảo luận về những phương án thoát khỏi ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Từ hơn một chục năm nay, Trung Quốc tăng cường hiện diện và ảnh hưởng tại châu Mỹ Latinh. Bắc Kinh đã lôi kéo được hơn 20 quốc gia trong vùng tham gia chương trình Một Vành Đai Một Con Đường, trong số này có Brazil và Colombia. Tổng thống Mỹ Donald Trump thực sự không hài lòng chút nào trước những tiến triển nói trên ». Công nghiệp dầu hỏa Venezuela cần tiền của Trung Quốc Về phần Andreina Flores,đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp RFI, ban tiếng Tây Ban Nha, bà giải thích việc Trung Quốc trở thành khách hàng quan trọng nhất dầu hỏa Venezuela là điều hiển nhiên: « Công nghiệp dầu hỏa của Venezuela gần như hoàn toàn sụp đổ từ nhiều năm qua. Để có thể hoạt động trở lại, để có lãi, thì trước tiên cần đầu tư rất nhiều, ước tính khoảng gần 120 tỷ đô la trong 10 năm. Số tiền quá lớn đó khiến các hãng Mỹ do dự. Hiện nay, mỗi ngày Venezuela sản xuất chưa tới 1 triệu thùng dầu, và 70 % trong số đó là để xuất sang Trung Quốc. Để so sánh, trong thập niên 1990, mỗi ngày Venezuela sản xuất hơn 3 triệu thùng dầu ». Nhà nghiên cứu về Hoa Kỳ Claire Nardon thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI giải thích thêm về thế thượng phong của các tập đoàn Trung Quốc trong lĩnh vực dầu hỏa Venezuela : « Mỹ khó mà đầu tư ồ ạt vào Venezuela, khó cạnh tranh nổi với các đối thủ Trung Quốc, bởi vì Trung Quốc không thiếu tiền và rất dễ dàng đầu tư ồ ạt vào châu Mỹ Latinh, cũng như vào châu Phi… Dù vậy đây không thực sự là một điều tốt với các quốc gia nhận tài trợ của của Bắc Kinh, vì Trung Quốc đối đầu tư lấy tài nguyên, dầu hỏa, kim loại của các đối tác » … Mỹ cũng là một cường quốc dầu hỏa Về quan điểm cho rằng dầu hỏa là động lực quan trọng nhất thúc đẩy Hoa Kỳ khởi động chiến dịch quân sự cuối tuần qua nhắm vào Caracas, giới phân tích thận trọng hơn. Không ai phủ nhận Nhà Trắng đang ráo riết tìm kiếm các nguồn tài nguyên, nhưng Mỹ cũng là một quốc gia có dầu hỏa, có thêm dầu của Venezuela thì càng tốt, nhưng đấy không phải là yếu tố sống còn, mà chẳng qua chỉ là « chận đường trước mọi đối thủ » muốn lân la vào sát "sân sau" của Hoa Kỳ. Sử gia Florian Louis chuyên nghiên cứu về quan hệ quốc tế giải thích: « Donald Trump chơi trò vừa đánh trống vừa la làng : một mặt ông có những tuyên bố nảy lửa và đẩy các nước ở châu Mỹ Latinh vào vòng tay Trung Quốc. Nhưng khi họ thân thiện và mở rộng quan hệ với Bắc Kinh thì Washington lại nổi dóa, đe dọa và trừng phạt những nước nào quá gần gũi với Trung Quốc. Đúng là châu Mỹ Latinh giàu tài nguyên thiên nhiên, giàu khoáng sản rất được Trung Quốc quan tâm. Nói rằng Mỹ nhòm ngó dầu hỏa của Venezuela chỉ đúng một phần, bởi vì bản thân Hoa Kỳ cũng có nhiều tài nguyên, dầu hỏa nhưng Mỹ chủ yếu là không muốn Trung Quốc lai vãng gần vùng lãnh thổ thuộc sân sau của mình, không muốn các tập đoàn Trung Quốc vào khai thác tài nguyên của Venezuela, nên chi bằng can thiệp trước thay vì để cho một quốc gia nào khác làm chủ tình hình ». Tuy không bằng Nga, nhưng Trung Quốc cũng là một nhà cung cấp vũ khí cho Venezuela. Báo Washington Post hồi tháng 10/2025 tiết lộ trong bối cảnh căng thẳng leo thang, Mỹ huy động tàu ngầm và tàu chiến đến vùng biển Caribe, túc trực ngoài khơi bờ biển Venezuela, chính quyền Maduro đã « khẩn cấp » yêu cầu Bắc Kinh tăng tốc hợp tác quân sự, chủ yếu là thúc đẩy tiến độ giao thiết bị radar cho Venezuela. Venezuela và 3 nguy cơ đợi chờ Trung Quốc Tạp chí tài chính Forbes số ra ngày 03/01/2025 lưu ý chiến dịch quân sự vừa qua của Hoa Kỳ đẩy Trung Quốc vào một thế kẹt dưới nhiều góc độ khác nhau : Dầu hỏa như vừa trình bày. Nhưng nguy hiểm hơn nữa là « chuỗi cung ứng của các nhà máy Trung Quốc tại châu Mỹ có nguy cơ bị xáo trộn » một khi mà xuất khẩu năng lượng của Venezuela có thể bị thay đổi « tùy theo hứng của chủ nhân Nhà Trắng » Điểm thứ hai, Trung Quốc cũng là chủ nợ chính của Venezuela hiện diện trong các lĩnh vực năng lượng và xây dựng cơ sở hạ tầng tại quốc gia Nam Mỹ này. Với gần 60 tỷ đô la tín dụng đã cấp cho Caracas dưới hai thời tổng thống Chavez và Maduro, giờ đây, khi quyền lực ở Venezuela do Hoa Kỳ « điều khiển », khoản nợ đó liệu có được hoàn trả hay không ? Chỉ riêng Ngân Hàng Phát Triển Trung Quốc đang nắm giữ từ 17 đến 19 tỷ đô la nợ của Venezuela theo thẩm định của Forbes. Cuối cùng, về mặt chiến lược và an ninh, Michael Sobolik, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Hudson, nhận định « toàn bộ tính toán khu vực của Trung Quốc đã bị đảo lộn », bởi vì trong nhiều năm, Đảng Cộng sản Trung Quốc coi Venezuela là bàn đạp tiến vào Tây Bán Cầu, vậy mà Hoa Kỳ đã bắt giữ Maduro chỉ vài giờ sau khi ông này tiếp đặc sứ Trung Quốc Khâu Tiến Kỳ (Qiu Xiaoqi). Hành động đó đương nhiên « vô hiệu hóa » mọi cam kết mà đặc sứ Trung Quốc có lẽ đã đưa ra với chính quyền Maduro. Dù vậy, trong mắt Ryan Hass, giám đốc Trung tâm Trung Quốc John L. Thornton tại Viện Brookings, tin vui đối với Bắc Kinh qua việc Mỹ can thiệp ở Caracas trong đêm 02/01/2026 là từ nay trở đi, Trung Quốc cũng có thể noi gương Hoa Kỳ, rộng đường hành động và sẽ cân nhắc lại những tính toán chiến lược đối với vùng eo biển Đài Loan và Biển Đông.
Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga đều là những cường quốc sử dụng sức mạnh để chiếm đoạt hoặc làm suy yếu các quốc gia, các vùng lãnh thổ hay nhóm khác. Đây là thách thức lớn nhất đối với thế giới trong năm 2026. Toàn cảnh kinh tế tiếp tục bị chi phối bởi những tham vọng của Trung Quốc về Biển Đông, Hoa Đông và eo biển Đài Loan, những tính toán chiến lược của Matxcơva đe dọa an ninh và ổn định của toàn châu Âu, vì chiến tranh thương mại do Mỹ khai mào, vì mục tiêu của chính quyền Trump « khôi phục lại thời kỳ vàng son » cho Hoa Kỳ. Các cuộc xung đột vũ trang, nguy cơ nổ ra cuộc chiến « khoáng sản chiến lược » phản ánh khuynh hướng chung của các thế lực mạnh nhất hiện nay về kinh tế, quân sự, hay chính trị. Phần còn lại trên thế giới, từ Canada, Brazil đến Úc hay khối ASEAN « cố gắng cầm cự », tránh chọc giận chủ nhân Nhà Trắng để hàng xuất khẩu sang Mỹ không bị đánh thuế cao hơn. Cho dù truyền thông quốc tế liên tục nói đến « nguy cơ Trung Quốc suy thoái », nhưng 7 nước công nghiệp phát triển nhất thế giới, kể cả Hoa Kỳ, vẫn muốn làm ăn với quốc gia hơn 1,4 tỷ dân này. Ảnh hưởng của Bắc Kinh với các khu vực từng được coi là sân sau của Mỹ, như các quốc gia Vùng Vịnh và nhất là châu Mỹ Latinh, ngày càng lớn. Hai nền công nghiệp hàng đầu châu Á là Nhật Bản và Hàn Quốc cố gắng « thích nghi với những thách thức mới ». Ấn Độ thì vẫn lệ thuộc vào Nga cả về quân sự và năng lượng. Trong khi đó, Liên Âu và Anh Quốc, một trong ba đầu máy tăng trưởng của toàn cầu, trên mặt trận kinh tế lâm vào thế « lưỡng đầu thọ địch » : bị cả hàng hóa và công nghệ Trung Quốc cạnh tranh, còn người bạn tốt Hoa Kỳ thì vừa dùng đòn thuế quan để o ép Bruxelles, Luân Đôn và giữ Lục Địa Già trong thế phụ thuộc vào công nghệ cao của Mỹ. Tại Nhà Trắng, chính quyền Trump theo đuổi mục tiêu mang lại hào quang cho nước Mỹ. Do vậy Washington tiếp tục « để mắt » đến vùng Groenland hiện do Đan Mạch quản lý, vì địa điểm chiến lược của quần đảo này sát với Bắc Cực, vì được cho là một vùng lãnh thổ giàu tài nguyên. Cũng nhằm « đưa Hoa Kỳ trở lại thời kỳ hoàng kim », chính quyền Trump đang giành lại ảnh hưởng trong vùng biển Caribe với mục tiêu sau cùng là « đẩy Trung Quốc ra khỏi khu vực Hoa Kỳ luôn coi là sân sau của mình ». Mỹ muốn gạt Trung Quốc ra khỏi châu Mỹ Latinh Mục tiêu này đang trở nên cấp bách khi biết rằng trong 25 năm qua tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều giữa Trung Quốc và các nước Trung và Nam Mỹ đã được nhân lên gấp 42 lần. Tháng 5/2025 nhân thượng đỉnh Trung Quốc và khối các nước châu Mỹ Latinh (CELAC) Bắc Kinh đã cấp thêm 9 tỷ đô la tín dụng cho khối này. Theo giáo sư Emmanuel Véron chuyên gia về địa lý Học Viện Quân Sự Pháp -Ecole de Guerre « phần lớn các quốc gia trong vùng biển Caribe và Trung- Nam Mỹ đều xem Trung Quốc là một đối tác không thể thiếu, nhất là vào lúc Hoa Kỳ dưới nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Donald Trump đang cắt giảm mọi viện trợ quốc tế và đang chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự trong vùng biển Caribe. Ngân Hàng Phát Triển và Ngân Hàng Ngoại Thương Trung Quốc hiện là hai chủ nợ lớn nhất tại « sân sau » này của Mỹ. Từ 2005, hai ngân hàng này cấp hơn 120 tỷ đô la tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong khu vực này, để đổi lấy năng lượng và các loại khoáng sản từ than đá đến uranium. Khoảng 70 % sắt do Brazil sản xuất chỉ để xuất khẩu sang Trung Quốc. Trung Quốc cũng là nơi mua vào 60 % đồng của Peru hơn 45 % khoáng sản của Bolivia… Trong mối quan hệ này, Bắc Kinh, theo giáo sư Véron, hành xử như « một kẻ săn mồi » chiếm đoạt tài nguyên của các quốc gia đang phát triển sát cửa ngõ Hoa Kỳ. Tại châu lục này, từ 2000 đến 2025 « Trung Quốc đã từng bước thế chỗ các đối tác truyền thống là Mỹ và châu Âu (…), để trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của một số quốc gia như Brazil, Achentina hay Peru, Bolivia và Chilê ». Hơn thế nữa, theo thời gian, « Châu Mỹ Latinh và các nước trong vùng biển Caribe đã trở thành một lá chủ bài trong chiến lược rộng lớn của Bắc Kinh » để « bao vây » Washington. Cạnh tranh về công nghệ « khốc liệt hơn » Không nhất thiết phải là một nhà chiêm tinh, rất dễ đoán 2026 tiếp tục là một năm « căng thẳng », tăng trưởng và đầu tư qua đó bị tác động lây. Tanguy Struye de Swielande, giáo sư về quan hệ quốc tế Đại học Công Giáo Louvain - Bỉ, lưu ý từ khi Donald Trump lên cầm quyền trong nhiệm kỳ đầu sau cuộc bầu cử tổng thống 2016, « căng thẳng về địa chính trị, sự cạnh tranh về công nghệ … đều đã mở đường cho một trật tự thế giới mới » nhưng đây là một mô hình « đa cực » mà ở đó các thế lực « bảo vệ quyền lợi của mình và định hình lại các vùng ảnh hưởng » … Mỹ, Trung Quốc và Nga đều trong tư thế của những con ó « săn mồi », những « puissances prédatrices ». Chính vì muốn mở rộng ảnh hưởng của Nga với khu vực mà tổng thống Vladimir Putin đã khởi động chiến tranh xâm lược Ukraina, chiếm thêm lãnh thổ và tài nguyên của nước láng giềng. Vì muốn khai thác tối đa những lợi thế của một quốc gia hùng mạnh nhất, mà tổng thống Trump đòi giành lại kênh đào Panama, đòi tuyên bố chủ quyền với từ Canada đến vùng tự trị Groenland do Đan Mạch quản lý. Cũng để khẳng định vị trí siêu cường, hai nền kinh tế hàng đầu thế giới là Hoa Kỳ và Trung Quốc đã lao vào một cuộc chiến thương mại, đọ sức về công nghệ và mở mặt trận « chiến tranh đất hiếm », chạy đua phát triển tiền ảo. Trung Quốc từ 2014 đã phát triển đồng tiền digital, tuy kết quả không như mong đợi nhưng rõ ràng là đã đi trước Bắc Kinh một bước. Theo giáo sư trường Paris School of Economics (PSE) Eric Monnet, Mỹ đang kỳ vọng vào tiền mã hóa để giành lại sân chơi đang bị Trung Quốc gặm nhấm và nhất là để ngăn ngừa khả năng nhân dân tệ cũng sẽ trở thành một đơn vị tiền tệ dự trữ, được hưởng những lợi thế « ngang hàng với đô la ». Trên đài truyền hình Arte, chuyên gia kinh tế Eric Heyer, giám đốc Đài Quan Sát Tình Hình Kinh Tế Pháp, đưa ra thêm một yếu tố vì sao tổng thống Trump lại rất phấn khởi với tiền Crypto: « Đồng tiền ảo có nhiều đặc điểm : Đầu tiên hết là không cần minh bạch, bất cứ ai cũng có thể giấu mặt để can thiệp. Đó là lợi thế không nhỏ cho các hoạt động bất hợp pháp. Yếu tố thứ nhì khiến ông Trump thích phát triển cryptocurrency là tỷ giá lên xuống rất mạnh, có nghĩa người ta cũng dễ làm giầu mà cũng dễ phá sản. Điểm thú vị thứ ba trong mắt tổng thống Mỹ là tiền digital không thuộc thẩm quyền của Cục Dự trữ Liên bang. Ông rất ghét định chế tài chính này ngay từ nhiệm kỳ đầu. Cho nên đây là cơ hội tốt nhất để Trump qua mặt Federal Reserve. Tiền ảo đáp ứng được tất cả những tiêu chuẩn này trong mắt tổng thống Hoa Kỳ và còn là công cụ cho phép thực hiện nhiều hoạt động không mấy minh bạch ». Châu Âu trong thế thủ Bên cạnh ba thế lực hàng đầu vừa nêu, cả ba đều trong tư thế của những « kẻ săn mồi », Liên Hiệp Châu Âu và Anh Quốc thực sự trong thế thủ. Giáo sư trường Khoa Học Chính Trị Paris Sébastien Yves Laurent đơn cử một trường hợp cụ thể cho thấy châu Âu hoàn toàn phụ thuộc vào công nghệ của Hoa Kỳ: « Từ 10-15 năm nay, ngân sách của Pháp dành cho công tác tình báo liên tục tăng lên ngay cả khi chi tiêu của nhà nước bị siết lại. Nhưng chúng ta cần biết nguồn vốn đó được sử dụng như thế nào. Tình báo là một hoạt động trong bóng tối với nhiều bí mật, dù vậy vẫn có thể phát hiện được là Pháp huy động khá nhiều phương tiện để đầu tư vào các công nghệ phục vụ cho những hoạt động tình báo. Hệ quả kèm theo là nguy cơ chúng ta lệ thuộc quá đáng vào các công nghệ mà bỏ qua những yếu tố khác. Tôi muốn nói là chúng ta sẽ tin tưởng quá nhiều vào công nghệ. Trong khi đó cốt lõi của lĩnh vực này là thu thập rồi phân tích thông tin. Công nghệ mới cho phép chúng ta phân tích một khối lượng dữ liệu rất lớn, nhưng thường đó là những nguồn mở. Do vậy công nghệ sẽ làm thay đổi hẳn cách xử lý thông tin trong ngành tình báo. Thêm vào đó các công cụ và công nghệ mà nhân viên tình báo châu Âu sử dụng cho đến nay là của Mỹ. Khác với nhân viên tình báo, các thiết bị điện tử và công nghệ sử dụng trong mục tiêu này không có tổ quốc ! » Chuyên gia Valérie Dagrand thuộc tổ chức Numeum, một hiệp hội chuyên về công nghệ số, cho biết thêm : « Theo một công trình nghiên cứu rất xác đáng được công bố gần đây, 80 % cơ sở hạ tầng cũng như phần mềm sử dụng trong lĩnh vực digital không do các tập đoàn châu Âu cung cấp, mà là của Mỹ. Thành thử châu Âu rất chậm trễ trong mục tiêu tự chủ về mặt công nghệ. Khả năng chọn lựa của châu Âu do vậy cũng rất hạn hẹp ». Chính vì để khắc phục nhược điểm này châu Âu đã có một số sáng kiến để « tự chủ » hơn về công nghệ. Khai mạc hội nghị công nghệ tại Berlin hôm 18/11/2025, thủ tướng Friedrich Merz đã thông báo một khoản đầu tư 12 tỷ euro, nhưng đây chỉ là một giọt nước so với những phương tiện của các tập đoàn Silicon Valley. « Rõ ràng là các công ty châu Âu đóng một vai trò đầu tàu để đem lại những phát minh mới trong lĩnh vực digital. Cũng rất đáng mừng khi thấy có nhiều doanh nghiệp của Đức, Pháp và châu Âu tham gia, hưởng ứng hội nghị này và đã hăng hái đầu tư. Chung cuộc đã huy động được thêm hơn 12 tỷ euro đầu tư vào công nghệ số và điều đó chứng minh châu Âu có tiềm năng để phát triển những công nghệ mới và từng bước tự chủ hơn trong lĩnh vực này ».
Vào những ngày cuối năm, sắp đến Giáng Sinh và Tết Dương lịch, ở châu Âu người ta thường tặng cho nhau những hộp sôcôla, ít tiền thì mua những hộp sôcôla trong các siêu thi, sang hơn thì mua trong các cửa hàng sôcôla cao cấp. Năm 2025, thị trường sôcôla toàn cầu ước tính đạt khoảng 127 tỷ đôla, tăng nhẹ so với mức 123 tỷ đôla năm 2024, với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 4,8%/năm. Riêng ở Pháp, theo số liệu của nghiệp đoàn ngành sản xuất sôcôla, trong năm 2024, mức tiêu thụ trung bình là 12,3 kg/năm/hộ gia đình. Người Pháp có xu hướng tiêu thụ nhiều sôcôla đen hơn phần còn lại của châu Âu (30% so với mức trung bình 5% ở châu Âu). Cacao là nguyên liệu chính cho sôcôla. So với các khu vực sản xuất cacao lớn trên thế giới như châu Phi chiếm tới 71%, Trung Mỹ 11% và châu Á 18%, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có sản lượng nhỏ, chỉ khoảng vài nghìn tấn/năm. Ở Việt Nam, cacao được trồng chủ yếu tại các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung bộ. Tuy sản lượng nhỏ, cacao của Việt Nam có hương vị đặc biệt, được xem là rất phù hợp với các nhà làm sôcôla thủ công, nhưng cũng có nhiều tiềm năng về chế biến sôcôla cao cấp. Hạt cacao trồng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là có chất lượng hạng nhất thế giới. Mặc dù vậy, ngành chế biến sôcôla ở Việt Nam nói chung vẫn còn ở quy mô nhỏ. Các cơ sở làm sôcôla thủ công đa số là xưởng nhỏ, chủ yếu hướng đến khách du lịch, chứ chưa đủ năng lực cạnh tranh ở quy mô xuất khẩu lớn. Như vậy, sôcôla sản xuất từ cacao Việt Nam phải làm cách nào để thâm nhập được thị trường châu Âu nói chung và Pháp nói riêng ? Hôm nay, mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn với ông Francesco Trần Văn Liêng, chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc Công ty Cổ phần Cacao Việt Nam ( Vinacacao ): Thưa ông Francesco Trần Văn Liêng, trước hết xin ông cho biết là cacao Việt Nam có những đặc tính nào khác với cacao từ những khu vực khác trên thế giới? Cây ca cao thì trồng hơi khó, nó không thích khí hậu cao nguyên mà thích đồng bằng hơn. Cho đến bây giờ châu Âu vẫn phụ thuộc vào các nguồn cung từ Côte d'Ivoire và Ghana. Việt Nam nổi bật lên thành một quốc gia cung cấp hạt sôcôla mà chúng tôi gọi là premium, vì hạt cacao Việt Nam có 136 hương vị phản ánh thổ nhưỡng của quốc gia. Ví dụ Đồng bằng sông Cửu Long là nơi đất tốt, mưa nhiều, dồi dào phù sa, tạo ra hương vị mang tính chất fruity. Fruity tức là vị chua nhẹ, ngọt thanh, chứ không phải là giống như nutty. Nutty là của Côte d'Ivoire và Ghana, những vùng cao nguyên đất đỏ, hương vị của nó hạt khô. Cho nên Việt Nam tận dụng ưu thế này mà sản xuất ra những loại hạt sôcôla ngon và người châu Âu, đặc biệt là hãng Puratos, hay là Vinacacao của chúng tôi làm ra những thanh sôcôla có vị tương đối đặc biệt. Vì đất tốt mưa nhiều cho nên cơm xung quanh hạt cacao rất dày và khi chúng tôi ủ hạt thì độ ngọt thơm và chua nhẹ đi sâu vào trong hạt và lúc đó từ đó mình làm ra sôcôla. Những nhà nghiên cứu như của đại học Ghent của Bỉ tìm ra được 136 hương vị của hạt cacao Việt Nam. Đó là niềm hãnh diện rất là lớn khi mà hiện nay số 1, số 2 thế giới là Côte D'Ivoire và Ghana. Việt Nam về lượng thì không bằng, nhưng về giá thì lúc nào cũng cao hơn. Ví dụ như hiện nay với 6.000 đôla bạn có thể mua 1 tấn hạt cacao của Côte D'Ivoire và Ghana, chứ cacao Việt Nam thì phải trả tới 12.000 đôla. Giống như câu chuyện về cà phê. Ví dụ Brazil sản xuất rất nhiều hạt cà phê. Nhưng khi bạn uống cà phê thì bạn đi tìm những origin, những nguồn gốc như Colombia, Ethiopia hoặc Guatemala. Những quốc gia này làm ra những loại hạt mà nhiều hãng lớn như Starbucks bán với tư cách giống như single origin. Hạt cacao cũng vậy. Hạt cacao Việt Nam được xem như là single origin, tức là hạt cacao thuần Việt. Theo quan sát của ông thì hiện nay các cơ sở sản xuất sô cô la từ ca cao Việt Nam có quy mô như thế nào và họ đã sản xuất được bao nhiêu cũng như là đã xuất khẩu được sang những nước nào? Phần lớn các hãng sản xuất sôcôla hiện nay là 'small holders', tức là những người tương đối nhỏ và làm sôcôla mang hương vị hình hài của đất nước nhiều hơn, pha với những trái cây vùng nhiệt đới, đặc biệt là dừa. Đó là một thế mạnh và nói về quy mô thì đây là ngành không chạy theo số lượng, bởi vì nếu chạy theo số lượng thì rõ ràng mình đấu không lại những quốc gia như Côte d’Ivoire, Ghana hoặc Indonesia Trong số những cơ sở hiện nay, chỉ có Vinacacao là 20 năm trong ngành, chúng tôi có quy mô khá là lớn và dẫn đầu được trong ngành, đặc biệt là ngành bán lẻ. Chúng tôi làm ra thành phẩm cuối cùng mà các bạn có thể thấy trong siêu thị lớn ở Việt Nam, ở các sân bay lớn. Chúng tôi sang Bỉ làm ăn theo kiểu hiệp thương về mutual, tức là họ bán hàng cho mình thì họ cũng phải mua gì của mình, hai bên cùng có lợi. Bằng cách đó chúng tôi thâm nhập vào thị trường của nhau, tức là mình mua những sản phẩm độc lạ, hay của Bỉ và Bỉ cũng sẽ mua lại những sản phẩm độc lạ, hay của Vinacacao. Đây là một phương thức mà chúng tôi sử dụng để có thể thâm nhập vào những thị trường khó tính. Các nhãn lớn mà các bạn thấy thì đều có mặt ở Việt Nam, nhưng ngành sôcôla trong nước thì có lợi thế là khống chế được chi phí sản xuất. Ví dụ Vinacao là trồng được cây ca cao, phát triển được vườn cây, chủ động được nguồn hạt, nó có khả năng chế biến sang sô cô la, có thể là phát triển thành phẩm, có thể xây dựng thương hiệu, thì nó sẽ tránh được những biến động cơ bản về giá cả. Đó cũng là một lợi thế mà Vinacacao và các doanh nghiệp nhỏ lẻ có thể khai thác. Nhưng để xâm nhập được thị trường châu Âu, sôcôla "made in Vietnam" phải đáp ứng những tiêu chuẩn gì? Để vào thị trường châu Âu, chúng tôi có những chiến lược khá là cụ thể. Thứ nhất, mình sẽ không đi về lượng, đặc biệt là mình không bán hàng trăm ngàn tấn, hoặc cả triệu tấn như Ghana và Côte d'Ivoire, mà chúng tôi chọn những hạt cacao premium và từ đó làm ra những loại sôcôla single origin. Hiện nay Châu Âu có đặt ra những rào cản mới. Ngoài các tiêu chuẩn về an toàn vi sinh thực phẩm, hoặc chất lượng như ISO hoặc là FSSC, hiện nay cộng đồng chung Châu Âu, vì ý thức bảo vệ môi trường, đã đưa ra luật mới, áp dụng vào tháng 12/2025 này: Những hạt ca cao nào mà sản xuất từ vùng đất không phá rừng thì mới đạt tiêu chuẩn nhập vào châu Âu. Đây là một luật khó, nhưng nó lại tạo thuận lợi cho những quốc gia như Việt Nam, đi sau thì sẽ có chuẩn bị tốt hơn, còn những quốc gia đã có truyền thống gần 100 năm nay xuất khẩu hạt lấy từ nhiều nguồn khác nhau, từ rừng rậm hoặc phá rừng để trồng cây thì hiện nay giống như là phải "sắp lại một bàn cờ mới". Các vùng đất Đồng bằng Sông Cửu Long từ xưa giờ được kiểm chứng rất rõ là không phá rừng. Đó là vùng canh tác tự nhiên của người Việt Nam mình có thể là từ vài trăm năm. Đó là thuận lợi rất lớn. Và khi mình lấy những certification, ví dụ như từ Rainforest Alliance, những tổ chức phi lợi nhuận dùng các không ảnh vệ tinh để biết được những vùng nào trong 14 năm vừa qua nhờ phá rừng mà có. Hoặc là những vùng nào trong 14 năm qua vẫn không có tình trạng này. Khi có những chứng thư đó thì mình dễ được chấp nhận bởi các nước EU, những quốc gia tiêu thụ sôcôla nhiều nhất thế giới. Chúng tôi được biết là vừa qua các ông có sang Pháp để thăm dò thị trường. Vậy thì qua chuyến đi đó, ông thấy là Vinacacao có thể thi hành những biện pháp nào để có thể thâm nhập thị trường Pháp dễ dàng hơn? Vừa rồi đại sứ Việt Nam, rồi bộ Công Thương, kết hợp với các hiệp hội ở Pháp về thực phẩm và đặc biệt là có sự tham dự của Monoprix, một hệ thống siêu thị khá lớn ở Pháp, chúng tôi có một buổi hội thảo rất có ý nghĩa tại Paris. Trong buổi hội thảo đó, tôi cũng đặt vấn đề thương mại hai chiều, có nghĩa là những sản phẩm sôcôla nào ngon của Pháp thì chúng tôi sẵn sàng đưa về Việt Nam và đồng thời cũng đặt vấn đề là các ông hãy xem xét để có thể mua ngược lại. Rất may một đại diện của một hãng lớn là Valrhona, sở hữu thương hiệu La Maison du Chocolat Paris, rất quan tâm tới việc hợp tác để đem dòng sôcôla rất là ngon và đặc biệt của Việt Nam, premium về quality, để họ sẽ phát triển một dòng sôcôla riêng. Đồng thời tôi cũng sẽ tìm kiếm phương thức để đem về những sản phẩm thành phẩm của Châu Âu, đặc biệt là của Pháp. Người ăn sôcôla châu Âu là người tiêu dùng có ý thức trách nhiệm, có nghĩa là họ hiểu được ăn sôcôla này có ảnh hưởng gì tới kinh tế địa phương, có gây bất cân bằng về cung cầu và gây thiệt hại cho lao động địa phương, có giúp phát triển được kinh tế địa phương không? Có gây ra sự không công bằng trong thương lượng giữa công ty châu Âu và và kinh tế địa phương không? Người Việt Nam phải đưa đặc điểm rõ ràng của sôcôla Việt Nam đến người tiêu dùng châu Âu, trong đó có Pháp, để họ hiểu đây là một đặc phẩm có trách nhiệm. Khi ăn họ cảm thấy đã đóng góp được cho kinh tế địa phương tại những vùng kém phát triển hơn. Thứ hai là hiện nay, với ý thức của người châu Âu về tiêu dùng xanh, về trách nhiệm xã hội, về ESG- Environmental (Môi trường), Social (Xã hội) và Governance (Quản trị doanh nghiệp) - doanh nghiệp Việt Nam ngay từ bây giờ, khi thiết kế sản phẩm phải chú ý rõ ràng nguồn gốc và các giấy tờ chứng minh là không thâm lạm về phá hoại môi trường, không thâm lạm về lao động trẻ em, không thâm lạm về các chất hóa học và trừ sâu. Tôi nghĩ đây là con đường mới và một tương lai mới cho sôcôla Việt Nam.
Với một bức tường thành kiên cố, Trung Quốc tự tin lao vào một cuộc đối đầu với Mỹ ở mọi hiệp trong trận chiến thương mại mà tổng thống Trump khai mào ngay từ những ngày đầu trở lại Nhà Trắng. Liên Âu bị kẹt giữa 2 thế lực Mỹ-Trung. Sau gần 4 năm « tự chủ về năng lượng », Bruxelles bớt phụ thuộc vào dầu khí của Nga để dựa vào các nhà sản xuất Hoa Kỳ, trong lúc năng lượng tái tạo chưa thực sự cất cánh. Năm 2025 sắp khép lại, các chủ đề trên đây đã làm lu mờ những khu vực khác trên thế giới. Có rất ít bài phân tích về tác động hai cuộc chiến tại Ukraina và Gaza với toàn cầu. Khu vực Trung Đông, châu Phi … chỉ thi thoảng được nhắc tới, khi tổng thống Hoa Kỳ công du các quốc gia vùng Vịnh, hay khi ông triệu tập các lãnh đạo của châu Phi đến Washington ký một thỏa thuận ngừng bắn tại một châu lục « rất xa xôi » trong mắt ông Trump. Các hội nghị thường niên của khối BRICS quy tụ những nền kinh tế đang trỗi dậy, của hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN, diễn đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương APEC, các khối G7 hay G20 « chỉ họp hội nghị cho có lệ ». Tại G20 vừa qua ở Gyeongju, Hàn Quốc, tổng thống Mỹ đã vắng mặt. Donald Trump rời khỏi quốc gia Đông Bắc Á này sau thượng đỉnh Busan với lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình. Như thể về kinh tế, thế giới giờ đây chỉ còn lại hai cực là Mỹ và Trung Quốc. Trung Quốc, « too big to deal » Tháng 4/2025, sau ba tháng trở lại cầm quyền, tổng thống Mỹ dùng đòn « thuế đối ứng » mở một cuộc chiến thương mại với toàn cầu. Trong những tháng tiếp theo, từ Liên Hiệp Châu Âu đến Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc hay Việt Nam … hối hả cử phái đoàn sang Washington đàm phán, nhưng riêng Trung Quốc là một ngoại lệ. Sau nhiều vòng đàm phán với chính quyền Washington, các đối tác thương mại chính của Mỹ như Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc thở phào nhẹ nhõm thấy hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ trung bình bị áp thuế 15% thay vì 30-40% như ông Trump đã dọa ban đầu. Sắc lệnh điều chỉnh mức thuế đối ứng, được công bố hôm 01/08/2025, duy trì mức thuế 20% với hàng Việt Nam thay vì 46% như đã loan báo 4 tháng trước đó. Nhà Trắng khẳng định đánh thuế hàng nước ngoài cho phép thu về « hàng chục tỷ, thậm chí là cả ngàn tỷ đô la » cho nước Mỹ. và Donald Trump dự trù dùng số tiền khổng lồ đó để giảm thuế cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, tăng chi tiêu xã hội và quốc phòng … Cố vấn thương mại của Nhà Trắng Peter Navarro chừng mực hơn khi cho rằng « dưới sự dẫn dắt sáng suốt của tổng thống » khi sử dụng các đòn thuế quan, « ngân sách Hoa Kỳ mỗi năm thu về được thêm 600 tỷ đô la ». Để so sánh, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ năm 2022 là 3.200 tỷ đô la. Trái lại, theo một nghiên cứu của đại học Yale, với mức thuế hải quan 25%, thu nhập của các hộ gia đình Mỹ sẽ bị sụt giảm từ 2.700 đô la đến 3.000 đô la mỗi năm. Trung Quốc chuyển từ thế « thủ » sang thế « công » Về phía Trung Quốc thoạt tiên đã nhường cho Hoa Kỳ tha hồ « leo thang » với những tuyên bố về hạn ngạnh thuế quan có lúc lên tới 240% … để rồi Bắc Kinh đổi chiến lược. Trung Quốc dùng đất hiếm để mặc cả với Donald Trump vào lúc Nhà Trắng có kế hoạch xây dựng « mái vòm vàng tự vệ » tựa như mái vòm chống tên lửa của Israel. Chuyên gia kinh tế Alix Franguel Alves thuọc quỹ nghiên cứu German Marshall Fund of the United States tại Washington trên đài RFI ghi nhận chính sách thuế quan của tổng thống Trump đi theo logic giành lại vị trí trung tâm trên bàn cờ thương mại thế giới, vào lúc mà Hoa Kỳ trong thế nhập siêu « thường trực ». Thâm hụt mậu dịch của Mỹ năm 2024 lên tới 3.000 tỷ đô la và trên bàn cờ thương mại toàn cầu, Mỹ chỉ còn chiếm 13% . Năm 2025 là năm mà mô hình « kinh tế toàn cầu hóa » bị « phân mảnh », các khối kinh tế khu vực ngày càng đóng vai trò lớn hơn. Bên cạnh tranh luận ai được ai thua trong cuộc đọ sức thương mại này, hậu quả trước mắt là các đối tác của Hoa Kỳ đã hối hả khởi động lại hoặc đúc kết đàm phán về môt thỏa thuận tự do mậu dịch. Châu Âu bất chấp những chống đối trong nội bộ ký kết bằng được thỏa thuận tự do mậu dịch với khối các quốc gia châu Mỹ Latinh MERCOSUR. Trung Quốc chạy nước rút để thông qua những thỏa thuận « đối tác chưa từng có » với quần đảo Cook ở mãi tận Nam Thái Bình Dương, hay khởi động đàm phán với Kirghistan tại Trung Á. Cũng chính sách bảo hộ này của Mỹ đã thúc đẩy Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc xích lại gần nhau để hướng tới « đàm phán về một thỏa thuận tự do mậu dịch » giữa ba quốc gia Đông Bắc Á này. Thế rồi, trong lúc Hoa Kỳ bắt thế giới phải chạy theo những thông báo « sốc » gần như hàng ngày của Donald Trump, Bắc Kinh đã từng bước xây dựng mạng lưới công nghiệp và công nghệ để chuẩn bị đối đầu với Mỹ. Tiêu biểu nhất là Trung Quốc đang dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, nhiều nước châu Âu đang cố gắng học hỏi công nghệ chế tạo bình điện cho xe ô tô của Trung Quốc và đòi các đối tác Trung Quốc « chuyển giao công nghệ » trong các dự án hợp tác. Hơn thế nữa, ngay cả trong các mảng mà tưởng chừng Hoa Kỳ đang dẫn đầu, như trí tuệ nhân tạo, sản xuất máy chế tạo bọ điện tử tiên tiến nhất … thì Trung Quốc cũng đã tạo bất ngờ. Điểm đáng chú ý sau cùng trong cuộc đọ sức Mỹ Trung là vào lúc tổng thống Trump dùng đòn hù dọa và o ép các đối phương bằng sức mạnh kinh tế, thì ông Tập Cận Bình trong năm 2025 đã dùng đúng lá bài này kể cả đối với Donald Trump. Châu Âu bị kẹt giữa hai thế lực Năm 2025 vẫn là một năm mà tham vọng « tự chủ » về năng lượng, quốc phòng hay kỹ thuật số của toàn khối 27 nước châu Âu vẫn còn ngoài tầm tay. Trên đài phát thanh Pháp France Culture hôm 10/12/2025 chuyên gia Olivier Blanchard, nguyên kinh tế trưởng Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, lấy làm tiếc cho một khối quốc gia thịnh vượng và có nhiềm tiềm năng như Liên Hiệp Châu Âu : « Châu Âu đương nhiên gặp nhiều khó khăn, tất cả không đều do lỗi của ông Trump. Trước hết có những vấn đề nội bộ : Châu Âu đang đối mặt với hiện tượng các đảng cực hữu đang lên và cánh này không có khuynh hướng ủng hộ châu Âu. Hệ quả là Liên Âu bị tê liệt, không đưa ra được những quyết định dứt khoát. Đây thực sự là cả một vấn đề lớn với khối này, nhất là trong bối cảnh môi trường quốc tế bất thuận lợi vì hai thế lực Mỹ và Trung Quốc. Với Hoa Kỳ, Liên Âu không thực sự có vũ khí để mặc cả bất kỳ điều gì : Châu Âu không có đất hiếm như Trung Quốc và cũng không có bất kỳ một phương tiện nào để đánh trúng những nhược điểm của đối thủ này. Đó là một thực tế. Thế còn đối với Trung Quốc, thì đây tựa như một bàn billard 3 cú, tức là Mỹ đánh thuế hàng của Trung Quốc thì cũng sẽ ảnh hưởng đến Liên Hiệp Châu Âu. Lý do : Trung Quốc không thể xuất khẩu hàng sang Hoa Kỳ nên tăng tốc, ồ ạt xuất khẩu sang châu Âu. Châu lục này sẽ phải đối mặt với một làn sóng hàng Trung Quốc. Đối với nền công nghiệp của châu Âu, vấn đề chính là Trung Quốc. Bắc Kinh đã chủ trương phát triển một chiến lược khá tốn kém, tức là dùng rất nhiều tiền, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp để giúp họ phát triển. Đương nhiên trong số các doanh nghiệp được giúp đỡ cũng có không ít thất bại, thế nhưng, những ai mà đã thành công để vươn lên thì họ đã bắt đầu với những lợi thế vô cùng to lớn, vì được nhà nước giúp đỡ. Trong những điều kiện đó, rất khó để các tập đoàn châu Âu cạnh tranh lại được ». Nga-Mỹ ngầm bắt tay hợp tác trên lưng Ukraina Riêng có Ukraina là một hồ sơ mà chủ nhân Nhà Trắng liên tục theo dõi từ ngày đầu trở lại cầm quyền : Donald Trump từng khẳng định chỉ cần 24 giờ để chấm dứt chiến tranh, nhưng mọi việc kéo dài hơn ông mong đợi. Cũng trong nỗ lực vãn hồi hòa bình tại Ukraina, tổng thống Mỹ đã mời nguyên thủ Nga sang Alaska tháng 8/2025. Nhưng kết quả vẫn chưa đi đến đâu. Tổng thống Trump bắt đầu « mất kiên nhẫn » trên vấn đề Ukraina. Điều đó không cấm cản Washington và Matxcơva âm thầm thúc đẩy hợp tác kinh tế. Báo The Wall Street Journal tuần trước thậm chí cho rằng các dự án hợp tác kinh tế giữa hai bên hiện đã đạt mức độ rất cụ thể, liên quan trực tiếp đến một số nhà tài phiệt Nga, đến một mỏ khí đốt tại Sakhalin, tại vùng biển Okhotsk, thuộc vùng Viễn Đông Nga. Về phía Matxcơva, từ tháng 2/2025 tổng thống Vladimir Putin đã chủ trì một cuộc họp về khai thác đất hiếm và đã đề cập đến các mỏ tài nguyên tại « những vùng lãnh thổ mới » tên mà Matxcơva gọi các vùng lãnh thổ vừa chiếm được của Ukraina, và để ngỏ khả năng mời các đối tác Mỹ cùng tham dự. Căn cứ vào các thông tin từ báo tài chính Mỹ, vào lúc Hoa Kỳ gây áp lực với Ấn Độ đòi New Delhi ngừng hay hạn chế mua vào dầu hỏa của Nga, chính quyền Donald Trump lại âm thầm đàm phán với Matxcơva cũng về năng lượng và dầu khí !
Bất chấp những áp lực của Hoa Kỳ, Ấn Độ vẫn mua dầu hỏa của Nga và Matxcơva vẫn là nguồn cung cấp năng lượng và vũ khí « đáng tin cậy » nhất cho quốc gia Nam Á này. Chuyên gia về địa chính trị Olivier Guillard thuộc viện nghiên cứu IEGA, Paris, nhận định tổng thống Vladimir Putin muốn khẳng định « quan hệ về năng lượng giữa Nga và Ấn Độ không bị áp lực quốc tế phá vỡ ». New Delhi lâm vào « thế kẹt » trong mối quan hệ tay ba Ấn-Nga-Mỹ nhưng không thể rời xa nguồn cung ứng « quan trọng nhất » đang bảo đảm 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu năng lượng cho toàn quốc. Tuần trước, trong chuyến công du Ấn Độ đầu tiên từ khi khởi động « chiến dịch quân sự » đặc biệt tại Ukraina, tổng thống Vladimir Putin vừa đặt chân đến New Delhi đã tuyên bố:« Nguồn dầu Nga cung dầu cho Ấn Độ sẽ tiếp tục mà không bị gián đoạn, bất chấp những áp lực từ bên ngoài ». Nga cung cấp 1/3 dầu hỏa cho Ấn Độ Phải đặt tuyên bố này trong bối cảnh từ năm 2022 khi Nga xâm chiếm Ukraina, dưới tác động của các lệnh trừng phạt mà phương Tây ban hành, xuất khẩu năng lượng của Nga sang châu Âu - khách hàng quan trọng nhất, giảm gần 80 %. Các tập đoàn dầu khí của Nga lập tức chuyển hướng sang châu Á, trông cậy nhiều vào Ấn Độ và Trung Quốc. Cả hai đã trở thành những khách hàng quan trọng nhất. Riêng Ấn Độ, từ năm 2024 bất ngờ qua mặt Trung Quốc, nhập khẩu đến hơn 2 triệu thùng dầu của Nga mỗi ngày, chiếm hơn 1/3 tổng kim ngạch nhập khẩu năng lượng của Ấn Độ. Cuối tháng 8/2025 tổng thống Donald Trump áp đặt mức thuế bổ sung 50% lên toàn bộ hàng hóa Ấn Độ nhập khẩu vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Mục đích của Washington là gây sức ép, để New Delhi bớt mua dầu hỏa của Nga bởi khoản giao dịch này góp phần tài trợ cho cuộc chiến mà Nga đang tiến hành ở Ukraina. Đây cũng là một trong những yếu tố làm xấu đi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ân Độ. Chủ nhân Nhà Trắng cho biết, ông được thủ tướng Narendra Modi cam đoan là Ấn Độ « ngừng mua dầu của Nga ». New Delhi hoàn toàn im lặng về điều này cho dù theo các thống kê của hải quan Ấn Độ, trong giai đoạn từ đầu tháng 9 đến ngày 21/11/2025, tổng kim ngạch nhập khẩu dầu Nga của Ấn Độ giảm đi 30 %. Ấn Độ và chủ trương « không liên kết » Dầu hỏa là một trong hai hồ sơ quan trọng nhất trong bang giao giữa New Delhi và Matxcơva. Trả lời RFI Việt ngữ, chuyên gia Olivier Guillard thuộc Viện Nghiên Cứu về Địa Chính Trị Thực Hành -Institut d’Etudes de Géopolitique Appliquée -IEGA, Paris trước hết nhấn mạnh : tiếp đón trọng thể tổng thống Nga trong bối cảnh « cơm chẳng lành canh chẳng ngọt » với Mỹ, thủ tướng Modi thể hiện truyền thống không liên kết về đối ngoại của New Delhi. Hơn nữa hai hồ sơ lớn là năng lượng và quốc phòng luôn gắn chặt Ấn Độ với Nga : Olivier Guillard : « Chuyến thăm ngắn ngủi 27 giờ của tổng thống Nga tại Ấn Độ diễn ra đúng như những gì hai nhà lãnh đạo Vladimir Putin và Narendra Modi đã tính trước. Đây là một cuộc tái ngộ giữa hai đối tác lâu năm và họ rất ăn ý với nhau. Cả hai đánh giá cao đối tác và cũng chính những tình huống khó khăn giúp New Delhi và Matxcơva dễ dàng tạo dựng một liên minh. Đôi bên đã ký kết nhiều thỏa thuận, đặc biệt là về thương mại. Hợp tác mậu dịch giữa Ấn Độ và Nga đã mở rộng tới mục tiêu nâng tổng trao đổi mậu dịch hai chiều lên ngưỡng 100 tỷ đô la từ nay đến khoảng năm 2030. Đương nhiên đây là chuyến thăm đầu tiên của Vladimir Putin đến Ấn Độ kể từ khi Nga phát động cuộc chiến tại Ukraina. Phương tây muốn thủ tướng Modi dùng ảnh hưởng để thuyết phục tổng thống Nga trong vấn đề này ». Chiến tranh Ukraina đã truất phế Ả Rập Xê Út khỏi vị trí nhà cung cấp số 1 về dầu hỏa cho Ấn Độ. Cuối năm 2021, chỉ có 2 % nhập khẩu dầu vào Ấn Độ là do các tập đoàn Nga cung cấp, nhưng tỷ lệ này đã tăng vọt lên tới 35 % và có lúc lên đến 40 % trong năm 2024. Theo tạp chính năng lượng Connaissances des Energies, về dầu hỏa Ấn Độ phụ thuộc đến 85 % vào Nga. Có ít nhất hai lý do giải thích cho « bước nhảy vọt » nói trên: Nga cung cấp dầu cho Ấn Độ với giá thấp hơn nhiều so với thị trường. Theo tờ báo mạng Lenergeek Ấn Độ đang mua vào dầu của Nga với giá thấp hơn đến 12 % so với giá một thùng dầu Brent. Điểm thứ nhì là Ấn Độ nhập khẩu dầu thô của Nga, bảo đảm công tác lọc dầu trước khi xuất khẩu trở lại sang châu Âu và một số nước châu Á như Nhật Bản. Tiêu biểu nhất là đầu tư của Ấn Độ vào công nghiệp lọc dầu tăng mạnh từ 2023 đến nay. Olivier Guillard, viện IEGA Paris phân tích thêm : Olivier Guillard : « Về năng lượng, New Delhi từng bị chỉ trích mua dầu của Nga với giá rẻ trong khi một phần lớn dầu xuất khẩu của Nga bị phương Tây trừng phạt. Hoa Kỳ đang đòi Ấn Độ bớt mua dầu của Nga và chuyển hướng đến các nguồn cung cấp khác. Trên thực tế chính quyền Modi đã nhượng bộ Mỹ phần nào. Do vậy mục tiêu chuyến công du New Delhi lần này của tổng thống Vladimir Putin nhằm cứu vãn quan hệ đối tác năng lượng Nga – Ấn trong tương lai. Matxcơva cần được bảo đảm là liên hệ về năng lượng giữa hai nước vẫn không bị áp lực quốc tế phá vỡ. Chính vì thế mà ông Putin tuyên bố Nga vẫn cung cấp dầu hỏa cho Ấn Độ ». 70 % vũ khí của Ấn Độ do Nga cung cấp Đương nhiên hồ sơ quan trọng thứ hai và cũng đang chịu áp lực từ phía Mỹ là vấn đề quốc phòng : Hiện tại tổng trao đổi mậu dịch hai chiều giữa Ấn Độ và Nga đạt gần 70 tỷ đô la. Lãnh đạo 2 nước vừa cam kết nâng số này lên thành 100 tỷ trước ngưỡng năm 2030. Nhưng đây là một cán cân thương mại hoàn toàn bất lợi cho New Delhi. Nga do bán vũ khí và năng lượng xuất khẩu đến 64 tỷ đô la sang Ấn Độ năm ngoái, trong chiều ngược lại chỉ mua vào có 5 tỷ đô la hàng Made in India. Trước ngày tổng thống Putin gặp lại thủ tướng Modi ở New Delhi, Matxcơva để ngỏ khả năng đôi bên sẽ chính thức thông báo một loạt các hợp đồng vũ khí và thiết bị quân sự hạng nặng, nhưng theo các nguồn thạo tin, cho đến hôm nay, vẫn chưa có thêm thông tin về hợp đồng Matxcơva cung cấp tên lửa địa đối không tầm xa S-400 hay chiến đầu cơ Su-57 thế hệ mới nhất cho New Delhi. Một nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI trong thời gian từ 2010 đến 2017, 70 % đơn đặt hàng của Ấn Độ đều dồn cho các nhà cung cấp Nga, nhưng từ khi Matxcơva chiếm bán đảo Crimée của Ukraina, New Delhi bắt đầu đa dạng hóa các nguồn cung cấp, đặc biệt chuyển hướng tới các tập đoàn của Mỹ, Israel và của Pháp. Ấn Độ, « khách hàng Matxcơva không thể đánh mất » Trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng, thông điệp của tổng thống Vladimir Putin tuần trước với New Delhi cũng rất rõ ràng, như chuyên gia về địa chính trị viện IEGA Olivier Guillard nhận định : Olivier Guillard : « Hồ sơ lớn thứ hai, như thường thấy trong các cuộc thảo luận chiến lược giữa Nga và Ấn Độ, là vấn đề quốc phòng. Trong nhiều thập niên, Liên Xô xưa kia và nước Nga ngày nay luôn là nguồn cung cấp chính các trang thiết bị quân sự hạng nặng cho Ấn Độ — đặc biệt là máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, cũng như các hệ thống phòng thủ tên lửa. Ấn Độ muốn tiếp tục hưởng lợi từ quan hệ đối tác này, bởi vì khi mua các hệ thống vũ khí hoặc máy bay chiến đấu, công tác bảo trì và theo dõi thiết bị kéo dài hàng chục năm; không thể « cắt đứt ngay lập tức » trong một sớm một chiều. Trong gần hai chục năm qua, New Delhi vẫn tương đối trung thành với nhà cung cấp Nga, nhất là trong bối cảnh quan hệ giữa New Delhi và Washington trở nên căng thẳng gần đây. Tương tự như trên vế năng lượng, Vladimir Putin đến Ấn Độ cũng là để nhắc nhở rằng Nga là một nhà cung cấp vũ khí đáng tin cậy ». Cuối cùng nhà địa chính trị học Guillard nhìn nhận vị trí khá tế nhị của thủ tướng Modi trong một ván cờ tay ba giữa Nga, Mỹ và Ấn Độ nhưng về năng lượng cũng như hợp tác quốc phòng, Vladimir Putin và Narendra Modi cùng muốn gửi đến tổng thống Donald Trump một thông điệp: Chính sách đối ngoại của Matxcơva hay New Delhi đều không do Hoa Kỳ định đoạt. Riêng đối với điện Kremlin, trên cả hai vế năng lượng và quốc phòng, Ấn Độ là « khách hàng không thể đánh mất ». Olivier Guillard : « Ngay hôm Thứ Hai, 08/12/2025 sau khi nguyên thủ Nga rời khỏi Ấn Độ, New Delhi đã tiếp nhiều quan chức Mỹ như thể để cân bằng lại mối quan hệ đồng thời trình bày về những gì đã thảo luận giữa thủ tướng Narendra Modi và tổng thống Vladimir Putin. Điều đó cho thấy Ấn Độ thận trọng giữ thế cân bằng giữa Nga và Mỹ. Tuy nhiên, New Delhi và Matxcơva đã ký một loạt thỏa thuận nhằm củng cố quan hệ đối tác kinh tế và và hợp tác song phương khá đa dạng chứ không chỉ bị thu hẹp ở các lĩnh vực năng lượng và quốc phòng. Hai đối tác lâu đời này muốn chứng minh rằng chính sách đối ngoại của mỗi bên không do Hoa Kỳ quyết định, và lợi ích của Ấn Độ cũng như của Nga không để Nhà Trắng chi phối. Trong cái thế tam giác giữa Ấn Độ - Mỹ và Nga, đến nay New Delhi vẫn giữ được thế chủ động, nhưng cũng có thể là chính quyền Modi được nhắc nhở là Mỹ không mấy hài lòng ».
Stablecoin neo giá theo đồng đô la là một vũ khí chiến lược mới của Washington. Với Genius Act, chính quyền Trump trang bị cho nước Mỹ thêm một công cụ để mở rộng ảnh hưởng của đồng đô la. Tiền ảo Cryptocurrency là một mặt trận mới trong cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chính sách kinh tế trong nhiệm kỳ hai của tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và những cuộc xung đột quân sự trên thế giới, sự đối đầu giữa hai siêu cường kinh tế toàn cầu và mức nợ công khổng lồ của Mỹ từng bước làm lung lay hệ thống tiền tệ quốc tế, vốn đã được đình hình từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Lợi thế áp đảo của đồng đô la với phần còn lại trên thế giới có khuynh hướng bị nhân dân tệ của Trung Quốc lấn át. Để làm chủ lại tình hình, Washington đặt cược vào công nghệ số và tiền digital Cryptocurrency. Xa lánh đô la ? Tháng 4/2025, tổng thống Donald Trump thông báo áp dụng chính sách « thuế đối ứng » với toàn cầu. Lập tức các chỉ số chứng khoán lao dốc. Cùng lúc hai chủ nợ lớn của Mỹ là Nhật Bản và Trung Quốc mạnh tay bán ra một số công trái phiếu của Hoa Kỳ mà Tokyo và Bắc Kinh đang nắm giữ. Bên cạnh đó là những tuyên bố của chủ nhân Nhà Trắng thách thức tính độc lập của Ngân Hàng Trung Ương và mức nợ khổng lồ của chính quyền liên bang khiến đồng đô la mất giá. Ba tháng sau, tổng thống Trump ban hành sắc lệnh Genius Act thiết lập một khung pháp lý toàn diện cho các loại tiền mã hóa, mà tỷ giá được gắn chặt vào với đồng đô la. Đà phát triển của các công nghệ kỹ thuật số đang làm thay đổi toàn cảnh tài chính tại Hoa Kỳ. Donald Trump từ trước khi ra tranh cử nhiệm kỳ thứ hai, ông và gia đình đã phát hành một đơn vị tiền tệ ảo cá nhân. Tại Nhà Trắng, ông chủ địa ốc New York này muốn biến nước Mỹ thành « quê hương của tiền điện tử », đặc biệt là của tiền ảo Stablecoin và cũng để sử dụng công cụ này như một vũ khí ngoại giao và địa chính trị. Đâu là những lợi thế và rủi ro của Cryptocurrency ? Mỹ đang tính toán những gì và đây phải chăng là mặt trận mới trong cuộc đọ sức với Trung Quốc ? Trên đài phát thanh Pháp France Culture hôm 15/11/2025, chuyên gia về tiền tệ Olivier Blanchard, nguyên kinh tế trưởng Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF cho rằng chính sách kinh tế, các đòn thuế quan của tổng thống Trump khiến cộng đồng quốc tế có khuynh hướng giữ khoảng cách với đô la Mỹ : « Từ khi Trump trở lại cầm quyến, mọi người bắt đầu tự hỏi, mua công trái phiếu kỳ hạn 10 hay 20 năm do kho bạc Mỹ phát hành có còn là điều hợp lý và an toàn nữa hay không. Mặt khác, vấn đề là nếu không đầu tư vào Mỹ, vào công trái phiếu của Hoa Kỳ, thì giới tài chính có nhiều lựa chọn nào hay không ? Nhìn sang thị trường châu Âu, tiềm năng của cả khối này gộp lại có vẻ cũng có triển vọng. Nhưng hiện tại Đức, Pháp đơn phương phát hành công trái phiếu. Riêng Eurobond thì vẫn còn ở quy mô rất hạn hẹp. Cụ thể là vào lúc thị trường công trái phiếu của Mỹ là 30.000 tỷ đô la thì khối Euro mới chỉ phát hành 1.000 tỷ euro công trái phiếu, tức là thị trường châu Âu chỉ bằng 1 phần 30 so với của Hoa Kỳ. Do vậy trước mắt, tôi cho rằng đô la vẫn có giá trị ổn định cao và vẫn là một đơn vị dự trữ an toàn ». Giới hạn từ việc chính trị hóa đồng đô la Có điều ngoài đồng đô la ra thì cũng không một đơn vị tiền tệ nào đủ sức cạnh tranh với đồng tiền của Mỹ. Đó là lý do Washington từ trước tới nay chưa bao giờ ngần ngại khai thác các lợi thế của đô la vì mục tiêu địa chính trị. Kinh tế gia Hélène Rey, trường quản trị kinh doanh London Business School trả lời đài France Culture : « Do đô la là một đồng tiền được sử dụng rất rộng rãi trong các giao dịch quốc tế, cho nên khi Hoa Kỳ dùng đô la như một vũ khí vì những mục tiêu địa chính trị - như việc cắt Nga khỏi hệ thống giao dịch của các ngân hàng quốc tế SWIFT, do tầm quan trọng của đồng đô la, đồng tiền của Mỹ trở thành một vũ khí cực kỳ mạnh. Chính ở đây ta thấy điểm giao thoa giữa quyền lực, quan hệ quốc tế và tài chính. Và bởi vì vũ khí này quá mạnh, cho nên một số quốc gia – như Trung Quốc và trước đó là Nga, đã cố gắng thoát khỏi hệ thống tiền tệ truyền thống này để xây dựng những hệ thống song song ». Mỹ cũng dùng đòn chia để trị Cũng trong khuôn khổ chương trình của đài France Culture, Eric Monnet giáo sư trường Paris School of Economics (PSE) nhấn mạnh : Washington đang kỳ vọng vào tiền mã hóa để giành lại sân chơi đang bị Trung Quốc gặm nhấm : « Ngày càng có ít quốc gia chấp nhận đồng đô la như một đồng tiền sử dụng trên thực tế. Chính điều đó có lẽ khiến Hoa Kỳ lo ngại. Washington cảm thấy ảnh hưởng của đô la đang bị thu hẹp lại và nhất là nhiều quốc gia dưới áp lực của Bắc Kinh muốn khẳng định họ tự chủ trên phương diện tiền tệ, để bớt phải phụ thuộc vào đồng tiền của Mỹ. Một lần nữa trên hành trình đi tìm ‘sự độc lập’ này, Trung Quốc đã chủ động và lại còn chứng tỏ tính ưu việt của mình. Bắc Kinh có sức thuyết phục để nhiều quốc gia trên thế giới tin tưởng hơn vào Trung Quốc, tin tưởng có thể phát triển mà không phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Chính vì vậy mà Washington muốn giành lại thế thượng phong, giành lại ảnh hưởng cho đơn vị tiền tệ của Hoa Kỳ và đã có những cử chỉ thân thiện với Achentina hay El Salvador, những nước có lập trường thân Mỹ. Chúng ta biết tính cách của Donald Trump ông chỉ muốn đàm phán song phương để áp đặt đối phương phải hành động theo các quy tắc do ông áp đặt ». Nguy cơ khủng hoảng tài chính ngân hàng Về câu hỏi sử dụng các loại tiền mã hóa, có nguy hiểm hay không, Olivier Blanchard đưa ra hai yếu tố để trả lời. « Nhìn từ góc độ của các ngân hàng, tiền ảo thực sự là một thảm họa. Hai mối nguy hiểm lớn liên quan đến Stablecoin đặt ra là thứ nhất nếu các thân chủ ồ ạt dùng tiền ảo này, thì họ sẽ rút tiền ủy thác khỏi các ngân hàng, tức là các ngân hàng không còn vốn để hoạt động, không thể cấp tín dụng, không thể sinh lời … Đe dọa thứ hai, là khi có Stablecoin trong tay, người ta dễ mang đi đầu tư ở những nơi khác để kiếm lãi. Hiện đã mọc lên rất nhiều những trang quảng cáo rất ‘hời’, hứa hẹn những mức lãi rất cao. Nhưng bỏ tiền vào đó có an toàn hay không ? Bởi vì những điểm đến đầu tư đó, phần lớn không có ai quản lý. Các hoạt động tài chính đó hoàn toàn nằm ngoài các khuôn khổ quản lý của các giới chức có thẩm quyền. Thành thử người ta dễ bị lừa, dễ mất tiền. Từ đó nảy sinh mầm móng của một cuộc khủng hoảng và đó cũng là thêm một rủi ro nghiêm trọng đe dọa toàn bộ hệ thống tài chính, ngân hàng ». Xung đột lợi ích cá nhân và nghi ngờ tham nhũng Tuy nhiên trong trường hợp của đạo luật đầu tiên tại nước Mỹ về Cryptocurrency được tổng thống Trump ban hành, giáo sư Eric Monnet nêu bật hai nghi vấn liên quan đến đạo luật Genius Act : « Trump quyết liệt thúc đẩy đạo luật Genius Act, đặt nền tảng pháp lý cho các hoạt động trong lĩnh vực Cryptocurrency. Nhưng ở đây có vấn đề xung đột lợi ích. Một là người ta cho rằng tổng thống Trump đã tạo ra một khung pháp lý vì lợi ích cá nhân và của gia đình ông. Thứ hai, qua các tiết lộ trên báo chí - là điểm mà hiện nay nhiều người thậm chí cho rằng đó là hành vi mang tính chất tham nhũng. Thí dụ như trường hợp đang được bàn luận nhiều nhất hiện tại là việc một quỹ đặc biệt thuộc chính phủ Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất đã mua lại 2 tỷ đô la tiền điện tử do chính tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và gia đình ông phát hành. Lạ thay là chỉ vài ngày sau đó, Washington đã dỡ bỏ một lệnh cấm xuất khẩu trước đây liên quan đến các dòng chip mà tập đoàn Nvidia sản xuất, đó là loại bỏ điện tử thiết hiếu trong lĩnh vực công nghệ trí tuệ nhân tạo. Hoa Kỳ từng viện lý do ‘an ninh quốc gia’ cấm xuất khẩu loại chip này sang Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất nhưng sau khi Abou Dabi mua vào 2 tỷ đô la tiền ảo do tổng thống Mỹ và gia đình ông Trump phát hành thì vương quốc Trung Đông này lại được nhập khẩu chip của Nvidia. Ngoài ra Donald Trump đã nhiều lần nhấn mạnh rằng đầu tư và mua vào đồng tiền ảo của gia đình Trump là một hành động chứng minh cho lòng yêu nước ». Cơ hội trốn thuế và phát triển các hoạt động phi pháp Hélène Rey đưa hai nguy cơ khác khi sử dụng các loại tiền crypto. Mối nguy hiểm thứ nhất mang tính trừu tượng với đa số công luận, là khi dùng tiền ảo, stable coin mà tỷ giá được gắn chặt vào đồng đô, thì một nền kinh tế đang trỗi dậy khó mà tự động điều chỉnh chính sách tiền tệ của mình. Nhưng hiểm họa thứ nhì dễ hiểu hơn như Hélène Rey giải thích : « Đây chính là công cụ để trốn thuế, để lẩn tránh mọi hình thức kiểm soát vốn, mọi quy luật tài chính, tiền tệ. Hệ quả kèm theo là biến tiền ảo stablecoin thành một công cụ phổ biến sử dụng trong các loại giao dịch phi pháp, trong các đường dây dark web. Các hoạt động phi pháp kiểu này được thuận lợi và càng dễ phát triển hơn và tôi nghĩ điều đó sẽ đem lại nhiều hệ quả đối với kinh tế vĩ mô ». Tham vọng của Bắc Kinh Riêng trong trường hợp của Trung Quốc, Hélene Rey gắn liền việc Bắc Kinh phát triển đồng tiền ảo với mục đích quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, để bớt phụ thuộc vào đô la Mỹ. Từ 2014 Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã phát triển đồng nhân dân tệ digital : « Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) cũng là ngân hàng trung ương đầu tiên triển khai một dạng tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC). Tuy nhiên họ không thật sự thành công vì bị chính các đồng tiền ảo do các tập đoàn như Tencent và Alibaba cạnh tranh. Họ cũng không cạnh tranh lại với những ứng dụng như tức Alipay và WeChat Pay, vốn đã rất phổ biến và được dân Trung Quốc sử dụng rộng rãi từ lâu nay. Điều đó không cấm cản Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc giành lại quyền kiểm soát và đã cho phát hành đồng nhân dân tệ kỹ thuật số. Có lẽ định chế này và giới lãnh đạo ở Bắc Kinh đang đặt cược vào công nghệ để thúc đẩy hơn nữa việc quốc tế hóa đồng nhân dân tệ ». Giành lại hào quang sợ bị đánh mất Eric Monnet cũng đồng quan điểm. Ông cho rằng Washington đang đẩy mạnh việc phát triển tiền crypto trước hết là để giành lại ảnh hưởng đang bị mai một của đô la, và nhất là muốn tránh để bị Trung Quốc lấn sân và cũng được hưởng « những lợi thế vô cùng to lớn » nếu như nhân dân tệ trở thành một đơn vị tiền tệ quốc tế, một đơn vị dự trữ an toàn. « Chiến lượ
Sau những « bong bóng » tin học, internet hay địa ốc, giờ đây đến lượt bong bóng AI đe dọa lại đẩy thế giới vào một cuộc khủng hoảng tài chính. Nhiều ngân hàng lớn từ đầu tháng 10/2025 liên tục báo động trước một kịch bản tai hại khi mà nhiều tập đoàn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo dù thua lỗ bạc tỷ nhưng vẫn thu hút đầu tư, cổ phiếu trên các sàn chứng khoán vẫn được trao đổi với những cái giá « trên trời ». Những lo ngại đó bắt nguồn từ đâu, căn cứ trên những cơ sở nào, hiện tượng « vết dầu loang » lần này tai hại đến đâu và liệu đã quá trễ để ngăn chận kịch bản tệ hại nhất ? Lạc quan thái quá Hôm 18/11/2025 chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Google, Sundar Pichai, người đang đầu tư đến 90 tỷ đô la từ đầu năm 2025 để phát triển AI nhìn nhận một cơn sốt công nghệ trí tuệ nhân tạo và ông lo rằng, nếu xảy ra khủng hoảng, không một tập đoàn nào trên thế giới tránh khỏi. « Đúng là khi chúng ta đang ở trong một chu kỳ mà, một cách tập thể, tất cả các nhà đầu tư đang vượt quá đà. Trong trường hợp cụ thể, công nghệ internet quả thực là hiện đang có quá nhiều vốn đầu tư vào lĩnh vực này. Đương nhiên là không một ai nghi ngờ về tầm mức quan trọng, cũng như tác động của lĩnh vực này trong đời sống của mỗi chúng ta. Internet đã thay đổi hoàn toàn nếp sống và cách chúng ta làm việc trong một thế giới digital. Tôi nghĩ rằng công nghệ AI cũng sẽ như vậy thôi … Vỡ bong bóng AI là điều khó tránh khỏi … Như những con thiêu thân, các nhà đầu tư trên thế giới, kể cả tập đoàn Sundar Pichai đang điều hành, « điên cuồng » thổi nên bong bóng AI : « Mới chỉ cách nay 4 năm Google đầu tư chưa tới 30 tỷ đô la hàng năm để phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo. Nhưng năm nay thì khoản đầu tư này đã vượt ngưỡng 90 tỷ đô la. Nếu như chúng ta cộng lại tất cả đầu tư từ các doanh nghiệp vào AI thì tổng số vốn lên tới hơn 1.000 tỷ chỉ để phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết trong lĩnh vực này ». Theo báo cáo hàng tháng của ngân hàng Bank of America công bố hôm 14/10/2025 nguy hiểm lớn nhất trong mắt các nhà đầu tư trên thế giới giờ đây là kịch bản vỡ bóng AI. Mối lo ngại này lấn át cả những mối bận tâm về lạm phát tại Hoa Kỳ, trước cả những nghi vấn về chính sách tiền tệ của Cục Dự Trữ Liên Bang, hay những mối đau đầu vì chính sách thuế quan chính quyền Trump ban hành gây trở ngại cho giao thương quốc tế. Ngày 08/10/2025 là một « bước ngoặt » trong trên các sàn chứng khoán khi mà cổ phiếu các tập đoàn công nghệ kỹ thuật số, đặc biệt là chỉ số Nasdaq tại Wall Street bắt đầu mất giá sau 6 tháng liên tiếp « tăng trưởng theo chiều thẳng đứng ». Lý do ngân hàng Goldman Sachs công bố một báo cáo với nghi nhận sức mạnh tài chính trên thế giới hiện đang tập trung cả vào « 10 doanh nghiệp lớn nhất của Mỹ », chiếm gần một phần tư toàn bộ thị trường cổ phiếu, và đây là một « mức độ tập trung » mà ngân hàng này đánh giá không lành mạnh. Chỉ nội Nvidia, trung tâm bàn cơ công nghệ kỹ thuật số và AI có trị giá chứng khoán hơn 5.000 tỷ đô la, lớn hơn cả GDP của Đức, một trong 5 nền kinh tế hàng đầu thế giới. Liền sau đó đến lượt Ngân hàng Anh, từ Luân Đôn cũng đưa ra một cảnh báo tương tự và dự báo « một đợt điều chỉnh ở quy mô lớn ảnh hưởng đến các thị trường tài chính toàn cầu » Hiện tượng đầu tư « điên cuồng » vào AI Cả hai báo cáo của nói trên khơi lại các kịch bản « vỡ bong bóng » tin học, internet, địa ốc trước đây. Tình hình có vẻ xấu đi thêm. Trả lời đài phát thanh Bỉ RTBF chuyên gia về tài chính và cũng là một cổ động mua bán chứng khoán Grégory Guilmin ghi nhận : « Quả thực là trong những ngày qua, chứng khoán giảm mạnh, giảm hơn 5 %. Thị trường bị dao động nhiều hơn chủ yếu do lo ngại vỡ bong bóng công nghệ trí tạo thông minh (...) Nhìn lại 30-40 năm vừa qua, từng xảy ra nhiều khủng hoảng do vỡ bong bóng tài chính. Đôi khi tác động rất là mạnh -như vụ vỡ bong bóng tin học hồi năm 2000, nhưng cũng có khi hậu quả không nghiêm trọng lắm. Thành thử nếu chúng ta đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau thì không lo bị thua lỗ và có thể là sẽ vượt qua được khó khăn này thôi ». Vẫn trên đài phát thanh Bỉ, Benoit Gailly giảng dậy tại đại học Louvain nói đến một sự tin tưởng và những kỳ vọng quá đáng từ phía các nhà đầu tư vào thông minh nhân tạo : « Thông thường, trong ngắn hạn mọi người có khuynh hướng lạc quan quá trớn về những phát minh công nghệ mang lại. Người ta cứ nghĩ rằng chỉ cần có công nghệ là mọi thứ có thể thay đổi trong một sớm một chiều. Trong quá khứ, điều này đã được kiểm chứng khi con người phát minh ra xe hơi, cũng như từ khi chúng ta có internet, hay dùng những công nghệ mới … và ai cũng nghĩ rằng, thông minh nhân tạo cũng sẽ, chỉ trong chớp mắt, sẽ đem lại một cuộc cách mạng rất lớn. Chính vì thế mà các nhà đầu tư hồ hởi quá đáng, mạnh dạn đổ tiền vào công nghệ AI. Tất cả chúng ta đều đang quá lạc quan ». « Không một ai được lành lặn » Các tập đoàn lớn trong thế giới digital của Mỹ đều đua nhau cho ra đời những công cụ « thông minh nhân tạo của riêng mình, mà điển hình là Grok, hay xAI. Theo thống kê của cơ quan tư vấn Gartner trong năm 2025 thế giới « rót » từ 1.000 tỷ đến 1.500 tỷ đô la tiền vốn vào các công ty trong lĩnh vực AI. Bốn tên tuổi hàng đầu trên thế giới là Google, Meta, Amazon và Microsoft đã chi ra 350 tỷ đô la từ đầu năm đến nay để phát triển các cơ sở hạ tầng để « thông minh nhân tạo » nảy sinh. Số tiền khổng lồ này được dùng vào các khâu từ mua chip điện tử -của TSCM, hay Nvidia..., xây dựng cac trung tâm xử lý dữ liệu data center. Khoản đầu tư cho lĩnh vực này còn được tăng thêm nữa trong hai năm sắp tới … Cũng chính sự hồ hởi « thái quá » này bắt đầu khiến các nhà tài chính trên thế giới mà đứng đầu là những người trong cuộc lo âu. Tiêu biểu nhất là chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Google. Sundar Pichai đã nhìn nhận « thế giới thực sự điên đảo » tin tưởng quá độ vào AI. Peter Thiel, một nhà đầu tư danh tiếng khác trong thung lũng Silicon, quý ba vừa qua đã đột ngột bán hết cổ phiếu Nvidia ông đang nắm giữ. Quỹ đầu tư Nhật Bản SoftBank cũng đã quyết định tương tự. Tại Frankfurt, phó thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu Luisi de Guindos báo động : quyền lực tài chính tập trung quá lớn trong tay « một vài tập đoàn công nghệ Mỹ là một rủi ro ». Lỗ vốn mà vẫn có uy tín với cổ đông Chỉ sau 3 năm xuất hiện trên thị trường công trí tuệ nhân tạo giờ đây đã thu hút hơn 1 tỷ người sử dụng, trở thành bạn đồng hành « không thể thiếu của từ 500-600 triệu dân » trên toàn cầu. Riêng tập đoàn OpenAI theo các thống kê chính thức của hãng Sam Altman điều hành, « mỗi tuần có 500 triệu dân trên thế giới tham khảo ChatGPT », tương đương với 25 % dân số trên hành tinh. Dù vậy tập đoàn hàng trăm tỷ này vẫn trong tình trạng thua lỗ. Chỉ riêng quý 3/2025 OpenAI lỗ 12 tỷ đô la. Điều đó không cấm cản, cổ phiếu của tập đoàn vẫn tăng giá đều đặn. Trị giá chứng khoán của OpenAI tăng nhanh vì mọi người tin chắc là nhân loại sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào trí tuệ nhân tạo tạo sinh. Bên cạnh những tên tuổi lớn trong ngành, như Open AI hay Nvidia thường được báo chí nhắc đến còn phải kể đến « cả một khu rừng với rất nhiều các công ty khởi nghiệp star-up » cũng trong lĩnh vực AI … Thí dụ như tỷ phú Elon Musk không chỉ đầu tư vào ô tô điện hay hệ thống vệ tinh mà còn đang dốc nhiều sức lực và phương tiện tài chính cho xAI. Theo báo Wall Street Journal, công ty nhỏ này của Elon Musk đang đàm phán huy động 15 tỷ đô la vốn đầu tư, căn cứ trên giá trị của tập đoàn được thẩm định lên tới 230 tỷ đô la. Mối quan hệ « cận huyết » Về câu hỏi nếu vỡ bong bóng AI khủng hoảng lần này nghiêm trọng đến mức độ nào và bong bóng « trí tuệ nhân tạo » này có khác gì so với những bong bóng địa ốc hay tin học trước đây, giới trong ngành trả lời như sau : thứ nhất viễn cảnh vỡ bong bóng là điều khó tránh khỏi, nghi vấn duy nhất chỉ là vấn đề thời gian. Điểm thứ hai cơn sốt AI đang tấy lên một phần do « các chương trình đầu tư được thực hiện trong một vòng luẩn quẩn và rất khép kín » xoay quanh trên dưới 10 đại tập đoàn. Họ là những đối tác, những khách hàng, những nhà cung cấp thiết bị, hay dịch vụ của lẫn nhau. Chỉ cần một trong số những mắt xích này bị nạn là kéo theo hiện tượng đổ dàn. Thí dụ như tháng 9/2025 Nvidia thông báo đầu tư 100 tỷ đô la và số tiền này được rót cho OpenAI và đế chế của Jensen Huang chờ đợi lãi gấp 3 lần số vốn bỏ ra ban đầu ! Chính mối quan hệ mà giới trong ngành gọi là « cận huyết đó » vừa là đòn bẩy, vừa là mầm mống khủng hoảng trong lĩnh vực AI : Chỉ cần 1 trong số các tập đoàn thuộc nhóm Big Tech của Mỹ bị nạn là cũng đủ kéo cả nhóm vào một vòng xoáy không hồi kết.
Hôm 14/11/2025, tổng thống Trump lùi bước, tự dỡ bỏ một số hàng rào quan thuế đánh vào một số thực phẩm mà ông đã dựng lên. Mười ngày trước, đời sống khó khăn tại Mỹ giúp nhiều ứng cử viên của đảng Dân Chủ thắng cử trong các cuộc bầu cử địa phương. Washington vừa ra khỏi tình trạng 43 ngày shutdown, vì không có ngân sách hoạt động. Sau nhiều tháng đàm phán, Mỹ vẫn chờ các đối tác đầu tư thêm hàng ngàn tỷ đô la đưa Hoa Kỳ trở lại « thời kỳ vàng son ». Theo thăm dò của trung tâm Navigator công bố hôm 12/11/2025, 16 % những người được hỏi bày tỏ « thất vọng » vì chính sách kinh tế của tổng thống Trump, 16 % khác « hối hận » đã bỏ phiếu ủng hộ ông hồi tháng 11/2024 và nhìn chung thì 59 % « không hài lòng » về những quyết định kinh tế của chủ nhân Nhà Trắng. « Quá ồn ào nhưng kết quả lại chẳng là bao nhiêu ». Garett Melson thuộc ngân hàng đầu tư Natixis IM của Pháp đã đánh giá như trên phần trang tài chính của báo Le Figaro. Sau nhiều màn đầy kịch tính làm khuấy động thị trường ở Mỹ và thế giới, các chỉ số kinh tế của bàn thân Hoa Kỳ đã « trở về với thời điểm đầu năm 2025 », cuối nhiệm kỳ Biden và khi tổng thống Donald Trump trở lại cầm quyền. Thị trường chứng khoán của Mỹ và các doanh nghiệp « có sức chịu đựng tốt hơn dự kiến ». Tổng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ cho năm 2025 dự trù tăng 1,6 % ; lạm phát dao động ở mức 3 %. Thị trường lao động được đánh giá là « vẫn ổn định », cho dù giám đốc cơ quan đặc trách thống kê lao động Mỹ đã bị cho thôi việc và do tình trạng Shutdown, báo cáo về tình trạng lao động tại Hoa Kỳ tháng 10/2025 đã không thể được công bố đúng hạn kỳ. Trong những tuần lễ gần đây tập đoàn Amazon loan báo kế hoạch sa thải 14.000 nhân viên, công ty vận tải UPS chuẩn bị cho 48.000 nhân viên nghỉ việc … Nghiên cứu hàng tháng do Đại học Michigan thực hiện về tâm trạng người tiêu dùng trong tháng 10/2025 cho thấy chỉ số này đã sụt giảm đến 6 % so với hồi tháng trước và giảm đến 30 % so với cùng thời kỳ năm ngoái. Riêng tầng lớp giàu có nhất thì không bị ảnh hướng : đó là những người nắm giữ nhiều cổ phiếu chứng khoán. Chỉ số S&P500 tại Wall Street tăng liên tiếp trong 6 tháng qua, chủ yếu là nhờ các tên tuổi lớn trong lĩnh vực thông minh nhân tạo. Trong phần phỏng vấn dành cho RFI Việt Ngữ, kinh tế gia Jean -François Boittin, đại diện Hiệp hội giới chủ doanh nghiệp Pháp MEDEF tại Washington đã nêu bật vấn đề này và phân tích kỹ hơn về « logic khó hiểu » trong chính sách kinh tế của tổng thống Donald Trump. RFI : Kính chào Jean-François Boittin, câu hỏi đầu tiên : So với thời điểm bầu cử tổng thống Mỹ cách nay một năm, đời sống tại Washington nơi ông cư ngụ hiện tại ra sao ? Jean-François Boittin : « Chi phí sinh hoạt tại Hoa Kỳ nói chung, chứ không chỉ riêng ở Washington, rõ ràng đã tăng lên mặc dù lạm phát đã có xu hướng giảm so với đỉnh điểm của hồi 2022. Khi đó lạm phát ở Mỹ bị đẩy lên tới 8%. Chỉ số giá cả tại Mỹ hiện tại là khoảng 2,5%, tức là vẫn còn cao hơn so với mục tiêu của Ngân hàng Trung ương Mỹ là 2%. Tuy nhiên thời gian gần đây chỉ số lạm có khuynh hướng nhích lên tới gần 3 % và quả thực đó chính là yếu tố quyết định dẫn tới thắng lợi của nhiều ứng cử viên đảng Dân Chủ trong các cuộc bầu cử địa phương cách nay hai tuần ở các bang Virginia, New Jersey và cả thành phố New York. Đời sống đắt đỏ là chủ đề mà các ứng viên đảng Dân Chủ đã đặc biệt quan tâm và là yếu tố giúp họ chinh phục cử tri ». RFI : Hai điểm nổi bật trong chính sách của tổng thống Mỹ thứ 47 được nhắc đến nhiều, đó là chính sách thương mại, ông Trump dùng đòn thuế quan để giải quyết tình trạng nhập siêu mà đây còn là một công cụ ngoại giao, để giải quyết các xung đột trên thế giới ; và bên cạnh đó là chính sách thuế đối với doanh nghiệp và tư nhân. Nhưng dường như cả hai cùng khó thuyết phục được một phần lớn cử tri Hoa Kỳ ? Jean-François Boittin : « Có hai đặc điểm hoàn toàn mâu thuẫn với đường lối kinh tế vốn được coi là kim chỉ nam trong chính sách của bên đảng Cộng Hòa. Thứ nhất là chính quyền Trump đã thông qua đạo luật One Big Beautiful Bill Act, triển hạn biện pháp giảm thuế cho doanh nghiệp và cá nhân. Hệ quả kèm theo là đẩy thâm hụt ngân sách cả chính quyền liên bang lên cao. Đạo luật này sẽ khiến thâm hụt ngân sách Mỹ tăng thêm từ 3.000 đến 3.500 tỷ đô la theo tính toán của các tổ chức trung lập. Yếu tố thứ hai, dĩ nhiên là thuế quan. Từ rất lâu Trump đã tự nhận là Tariff Man, chỉ tin vào công cụ này để giải quyết tất cả. Hôm 02/04/2025 ông đã công bố kế hoạch tăng thuế quan rất mạnh. Tuy nhiên, Donald Trump đã buộc phải giảm bớt tham vọng này vì thị trường tài chính đã lao dốc ngay sau đó. Sau nhiều tháng đàm phán, mức thuế quan trung bình hiện nay vẫn ở mức 17,5%, trong khi trước khi ông lên nắm quyền, mức trung bình chỉ là 2,5%. Đây là một gánh nặng đối với mỗi người tiêu dùng, tác động đến sinh hoạt hàng ngày của họ. Giá nhiều mặt hàng bị đẩy lên cao. Cuối cùng áp lực lớn đến nỗi, cuối tuần qua tổng thống Trump đã phải bãi bỏ thuế quan đánh vào một số mặt hàng thực phẩm phải nhập khẩu từ những nơi khác để phục vụ thị trường Mỹ. Rất khó để hiểu được cái logic của ông Trump ». RFI : Cũng dưới chính quyền Donald Trump Hoa Kỳ vừa trải qua giai đoạn nhiều cơ quan chính phủ liên bang phải đóng cửa vì không có ngân sách hoạt động. Shutdown ảnh hưởng thế nào đến tăng trưởng của Mỹ ? Jean-François Boittin : « Việc chính phủ liên bang phải đóng cửa vì không có ngân sách hoạt động, thực chất là do bên đảng Dân Chủ gây ra. Họ muốn lợi dụng thời điểm này để thúc đẩy Quốc Hội thông qua một đạo luật về trợ cấp y tế, thường được biết đến dưới tên gọi là ObamaCare. Họ dùng đòn này để gây sức ép. Vì các khoản chi tiêu của chính phủ liên bang phải được Quốc Hội phê duyệt, phe Dân Chủ, thiểu số tại cả Thượng và Hạ Viện, đã chặn quá trình này và tuyên bố họ chỉ bỏ phiếu gia hạn các khoản chi tiêu của chính quyền liên bang nếu Hạ Viện đồng ý tài trợ trở lại các chương trình trợ cấp y tế. (…) Điều rất kỳ lạ là mặc dù rõ ràng đảng Dân Chủ là bên chặn quá trình và cố gắng lợi dụng hoàn cảnh để thông qua việc gia hạn trợ cấp y tế, nhưng dư luận, qua các cuộc thăm dò, lại đổ lỗi cho đảng Cộng Hòa đã gây ra tình trạng shutdown. Về câu hỏi shutdown trong thời gian dài kỷ lục, 43 ngày có tác động đến kinh tế Mỹ hay không, thì câu trả lời là có : đầu tiên hết là một số công chức của chính phủ liên bang đã không được trả lương đúng hạn. Do mức tiết kiệm của người Mỹ nói chung rất thấp, họ nhanh chóng rơi vào khó khăn. Ngoài ra, rất nhiều chương trình hỗ trợ lương thực, liên quan đến 1 người Mỹ trên 8, (đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên) đã phải ngừng hoạt động, hoặc hoạt động một cách nhỏ giọt tại nhiều bang. Điều này cũng đã gây ra thêm nhiều khó khăn nữa cho dân Mỹ thời gian vừa qua. Nhìn rộng ra hơn, tác động không quá lớn từ viện chính phủ không có ngân sách hoạt động đối với GDP của Hoa Kỳ cho cả năm. Nhưng đúng là tăng trưởng của 3 tháng cuối năm nay bị thiệt hại. Dù vậy kinh nghiệm quá khứ cho thấy, sự chậm trễ trong quý 4 sẽ chóng được xóa nhòa ngay từ đầu năm sau thôi ». RFI : Với tư cách đại diện của Hiệp hội các chủ doanh nghiệp Pháp, theo ông, với môi trường bất ổn như vậy, trước những hứa hẹn đầu tư hàng ngàn tỷ đô la vào Mỹ mà ông cho rằng chưa chắc là các bên liên quan sẽ giữ lời… Liệu rằng đây có phải là thời điểm thuận lợi để các công ty nước ngoài mạnh dạn đầu tư vào Mỹ hay không ? Jean-François Boittin : « Chính quyền, mà thực tế là chính tổng thống Trump liên tục gây áp lực để thu hút đầu tư vào Hoa Kỳ với mục tiêu xây dựng lại nền công nghiệp Mỹ giống thời kỳ vàng son của những năm 1950–1960. Không ai tin mục tiêu này sẽ đạt được. Mỗi lần đàm phán với một quốc gia, Donald Trump luôn đòi đối tác phải cam kết đầu tư để phát triển nền công nghiệp của Hoa Kỳ. Thí dụ mới nhất là với Thụy Sĩ. Trước đây nước này bị với mức thuế hải quan là 39 % nhưng vừa đàm phán, hàng Thụy Sĩ nhập vào Mỹ chỉ bị đánh thuế 15%. Đổi lại các tập đoàn Thụy Sĩ cam kết đầu tư 200 tỷ đô la vào Hoa Kỳ trong 3 năm tới. Như nhiều quốc gia khác từng đám phán với Washington, sẽ không ai thực hiện cam kết này. Về câu hỏi của chị có nhiều yếu tố như sau : Dĩ nhiên, ai cũng muốn đầu tư vào Hoa Kỳ, một quốc gia giàu có. Nhưng các quy định, luật lệ, đặc biệt là thuế quan thay đổi từ ngày này sang ngày khác tùy theo tâm trạng của Donald Trump… Chính điều đó tạo ra một môi trường bất ổn. Giới đầu tư nói chung rất sợ sự bất ổn, vì họ đầu tư cho dài hạn nên muốn và cần biết rõ môi trường mà họ sẽ hoạt động trong đó. Ngoài ra, tùy vào những lĩnh vực chúng ta muốn đầu tư. Đây có thể là thời điểm tốt để dấn thân vào thị trường Mỹ. Rõ ràng là vậy, vì nền kinh tế hiện nay là một nền kinh tế theo mô hình chữ K : Nghĩa là một phần dân số, 10% người giàu nhất, chi tiêu rất nhiều vì giá trị cổ phiếu họ nắm giữ đã tăng mạnh. Trái lại, phần còn lại của dân số, đặc biệt là càng xuống các nhóm thu nhập thấp, thì tình hình càng khó khăn từ khi ông Trump trở lại cầm quyền. Vì vậy nếu chúng ta nhắm tới tầng lớp 10 % dầu có nhất, thậm chí là 1 % những tài sản đồ sộ nhất ở Mỹ, thì hãy nên đầu tư vào Hoa Kỳ ». RFI : Chân thành cảm ơn Jean-François Boittin, đại diện MEDEF các doanh nhân Pháp tại thủ đô Washington.
Khoáng sản hiếm : 30 năm là thời gian cần thiết để Trung Quốc trở thành nguồn cung cấp gần như độc quyền của thế giới. Vì chấp nhận nhiều hy sinh, tận dụng những sai lầm của phương Tây không muốn hứng chịu ô nhiễm, Bắc Kinh đặt mình vào thế trung tâm và khiến Bruxelles, Washington lo lắng trước mỗi quyết định về kim loại chiến lược ? Các câu hỏi này được đặt ra vào lúc Âu - Mỹ hối hả tìm kiếm các nguồn cung cấp bổ sung, hóa giải thế gần như độc quyền của Trung Quốc. Sau nhiều tuần lễ căng thẳng, cả Liên Hiệp Châu Âu lẫn Hoa Kỳ cùng phấn khởi đón nhận tin Trung Quốc tạm ngừng trong một năm quyết định hạn chế xuất khẩu đất hiếm. Tổng thống Donald Trump tiếp tục khẳng định đây là một thắng lợi quan trọng mà ông đạt được sau cuộc họp với chủ tịch Tập Cận Bình cuối tháng 10/2025. Tại Bruxelles, lãnh đạo châu Âu vừa công bố kế hoạch « RESourceEU » để giảm bớt phụ thuộc vào khoáng sản hiếm của Trung Quốc, vừa tự tin hơn một chút khi bước vào bàn đàm phán. Đầu thập niên 1990, Mỹ, nhờ có các mỏ ở Mountain Pass, bang California, là quốc gia khai thác các mỏ đất hiếm lớn nhất thế giới. « Trung Đông có dầu mỏ, Trung Quốc có đất hiếm ». Năm 1992, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã có câu nói để đời và từ đó Bắc Kinh đưa các kim loại hiếm vào danh sách « tài nguyên chiến lược quốc gia », cấm các công ty nước ngoài khai thác. Trung Quốc cũng bắt đầu quản lý nghiêm ngặt hơn các hoạt động xuất khẩu. Tuy giàu tài nguyên, nhưng ngành công nghiệp đất hiếm nước này - từ khâu khai thác, đến tinh chế, tìm kiếm thị trường, Trung Quốc khi đó còn bỡ ngỡ và phải học hỏi kinh nghiệm của Hoa Kỳ. Đó cũng là thời điểm, Bắc Kinh và Washington chưa ý thức được là để chế tạo một chiến đấu cơ F-35 chẳng hạn, ngay cả tập đoàn Mỹ Lockheed Martin cũng sẽ phải cần đến hơn 400 kg đất hiếm ! Sai lầm « trao trứng cho ác » Vì chạy theo lợi nhuận, tận dụng hàng rẻ Trung Quốc, đồng thời tập trung hơn vào lĩnh vực chỉ sản xuất xe hơi, hãng General Motors đã dễ dàng chuyển nhượng lại Magnequench, một « ông lớn » trong lĩnh vực chế tạo nam châm Neodyme cho quỹ đầu tư Trung Quốc Sextant. Hai trong số các nhà lãnh đạo quỹ này chính là con rể của ông Đặng Tiểu Bình. Nam châm Neodyme (NdFeB) có lực từ mạnh nhất hiện nay, với kích thước nhỏ và trọng lượng nhẹ phù hợp với các thiết bị cần được thu nhỏ rất được ưa chuộng trong lĩnh vực từ ô tô điện đến công nghệ quốc phòng hay y tế. Chính quyền của tổng thống Bill Clinton đã không phản đối dự án chuyển nhượng « viên ngọc quý » trong một lĩnh vực nhạy cảm như vậy cho đối tác Trung Quốc với giá 70 triệu đô la khi đó. Cùng lúc, Sextant đã mời các chuyên viên Hoa Kỳ cùng xây dựng phiên bản Trung Quốc của Magnequench tại Thiên Tân và cơ sở này « lớn gấp 3 lần » so với kế hoạch ban đầu. Chỉ khi đó, các kỹ sư Mỹ được mời cộng tác mới ý thức được là họ đã « tự tay thắt vòng treo cổ chính mình ». Nhìn rộng hơn, chuyên gia Mathieu Xémard, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Liên Ngành về Quốc Phòng và An Ninh (CIEDS) - Viện Bách Khoa Institut Polytechnique, lưu ý Trung Quốc học hỏi từ đầu đến cuối các công đoạn trong một nền công nghiệp còn mới mẻ này. Họ không chỉ hài lòng với các khâu khai thác, mà còn « hấp thụ » các kỹ thuật tinh chế của Mỹ, cho đến khi « nắm giữ toàn bộ chuỗi sản xuất trong lĩnh vực đất hiếm và nhất là nam châm » thu hẹp khoảng cách với Hoa Kỳ. Những tên tuổi lớn của Mỹ trong ngành bị « hàng rẻ Trung Quốc nhấn chìm », lần lượt bị khai tử. Mountain Pass bị lãng quên trong hàng chục năm. Phát triển kiểu « con nhà nghèo » Ở góc đài bên kia, Trung Quốc càng lúc càng tự tin với chiến lược phát triển bài bản. Vào lúc Âu - Mỹ phải tuân thủ các chuẩn mực môi trường, Trung Quốc chấp nhận trả giá đắt và không phải chịu áp lực từ các hội đoàn tổ chức bảo vệ thiên nhiên như của phương Tây. Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng đã sớm ý thức rằng « chìa khóa của sức mạnh công nghiệp nằm ở việc làm chủ quá trình tinh chế và xử lý hóa học các kim loại đất hiếm ». Đó là những « công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao, mà các nước phương Tây đã bỏ qua vì chi phí quá cao và ô nhiễm môi trường » như nhà nghiên cứu John Seaman, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI ghi nhận trong bài viết « Khoáng sản chiến lược : Vai trò then chốt của Trung Quốc ». Hệ quả kèm theo là sau hơn 3 thập niên, « 90% quá trình tinh chế đất hiếm trên thế giới hiện nay được thực hiện tại Trung Quốc ». Không là quốc gia duy nhất trên thế giới có đất hiếm ( Úc, Brazil, Congo, Miến Điện, Pháp, Đức…), không là nhà sản xuất duy nhất cho toàn cầu (Úc, Brazil...), nhưng Trung Quốc đã nắm giữ lấy vị trí trung tâm trên bàn cờ chiến lược này. Vẫn nhà nghiên cứu John Seaman giải thích thêm : Thành công này không phải ngẫu nhiên mà có. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã vừa hỗ trợ mạnh mẽ ở các khâu nghiên cứu và tài trợ cho các doanh nghiệp nội địa, đồng thời lại hợp nhất ngành công nghiệp thành một số tập đoàn nhà nước khổng lồ và nhất là dùng các biện pháp có sẵn trong tay để đánh gục mọi đối thủ. Mỗi khi một đối thủ phương Tây cố gắng hồi sinh lại một khu khai thác, thì lập tức Bắc Kinh tăng sản lượng, làm sụt giá thị trường và khiến các dự án nước ngoài không còn hấp dẫn. Đó luôn là một dạng « kim chỉ nam » trong chiến lược phát triển công nghệ đất hiếm của Trung Quốc từ Đặng Tiểu Bình đến Tập Cận Bình. Hơn nữa, qua việc « kiểm soát từ đầu chí cuối chuỗi sản xuất » trong lĩnh vực nhạy cảm này, Bắc Kinh đạt được cùng lúc 2 mục tiêu. Trước hết là bảo đảm chuỗi cung ứng cho các tập đoàn quốc gia trong những lĩnh vực « then chốt » : y tế, công nghệ hàng không không gian, bình điện ô tô, công nghiệp vũ khí, năng lượng hạt nhân, điện thoại thông minh… Mục tiêu thứ nhì là nhờ thế độc quyền đó mà Trung Quốc mặc nhiên « chi phối » luôn cả các mảng công nghiệp nhạy cảm nhất của Âu - Mỹ và qua đó là cả một phần « an ninh » của phương Tây. Đến lượt Hoa Kỳ chạy nước rút để « thu hẹp khoảng cách » với Trung Quốc Trong bối cảnh căng thẳng địa-chính trị gia tăng, đặc biệt là cuộc đọ sức giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc vì một trật tự mới cho thế giới về kinh tế cũng như địa chính trị, « bảo đảm an ninh về tài nguyên, bảo đảm các nguồn cung ứng về khoáng sản hiếm, về các nguyên liệu chiến lược » trở thành « tâm điểm » trong chính sách công nghiệp của cả Âu, Mỹ lẫn Trung Quốc. (John Seaman, IFRI). Đây chính là động lực để phương Tây hối hả « hồi sinh » mảng công nghệ này. Nhưng trớ trêu thay sau hơn 30 năm chuyển giao các bí quyết thành công cho Trung Quốc giờ đây đến lượt Hoa Kỳ « chạy nước rút để thu hẹp khoảng cách ». Từ 2010, lần đầu tiên, Bắc Kinh dùng đất hiếm như một công cụ địa chiến lược trừng phạt Nhật Bản khẳng định chủ quyền với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Mỹ và châu Âu đã trông thấy viễn cảnh « một cuộc chiến đất hiếm » đang hình thành. Nhưng không dễ để khởi động lại một cỗ máy đồ sộ trong trạng thái « ngủ đông » trong nhiều năm. Cuối tháng10/2025, Bruxelles mới công bố kế hoạch « RESourceEU ». Mãi đến 2025, Nhà Trắng hối hả ký các thỏa thuận cung ứng với Úc và nhiều nước Trung Á, châu Phi. Washington cùng lúc thông báo những dự án như xây dựng nhà máy tách quặng đất hiếm nặng tại Louisiana hay tham gia đầu tư 400 triệu đô la vào công ty khai thác mỏ MP Materials ở Mountain Pass. Song giới trong ngành cảnh báo « không dễ phá vỡ vòng vây kiên cố » mà Bắc Kinh đã dày công xây dựng. Thoát khỏi cái bẫy đất hiếm của Trung Quốc hiện tại là một thách thức đối với phương Tây. Trên đài phát thanh France Inter, Bart Sap, chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Umicore, chuyên về sản xuất và tái xử lý rác kim loại, báo động về tính cấp bách để « thoát Trung » của châu Âu. Ông đồng thời nêu lên một giải pháp cụ thể để đạt được mục tiêu đó : « Chúng ta biết hiện tại Trung Quốc đang thống lĩnh thị trường kim loại hiếm. Cần nhấn mạnh là Bắc Kinh đang tận dụng lợi thế này như một vũ khí thương mại khi quyết định hạn chế xuất khẩu. Vậy câu hỏi đặt ra với châu Âu là khối này muốn tự chủ hơn hay vẫn bị để phụ thuộc vào nguồn cung cấp châu Á này. Sự phụ thuộc đó liên quan đến công nghệ chế tạo bình điện ô tô, tức là đến khả năng đi lại của các công dân châu Âu, và cũng liên quan luôn cả đến tính tự chủ và độc lập của châu lục này về mặt công nghệ trong nhiều lĩnh vực từ công nghệ không gian, quốc phòng đến công nghệ kết nối, và khả năng chuyển đổi sang năng lượng xanh (...). Theo đánh giá của Umicore, cuối cùng châu Âu cũng đã ý thức được là họ cần khoáng sản hiếm và cần thay đổi chiến lược trên phương diện này. Tôi nghĩ rằng, Bruxelles cần đưa ra một chính sách chung liên quan đến vấn đề tái xử lý rác thải để thu hồi lại lượng đất hiếm trong các sản phẩm. Hiện tại, Liên Hiệp Châu Âu xuất khẩu 72% rác thải có khoáng sản hiếm. Đây là một sự lãng phí khủng khiếp. Nhu cầu cấp bách hiện nay là làm thế nào để giữ lại rác thải để tự xử lý, thu hồi lại khối lượng những nguyên liệu chiến lược. Điều đó có nghĩa là Liên Hiệp Châu Âu phải hỗ trợ cho những nước thành viên trong việc tác xử lý rác thải. Châu Âu hiện tại có công nghệ khá tốt trong lĩnh vực này, chỉ cần có một luật chơi chung để tất cả cùng ngừng xuất khẩu rác thải công nghiệp đi nơi khác ». 30 năm trước đây, cái bẫy kim loại hiếm Trung Quốc bắt nguồn từ chỗ Âu Mỹ vừa muốn nhanh chóng có lãi, dễ dàng sử dụng « hàng rẻ » Trung Quốc mà lại không mang tiếng gây ô nhiễm môi trường. Giờ đây, ngay cả trong khâu tái xử lý kim loại hiếm từ rác công nghiệp, châu Âu và Hoa Kỳ lại một lần nữa « đùn đẩy » mảng này đi nơi khác. Chung quy cũng là do vì « sợ bẩn và sợ tốn », châu Âu cho là « không bõ » để đầu tư vào các nhà máy tái xử lý rác công nghiệp. Về phía Hoa Kỳ, trước khi lao vào một cuộc đọ sức với Trung Quốc thì mới nhận ra rằng Washington đang thiếu mất một vũ khí lợi hại và đã lỡ « trao trứng cho ác » để giờ đây rơi vào thế bị động trước mỗi quyết định của Bắc Kinh về « những khoáng sản chiến lược ».
« Một thỏa thuận ngừng bắn có thời hạn », một thỏa hiệp về thương mại « mong manh » chỉ nhằm « chứng minh thiện chí Mỹ và Trung Quốc cùng muốn xoa dịu tình hình ». Thương mại tuy là trọng tâm thượng đỉnh song phương hôm 30/10/2025 tại Busan nhưng đây có còn là một mặt trận nóng nhất trong cuộc đối đầu giữa Washington với Bắc Kinh ? Donald Trump tự cho mình 12 điểm trên 10 sau hội nghị thượng đỉnh với Tập Cận Bình. Như thường lệ, tổng thống Hoa Kỳ đã rất tự tin tuyên bố « thắng lớn » sau hoạt động ngoại giao đã thu hút chú ý của toàn thế giới tuần qua. Quả thực có nhiều lý do để Hoa Kỳ hài lòng. Sau cuộc họp mở ra trong 1 tiếng và 40 phút, phái đoàn hai bên đã đạt được một số đồng thuận như sau. Thứ nhất về thuế quan, Washington giảm thuế nhập khẩu nhắm vào một số mặt hàng của Trung Quốc đang từ 57 % xuống 47 %. Đổi lại Bắc Kinh đồng ý kiểm soát chặt chẽ hơn các hoạt động bất hợp pháp về chất ma túy fentanyl. Thứ hai : trong vòng 1 năm, Bắc Kinh hứa sẽ không lạm dụng thế gần như độc quyền xuất khẩu khoáng sản hiếm để bắt chẹt Hoa Kỳ. Về điểm này, giới quan sát cho rằng hai ông Tập Cận Bình - Donald Trump vừa sáng chế ra một dạng « thỏa thuận ngừng bắn có thời hạn ». Washington hài lòng vì hồ sơ đất hiếm rất « nhạy cảm và quan trọng » đối với nền công nghiệp từ ô tô đến quốc phòng của Mỹ. Đồng thuận thứ ba hội nghị Busan đạt được liên quan đến cam kết Trung Quốc nhập khẩu trở lại 12 triệu tấn đậu nành của Mỹ trong năm nay. Chính vì để trả Hoa Kỳ áp dụng thuế đối ứng từ mùa xuân năm nay, mà Bắc Kinh đã ngừng nhập khẩu đậu nành và nhiều nông phẩm khác của Mỹ, gây thiệt hại cho tầng lớp cử tri trung thành với Donald Trump. Năm 2024 Trung Quốc là thị trường mua vào gần 50 % tổng kim ngạch xuất khẩu đậu nành của Mỹ. Bế tắc về công nghệ bán dẫn và chip điện tử Tuy nhiên một mảng nhạy cảm khác trong quan hệ Mỹ-Trung liên quan đến công nghệ bán dẫn thì lãnh đạo hai nước dường như vẫn chưa tìm ra ngõ thoát. Tổng thống Trump thậm chí đã đưa ra những tuyên bố trái ngược nhau trên hồ sơ này. Trên đài truyền hình Pháp France24 Elvire Fabry, Viện Nghiên Cứu châu Âu, Jacques Delors nhận định : Washington cấm hoặc hạn chế một số các giao dịch với Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn vì lý do an ninh, nhưng Donald Trump liên tục đổi ý trên hồ sơ này (đặc biệt là với các hoạt động của tập đoàn Nvidia) : « Thực ra không ai đoán được, hay hiểu được lập trường của Donald Trump trên vấn đề công nghiệp bán dẫn và linh kiện điện tử. Nhà Trắng chú trọng hơn đến vấn đề an ninh quốc gia hay chạy theo lợi nhuận tức là chỉ đơn thuần muốn đạt được một thỏa thuận về thương mại. Mỹ đang tính toán những gì và liệu có dám đánh cược với vị trí dẫn đầu thế giới trong mảng công nghiệp này hay không ? » Tổng kết thượng đỉnh Busan, cũng bà Elvire Fabry nhận định đối thoại Trump -Tập « không mang lại bất kỳ một tiến triển nào ». Chủ nhân Nhà Trắng thất bại trên hai mục tiêu : đòi Trung Quốc mở rộng cửa thị trường cho các doanh nghiệp Mỹ và giải quyết tình trạng xuất siêu với Hoa Kỳ. « Từ tháng 7/2024 tức là trước bầu cử tổng thống Mỹ, Trung Quốc đã chuẩn bị từ trước cho khả năng ông Trump trở lại cầm quyền. Bắc Kinh mong đợi nhiều một nhiệm kỳ 2 của Donald Trump hơn hẳn viễn cảnh phải hợp tác trong trường hợp bà Kamala Harris đắc cử. Trung Quốc quan niệm dễ đạt được thỏa thuận với Trump hơn là Harris. Tại thượng đỉnh Busan rõ ràng là Washington không đạt được những mục tiêu chính như là giải quyết thế bất cân đối về thương mại. Không có bất kỳ một tiến triển nào về việc Bắc Kinh mở cửa thị trường cho các doanh nghiệp Mỹ… Chẳng qua là đôi bên đấu dịu và cũng trở lại với thời điểm như hồi đầu nhiệm kỳ 2 của Donald Trump, tức là trước khi Mỹ đe dọa đánh thuế hàng Trung Quốc với những tuyên bố hoàn toàn xa rời với thực tế. Trên các vấn đề xuất nhập khẩu đậu nành, nông phẩm hay đất hiếm … tình hình thực ra chẳng có gì mới mẻ ». Nhìn từ Bắc Kinh, Busan là « Một bước ngoặt quan trọng » Về phía Bắc Kinh thì khác. Tạp chí Caixin của Trung Quốc xem thượng đỉnh Busan, là « một bước quan trọng để ổn định mối quan hệ song phương » vốn đang trong giai đoạn de-risking, giảm bớt mức độ phụ thuộc vào lẫn nhau. Cũng tờ báo tài chính uy tín này tại Bắc Kinh tin tưởng « tạm tránh khỏi kịch bản tồi tệ nhất » : mô hình phát triển của Trung Quốc chủ yếu dựa vào giao thương với phương Tây, mà quan trọng nhất là quan hệ với Mỹ. Với chính sách của ông Trump muốn dồn Trung Quốc vào chân tường, Bắc Kinh biết chắc không thể đạt được mục tiêu « win - win » tức là tình huống đôi bên cùng có lợi. Nhưng ít ra thì sau thượng đỉnh Donald Trump -Tập Cận Bình « kịch bản đôi bên cùng bị thiệt thòi » đã không xảy ra. Trong cuộc họp với tổng thống Donald Trump, chủ tịch Tập Cận Bình nhắc nhở : « Lịch sử đã cho thấy Quốc và Hoa Kỳ là hai đối tác, là hai nước bạn. Đây cũng là điều sự thật đòi hỏi ». Theo nhà phân tích của viện nghiên cứu châu Âu, Jacques Delors, Elvire Fabry lời lẽ này của lãnh đạo Trung Quốc thể hiện rõ thái độ trịch thượng của Bắc Kinh, bất chấp phía Mỹ tự tin cho rằng vẫn làm chủ cuộc chơi. Tổng thống Trump vẫn « tự cho mình quyền áp đặt thêm các khoản thuế hoặc những rào cản thương mại mới bất kỳ lúc nào và bất kỳ vì lý do gì » như tuần báo Anh, The Economist ghi nhận. Báo Mỹ New York Times phân tích : Tập Cận Bình mới là bên thắng cuộc. Qua việc nới lỏng một số hạn chế về đất hiếm và cam kết mua đậu nành Mỹ, lãnh đạo Trung Quốc đã giúp Trump có cớ tuyên bố chiến thắng khi trở về nước. Nhưng chính ông Tập Cận Bình mới là bên đã đạt được những nhượng bộ quan trọng từ Washington, cả về kinh tế lẫn ngoại giao. Bắc Kinh đã cho thấy họ có thể đáp trả Washington. Cũng trên đài truyền hình Pháp France24 Camille Verchery điều hành công ty tư vấn VVR có trụ sở tại Paris đưa ra cùng nhận xét : « Không bên nào thắng cuộc, nhưng Trung Quốc đã chứng minh họ có sức để cưỡng lại áp lực từ phía Hoa Kỳ. Đó đã là một thắng lợi ngoại giao của Bắc Kinh. Tuy nhiên cần lưu ý rằng khi mà Trung Quốc phải tung đòn đất hiếm ra để đối đầu với Mỹ, đấy cũng là thế đường cùng. Vì quyết định này càng đẩy Bắc Kinh vào thế đối đầu gay gắt hơn nữa với Hoa Kỳ và cũng là trở ngại trong quan hệ với Liên Hiệp Châu Âu » Một chặng dừng trong quá trình « leo thang » Chuyên gia về Trung Quốc Emmanuel Veréon thuộc Viện Ngôn Ngữ và Văn Hóa Phương Đông, Paris thận trọng nói đến một giai đoạn hòa hoãn trong tiến trình « leo thang thường trực » giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới. Trong lúc mà Donald Trump không tìm ra được nhược điểm của đối phương « Chúng ta thường quan niệm các ông Tập Cận Bình, Donald Trump đã lùi bước, Mỹ và Trung Quốc cùng đấu dịu … Tôi không tin là như vậy. Nhìn kỹ vào tất cả các thỏa thuận đôi bên đã đạt được, đấy chỉ là những tuyên bố mang nặng tính ngoại giao. Washington cũng như Bắc Kinh muốn chứng minh thiện chí hòa hoãn, nhưng thực ra đôi bên cùng trong tư thế ‘leo thang’ theo từng nấc một. Có một điều chắc chắn là cả hai đang cùng đang sắp xếp lại chuỗi cung ứng toàn cầu tập trung vào hai cực là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Tất cả những tuyên bố sau thượng đỉnh Busan vừa qua đều củng cố cho quyết tâm theo đuổi mục đích đó : các ông Tập Cận Bình và Donald Trump đang xây dựng lại một mô hình mới về địa chính trị và kinh tế cho toàn thế giới ». Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump có lý khi nhận xét, Trung Quốc là « một nhà đàm phán cứng rắn » bậc nhất. Điều ông không nói ra ở đây là Bắc Kinh có thể điều khiển các cuộc đàm phán để hưởng lợi và Trung Quốc mới là bên làm chủ cuộc chơi. Báo Time ghi nhận ở thượng đỉnh Busan vừa qua, ông Tập Cận Bình đã đạt được mục đích : đòi Hoa Kỳ giảm biên độ thuế và nới lỏng các hạn chế thương mại. Hơn nữa Trung Quốc đã nắm được điểm yếu thực sự của Mỹ là đất hiếm và cầm chắc là sẽ tận dụng chiêu bài này trong các vòng dàm phán sắp tới với Washington. Ở góc đài bên kia, trước mắt Hoa Kỳ « không có giải pháp thay thế » như giáo sư Kerry Brown trung tâm nghiên cứu Law China Institute, đại học King’s College, Luân Đôn đánh giá Benjamin Bürbaumer giáo sư trường Khoa Học Chính Trị Bordeaux trong mọt bài tham luận gần đây trên tạp chí chuyên về địa chính trị Grand Continent, nêu lên khả năng vế thương mại không chắc vẫn là mặt trận nóng bỏng nhất trong cuộc đọ sức giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chỉ cần nhìn vào hồ sơ « công nghệ bán dẫn và chip điện tử » cũng đủ thấy ông Trump đã « không còn nắm giữ tất cả những lá chủ bàit rong tay » để thực hiện tham vọng tiếp tục thống lĩnh toàn cầu. Washington đồng thời đã « xem thường địch thủ là Trung Quốc » : Mọi chú ý đã tập trung vào vế thương mại nhân vòng công du châu Á nhiều ngày trong tuần qua của tổng thống Trump, nhưng đó chì là phần nổi cua tảng băng. Chuyến đi này thực ra là một cuộc chạy đua âm thầm tranh giành ảnh hưởng, và quyền kiểm soát các nguồn nhiên liệu thiết yếu cho công nghệ thời đại digital. Xung đột Mỹ-Trung không còn giới hạn trong phạm trù thương mại. Đôi bên đã dùng đòn trừng phạt về công nghệ để kiểm soát « cơ sở hạ tầng digital của nền kinh tế toàn cầu ». Chính cuộc đối đầu này mới có thể dẫn tới một sự thay đổi lâu dài trong tương quan lực lượng của thế giới.
Truyền thông phân tích nhiều quyết định của Hoa Kỳ đưa hai tập đoàn dầu khí Nga là Lukoil và Rosneft vào danh sách trừng phạt, đòi áp dụng biện pháp trừng phạt « thứ cấp » nhắm vào mọi mối giao dịch dầu hỏa với Nga. Bên cạnh những nghi vấn về hiệu quả và mức độ nghiêm túc để cắt nguồn tài trợ buộc Nga ngừng chiến tranh Ukraina, giới phân tích nhận định chung : Ít có khả năng vì mất nguồn thu nhập từ dầu lửa mà Matxcơva sẽ lùi bước trên hồ sơ Ukraina. Hôm 22/10/2025, chính quyền Trump đưa ra một quyết định cụ thể trừng phạt Nga : Rosneft và Lukoil, cũng như 34 chi nhánh trực thuộc hai tập đoàn nói trên bị đưa vào danh sách các thực thể nước ngoài bị Hoa Kỳ trừng phạt. Chiếm 55 % sản lượng dầu hỏa toàn quốc, Rosneft và Lukoil là hai trong số 3 tập đoàn dầu khí hàng đầu của Nga, sau Gazprom và là một trong những cột trụ kinh tế, tài chính của nước này. Chỉ 5 ngày sau, Lukoil thông báo bán tài sản ở nước ngoài. Sau đúng 9 tháng trở lại cầm quyền, sau nhiều cuộc điện đàm và một cuộc đối thoại trực tiếp với tổng thống Vladimir Putin mà vẫn chưa mang lại hòa bình cho Ukraina, ông Donald Trump mới ban hành một quyết định cụ thể nhắm vào quyền lợi của nước Nga : đóng băng toàn bộ tài sản của Rosneft và Lukoil tại Hoa Kỳ và cấm tất cả các doanh nghiệp Mỹ giao dịch với hai công ty này. Cùng lúc Nhà Trắng cho các công ty đang hợp tác với các tập đoàn Nga thời hạn 30 ngày để chấm dứt quan hệ trước khi Mỹ áp dụng « lệnh trừng phạt thứ cấp », tức là các biện pháp trừng phạt gián tiếp liên lụy đến các đối tác của Hoa Kỳ (ví dụ các tập đoàn của châu Á, châu Âu, các quốc gia như Ấn Độ hay Trung Quốc…) vẫn mua năng lượng của Nga. Marie Jégo, nhà báo từng là thông tín viên tại Matxcơva của báo Le Monde, trên đài truyền hình France 5 nhắc lại thực ra ít ai để ý là dầu hỏa Nga đã « trong tầm ngắm » của Hoa Kỳ từ dưới thời chính quyền Joe Biden. Tháng 1/2025, Mỹ đã trừng phạt hai nhà sản xuất Nga, nhưng là những hãng « nhỏ » và quyết định này đã ít được nhắc tới trong 10 tháng đầu nhiệm kỳ tổng thống Trump : Nhà Trắng tránh né tấn công trực tiếp vào những lợi ích của Nga, mà ngành xuất khẩu dầu khí là cột trụ. « Dầu hỏa là tĩnh mạch cảnh của Nga bị nhắm tới. Nhờ thu nhập từ dầu khí mà Nga có thể tài trợ chiến tranh Ukraina. Đây cũng là nguồn thu bảo đảm gần 1/3 ngân sách của chính quyền liên bang. Hơn nữa quyết định của tổng thống Trump vừa là một hình thức trừng phạt kinh tế, vừa là một tín hiệu mạnh mẽ về phương diện chính trị. Các dịch vụ giao thương đối với các nhà sản xuất năng lượng của Nga với khách hàng trở nên phức tạp hơn. Nhưng không vì thế mà Vladimir Putin đổi ý và ngừng chiến tranh Ukraina. Cần lưu ý rằng các biện pháp trừng phạt chỉ nhắm vào các khoản giao dịch được thanh toán bằng đô la Mỹ. Đương nhiên là khi Ấn Độ mua vào dầu hỏa của Nga thì New Delhi thanh toán bằng đô la chứ không phải là bằng rupi của Ấn Độ hay rúp của Nga - và nếu có thì khoản này cũng khá hạn chế. Trái lại, trong trường hợp với Trung Quốc, do là đối tác thương mại quan trọng bậc nhất đôi bên trực tiếp giao dịch bằng nhân dân tệ. Nga bán dầu hỏa cho Trung Quốc và được thanh toán bằng nhân dân tệ, rồi dùng chính đơn vị tiền tệ này để nhập khẩu hàng từ Trung Quốc ». Trừng phạt thứ cấp còn nguy hiểm hơn Hãng tin Nga TASS trích lời phó thủ tướng Alexander Novak theo đó, cuối 2024 lĩnh vực năng lượng chiếm khoảng 20 % GDP của Nga. Liên quan đến tác động cụ thể đối với bản thân nước Nga từ việc Mỹ đưa Rosneft và Lukoil vào « sổ đen », như vừa nói chưa đầy một tuần sau khi bị Washington nhắm tới, Lukoil đã phải thông báo « bán tài sản ở nước ngoài ». Mọi giao dịch của Lukoil và Rosneft với các đối tác bằng đô la cũng bị trong tầm ngắm của bộ Tài Chính Mỹ. Theo nhận định của tướng Dominique Trinquand, nguyên trưởng phái đoàn quân sự Pháp tại Liên Hiệp Quốc, lệnh trừng phạt tổng thống Trump vừa ban hành chỉ nhắm tới các dịch vụ xuất nhập khẩu của hai tập đoàn nói trên được thanh toán bằng đô la, nên ít ảnh hưởng đến giao dịch giữa Nga và Trung Quốc. Một phần hóa đơn năng lượng giữa hai đối tác này đã được thanh toán trực tiếp bằng đồng rúp Nga hoặc nhân dân tệ Trung Quốc. Nhưng vô hình chung, Ấn Độ lại là bên chịu áp lực mạnh hơn cả. « Chính điều này càng đẩy Nga vào vòng tay Trung Quốc : khi xuất khẩu dầu hỏa và nhận vào nhân dân tệ, Matxcơva lại dùng chính đơn vị tiền tệ này để mua hàng Trung Quốc. Sau khi Donald Trump quyết định trừng phạt hai tập đoàn dầu khí của Nga, lập tức thị trường có dấu hiệu bị căng thẳng. Đồng thời Ấn Độ lập đã có phản ứng tức thời. New Delhi hiện là một trong hai khách hàng mua vào nhiều dầu nhất của Nga. Do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập từ dầu hỏa, đến khả năng tài chính của Nga ». Ấn Độ khó từ bỏ dầu hỏa Nga Năm 2024, New Delhi nhập khẩu gần 1,8 tỷ thùng dầu thô cả năm, trong đó dầu Nga chiếm hơn 1/3. Ấn Độ cùng với Trung Quốc là hai khách hàng quan trọng nhất hiện nay mua vào dầu khí của Nga. Hai thị trường này cộng lại chiếm từ 70 đến 80 % tổng kim ngạch xuất khẩu dầu hỏa Nga. Thực ra, trên hồ sơ năng lượng Ấn Độ từ nhiều tuần qua đã chịu áp lực rất lớn từ phía Washington. Lệnh trừng phạt của Washington nhắm vào Rosneft, Lukoil chỉ là « giọt nước làm tràn ly » : bởi hai công ty này chiếm khoảng một nửa lượng xuất khẩu dầu mỏ của Nga sang Ấn Độ. Tập đoàn Reliance, nhà nhập khẩu chính của Ấn Độ, đã xác nhận đang điều chỉnh các đơn hàng dầu hỏa với đối tác Nga. Một ngân hàng Ấn Độ hỗ trợ các khoản thanh toán giao dịch về năng lược đang lo các hoạt động trên lãnh thổ Hoa Kỳ bị ảnh hưởng. Để tránh các lệnh trừng phạt, các công ty Ấn Độ đã bắt đầu thanh toán bằng đồng dirham của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và một số ngoại tệ khác, nhưng giải pháp này gây « không ít tổn hại cho cả phía Ấn Độ và Nga ». Ngay tuần trước, New Delhi đã nhượng bộ Hoa Kỳ qua tuyên bố « có thể quay lại với các nhà cung cấp truyền thống » như như Irak, Ả Rập Xê Út và nhất là Hoa Kỳ. Song đó chỉ là những khó khăn nhất thời. Cả New Delhi lẫn Matxcơva cùng có khả năng thích ứng khá nhanh. Nga đã chứng minh khả năng vượt qua các lệnh trừng phạt. New Delhi, học hỏi từ kinh nghiệm của Trung Quốc và Iran, đang nhanh chóng thành lập các thực thể trung gian để hợp pháp hóa các khoản giao dịch với Nga. Điều đó không cấm cản việc Mỹ nhắm vào xuất khẩu dầu hỏa của Nga là một áp lực thực thụ đối với tổng thống Vladimir Putin. Phát biểu ngay sau khi Nhà Trắng loan báo phong tỏa tài sản của Lukoil và Rosneft ở Hoa Kỳ và cấm các doanh nghiệp Mỹ tiếp tục giao thương với hai tên tuổi hàng đầu này của Nga, tổng thống Vladimir Putin coi đây là một quyết định thiếu thân thiện. Phát ngôn viên của điện Kremlin Dmitri Peskov cũng đã nhắc đi nhắc lại điều đó. Trên đài truyền hình France 5, tướng Dominique Trinquand nói đến những tác động không chỉ về kinh tế mà cả quân sự sau này : « Cỗ máy chiến tranh của Nga chủ yếu do ngành năng lượng đài thọ. Do vậy trong ngắn hạn cũng như dài hạn, sẽ tác động đến thu nhập, đến tình trạng tài chính của Nga. Matxcơva đã bắt đầu gặp khó khăn nên đã phải tăng thuế để tiếp tục trang trải các chi phí chiến tranh. Nga gặp khó khăn trong việc tài trợ cho các ngành công nghiệp quốc phòng, cũng bị hạn chế trong việc cấp tiền thưởng cho các quân nhân. Đánh vào dầu hỏa của Nga tác động luôn cả đến việc tuyển mộ lính ». Ưu tiên của TT Trump : Xăng dầu rẻ cho người Mỹ Về câu hỏi tại sao chính quyền Trump đợi đến thời điểm này mới trực tiếp đánh vào ngành dầu hỏa, « túi tiền » của Nga câu trả lời khá đơn giản. Thứ nhất, trong một thời gian dài ông Trump vẫn tin vào khả năng đàm phán xuất chúng của bản thân và sẽ thuyết phục được đồng cấp Nga. Lãnh đạo Nhà Trắng cũng đã quan tâm đến quyền lợi của các tập đoàn dầu khí Hoa Kỳ đang muốn quay trở lại và tiếp tục hoạt động, hợp tác với các đối tác Nga. Lý do thứ hai, như Anthony Bellanger đặc trách chuyên mục địa chính trị trên đài truyền hình FranceInfo TV nhận định, tổng thống Trump trước hết quan tâm đến quyền lợi của người tiêu dùng Mỹ khi phải đi đổ xăng. « Nếu như có một điều mà từ đầu nhiệm kỳ đến nay tổng thống Trump không hề thay đổi ý kiến, đó là hồ sơ dầu lửa. Giá dầu luôn là điều ám ảnh đối với ông. Tránh gây căng thẳng trên thị trường năng lượng, ông đã đôn đáo thuyết phục các quốc gia vùng Vịnh, đứng đầu là Ả Rập Xê Út mở van dầu. Donald Trump biết rằng những biến động trên thị trường này lập tức làm dao động giá xăng dầu ở Mỹ. Cử tri của ông sẽ cảm nhận ngay khi đi đổ xăng. Hiện tại, cho dù Washington đang siết chặt gọng kềm với các nhà sản xuất dầu khí của Nga, giá dầu có tăng thêm một chút nhưng mới chỉ giao động ở mức trên dưới 65 đô la một thùng dầu. Như vừa nói, Trung Quốc và Ấn Độ, theo thứ tự, hiện là hai nguồn nhập khẩu dầu lớn nhất của Nga. Nhưng vì có những rủi ro khi giao dịch với Nga như vậy, cho nên Bắc Kinh và Ấn Độ ép giá, mua vào với giá rẻ hơn từ 15 đến 20 % so với giá thị trường. Với việc chính quyền Trump liên tục gây sức ép đòi New Delhi ngừng nhập khẩu dầu hỏa của Nga, Washington đòi trừng phạt tất cả những ai tiếp tục giao dịch với các tập đoàn như Lukoil và Rosneft… mức độ rủi ro như vậy đối với Trung Quốc và Ấn Độ lại càng cao hơn. Có nhiều khả năng trong tương lai, hai khách hàng này sẽ còn đòi Nga phải bán dầu khí với giá còn rẻ hơn nữa. Có thể là hai quốc gia châu Á này sẽ nhập khẩu dầu của Nga với giá 30 % thấp hơn so với giá thị trường ». Tổng thống Putin từ khi điều quân xâm chiếm Ukraina luôn chứng minh khả năng thích nghi của Nga trước các đòn trừng phạt phương Tây ban hành. Riêng trong lĩnh vực dầu hỏa và năng lượng thì Nga vừa có tính sáng tạo, vừa là một nhà vô địch trong việc « thăm dò, khai thác các vùng xám » để các tập đoàn dầu khí vẫn có thể cung cấp đến 1/3 ngân sách quốc gia. Điện Kremlin thừa biết nhược điểm của tất cả cac nước phương Tây, kể cả Hoa Kỳ, là việc thực thi các lệnh trừng phạt. Riêng với Donald Trump có lẽ Matxcơva vẫn tin vào khả năng có thể làm tổng thống Hoa Kỳ đổi ý.
Quỹ An Sinh Xã Hội - Sécurité Sociale tròn 80 tuổi. Pháp tự hào có hệ thống an sinh xã hội công bằng nhất tại châu Âu và còn rộng hơn thế nữa. Là biểu tượng của công bằng xã hội, là thành tựu tiêu biểu nhất cho đồng thuận giữa các tầng lớp « chủ và thợ » trong giai đoạn tái thiết kinh tế hậu Thế Chiến Thứ Hai, quỹ Sécurité Sociale liên tục là một gánh nặng tài chính, thâm hụt ngân sách kinh niên. Đâu là những thách thức để có thể tồn tại và bảo vệ « ngọn hải đăng » về công bằng xã hội trên thế giới ? « Đến tháng 7/1946 Quỹ An Sinh Xã Hội -Sécurité Sociale và Quỹ Trợ Cấp Gia Đình Caisse d’Allocation Familiale bắt đầu hoạt động. Ngay từ đầu 1946 những người đóng góp lập tức trông thấy hoàn cảnh của họ được cải thiện nhiều » : Bộ trưởng Lao Động Pháp Ambroise Croizart, một người cộng sản dưới chính phủ lâm thời của tướng Charles de Gaulle sau Thế Chiến Thứ Hai đã thông báo như trên vào tháng 10/1945. Cùng lúc Quỹ An Sinh Xã Hội Sécurité Sociale mà người Pháp là « la Sécu » đã bắt đầu « xử lý » hồ sơ đầu tiên, hỗ trợ bệnh nhân « La Sécu » : kết quả từ một sự đồng lòng trong xã hội Trên đài phát thanh France Culture, Eric Chenut, giám đốc điều hành Quỹ Bảo Hiểm Bổ Sung Quốc Gia -Fédération Nationale de la Mutualité Française, nhắc lại điểm khởi đầu : « La Sécu » là một biểu tượng của những tiến bộ trong xã hội Pháp trong thời kỳ tái thiết sau chiến tranh, trong thời kỳ mà giới chủ và thợ và các đảng phái chính trị, bất luận tả hữu cùng đặt quyền lợi chung lên trên hết : « Quỹ an sinh xã hội bắt đầu nảy sinh từ thời Đệ Nhị Thế Chiến, trước khi tàn chiến tranh. Đây là một sự đồng thuận chưa từng thấy giữa các thành phần trong xã hội. Khi đó trong xã hội, trong hàng ngũ kháng chiến, những người đi theo chủ nghĩa cộng sản, những người đi theo đảng xã hội và cả những người đi theo tướng de Gaulle, giữa giới chủ và thợ thuyền … Tất cả đều đồng lòng để hướng tới một mô hình xã hội công bằng hơn, ở đó mọi người cùng tránh được cảnh bần cùng, tránh được những chia rẽ trong xã hội. Tất cả các thành phần trong xã hội khi đó đều hướng tới ý tưởng đầy nhân tính, vì một xã hội hài hòa, nơi mà mỗi công dân có trách nhiệm che chở, bảo vệ những người chung quanh. Sự liên đới đó dẫn đến việc mọi người cùng phải đóng góp. Đóng góp cho một quỹ an sinh xã hội. Nỗ lực chung này được giới chủ, giới làm công chia sẻ. Mục đích là làm thế nào để tránh được những hậu quả tai hại của bệnh tật, tránh được rủi ro tai nạn lao động gây nên, giúp đỡ người nghỉ hưu, hỗ trợ những gia đình đông con ». Quỹ Sécurité Sociale chính thức ra đời từ hai sắc lệnh được ban hành vào các ngày 4 và 19 tháng 10 năm 1945. Vào thời điểm đó, vực dậy đất nước sau mười năm khủng hoảng kinh tế và chiến tranh. Các lực lượng chính trị chủ chốt (khi đó là đảng Cộng Sản, Xã Hội và phe của tướng de Gaulle cánh hữu) cùng hướng đến mục tiêu xây dựng một hệ thống bảo vệ xã hội phổ cập. Đây cũng là một sự tiếp nối trong truyền thống lâu đời hơn. Nhà sử học Léo Rosell đại học Paris Dauphine lưu ý : Từ cuộc Cách Mạng 1789 tại Pháp đã nảy sinh ý tưởng trợ cấp xã hội là một nghĩa vụ thiêng liêng của một quốc gia đối với từng cá nhân. Trong suốt thế kỷ XIX, ý tưởng về một hệ thống bảo vệ xã hội phổ cập dựa trên tinh thần đoàn kết quốc gia đã lớn mạnh dần và thêm vào đó là những hướng đi để bảo vệ tần lớp công nhân trên tinh thần liên đới. Eric Chenut, giám đốc quỹ an sinh xã hội bổ sung của Pháp nêu bật những thành tựu về mặt y tế, xã hội mà Quỹ Sécurité Nationale cùng FNMF đã mang lại : « Nhờ có quỹ an sinh xã hội, cộng thêm với bảo hiểm bổ sung còn được gọi là Mutuelle giúp các phí tổn y tế giảm đi đáng kể. Về mặt ý tế, người Pháp được bảo vệ tốt nhất trong toàn khối châu Âu. Đây là một may mắn rất lớn. Nhờ thế mà tuổi thọ của dân Pháp tăng thêm được 40 %, tỷ lệ tử vong nơi trẻ em giảm đi 15 lần so với 80 năm về trước ». Sử gia chuyên nghiên cứu về xã hội Pháp Léo Rosell lưu ý : từ ngày hoạt động đến nay, câu hỏi chính luôn là các nguồn chi và thu của quỹ này. Năm 1946 ngân sách của « La Sécu » đã là đề tài dẫn tới những cuộc tranh cãi « nảy lửa » ở Quốc Hội. Năm 1967 tổng thống Georges Pompidou là người đầu tiên nói đến « Le Trou de la Sécu » thâm hụt sâu như một cái hố của Quỹ An Sinh Xã Hội. Năm 2024 quỹ này thu vào 628 tỷ euro (từ các khoản đóng góp xã hội của giới chủ, của những người làm công ăn lương, từ những người còn trong tuổi lao động và cả từ những người đã về hưu, cũng như từ nhiều loại thuế khác), nhưng lại chi ra 643 tỷ euro bảo đảm trợ cấp y tế cho 68 triệu dân Pháp. Thâm hụt ngân sách của quỹ này năm ngoái là hơn 15 tỷ euro, tăng lên gấp rưỡi so với hồi năm 2000. Mỗi lần kinh tế bị khủng hoảng hay có biến cố bất thường như hồi đại dịch Covid 2019 lập tức thâm hụt của quyx Sécurité Sociale lại bị đẩy lên cao. Năm 2020 khi mà toàn bộ nước Pháp bị « đóng cửa » để chống dịch, kinh tế bị đóng băng vì virút Corona SARS Cov2 ; không biết bao nhiêu người vào bệnh viện, bắt hàng ngàn người phải nghỉ việc và làm xét nghiệm miễn phí … thì thâm hụt ngân sách của Quỹ An Sinh Xã Hội năm 2020 đụng trần 40 tỷ euro ! Eric Chenut trên đài Pháp thanh France Culture giải thích vấn đề dân số của Pháp khiến hiện tượng « thâm hụt kinh niên » của quỹ này là một tiến trình « không thể đảo ngược » : « Ban đầu, toàn bộ quỹ an sinh xã hội đều dựa vào các khoản đóng góp của giới chủ và người làm công ăn lương. Thế nhưng rồi tình hình dân số ở Pháp đã thay đổi rất nhiều từ sau Đệ Nhị Thế Chiếu đến nay. Ở vào thập niên 1940-1950 thì 5 người đang làm việc đóng góp để cho lương hưu của 1 người, tỷ lệ này hiện tại là 1,6 và trong tương lai, đến cuối thập niên này sẽ là 1,2. Nói cách khác các khoản đóng góp của mỗi người còn đang đi làm cho quỹ hưu trí càng lúc càng nặng. Thêm vào đó, số người về hưu tại Pháp cũng đã tăng lên nhiều so với những thập niên trước đây. Thành thử không thể chỉ trông chờ vào đóng góp của giới chủ và người còn trong tuổi lao động. Từ những năm 1980 các chính phu liên tiếp tìm kiếm các nguồn tài trợ bổ sung để quỹ an sinh xã hội có thể tồn tại trong một môi trường mà cạnh tranh với các quốc gia khác trên thế giới càng lúc càng mạnh. Cụ thể là chính phủ huy động thuế CSG và một phần thuế trị giá gia tăng TVA cho quỹ an sinh xã hội. Hiện nay 1 phần 3 thu nhập của quỹ này do giới chủ và giới làm công ăn lương đóng góp, hơn 40 % các khoản chi tiêu của quỹ an sinh xã hội do thuế CSG và TVA đóng vào, cộng thêm với một số thuế đặc biệt đánh vào rượu hay thuốc là chẳng hạn (...) Aicũng biết nhu cầu của quỹ an sinh xã hội càng lúc càng lớn, do dân số đang già đi. Nhu cầu về ý tế càng lúc càng nặng. Thí dụ như một người ngoài 75 tuổi, sức khỏe suy yếu, nhu cầu về y tế cao gấp 3 lần so với 1 người còn trong độ tuổi 30. Cùng lúc, thì từ nay đến năm 2050, số người già trên 75 tuổi ở Pháp sẽ cao hơn gấp 3 lần so với hiện tại. Trong những điều kiện đó, ngân sách của quỹ an sinh xã hội không thể nào được cân bằng ». Dân số của Pháp đang trên đà lão hóa có nghĩa là số người trong tuổi lao động đóng góp cho quỹ càng lúc càng ít. Trái lại nhu cầu về y tế của xã hội thì lại không ngừng gia tăng. Người cao tuổi được chăm sóc tốt hơn, tăng thêm tuổi thọ. Theo các dự báo đến ngưỡng 2050 nước Pháp sẽ phải dành hẳn từ 3 đến 5 % GDP chỉ để tài trợ cho các khoản chi phí và bảo hiểm về y tế. Theo thẩm định của Liên đoàn quốc gia về an sinh xã hội FNMF, với hệ thống an sinh xã hội của Pháp hiện nay, để được xã hội gánh vác bớt một phần phí tổn y tế khi cần mua thuốc, đi khám bệnh hay nhập viện, để vẫn nhận được một phần lương cho dù có phải nghỉ ốm, để được hưởng trợ cấp gia đình tùy theo thu nhập và số đông con cái… mỗi ngày trung bình, một người Pháp phải chịu đóng vào quỹ chung cho xã hội 11 euro. Eric Chenut điều hành quỹ này đánh giá : đây là cái giá không quá đắt, mà lại cho phép tất cả cùng được giúp đỡ. Ông đánh giá cao sự liên đới này trong xã hội ở Pháp. Trong bối cảnh ngân sách Quỹ An Sinh Xã Hội bị thâm hụt một cách thường trực, giải pháp hiển nhiên nhất là « giảm chi » mà « tăng thu ». Một số tiếng nói cho rằng, ngừng trợ cấp cho những người có thu nhập cao -nhưng họ vẫn phải đóng góp cho xã hội, để chỉ tập trung vào những đối tượng cần được giúp đỡ, có thể là một giải quyết gánh nặng này. Nhưng Michael Zemmour, giáo sư kinh tế Đại học Paris Dauphine cho rằng đề xuất sau cùng này động chạm đến bản chất của mô hình xã hội Pháp, vốn dựa trên nguyên tắc « phổ quát » : « Các nghiên cứu cho thấy quỹ an sinh xã hội là một công cụ tuyệt vời tạo nên bình đẳng trong xã hội, để phân phối lại lợi tức cho người dân … Nguyên tắc cơ bản là đóng góp của mỗi người tùy thuộc vào khả năng, tùy thuộc vào mức thu nhập, vào thuế trị giá gia tăng hay thuế xã hội CSG. Đổi lại thì chúng ta được giúp đỡ về tài chính khi đau ốm. Sự giúp đỡ đó tùy thuộc vào nhu cầu về y tế, vào tình trạng sức khỏe của mỗi người. Nguyên tắc này dễ chấp nhận được bởi vì khi đóng góp cho quỹ an sinh xã hội, là đóng góp cho bản thân. Nhưng nếu may mắn, không phải sử dụng đến số tiền đó, thì những đóng góp này được dùng để tài trợ các phí tổn y tế cho những người không có điều kiện ». Một cơ đồ cho xã hội Thực tế không thể chối cãi là dân số Pháp đang già đi, nguồn lực lao động giảm sụt. hệ quả kèm theo là khả năng tạo ra thêm của cải cho đất nước bị tác động trong lúc nhu cầu về y tế không ngừng gia tăng. Đối với quỹ y tế không thể tránh khỏi tình trạng bội chi. Nhìn đến quỹ hưu bổng, áp lực với những người trong tuổi lao động ngày càng nặng. Cùng lúc, xã hội Pháp hiện tại không còn « đồng lòng » như 80 năm về trước. Eric Chenut điều hành quỹ xã hội FNMF đã nhấn mạnh rằng, sở dĩ mà người Pháp gắn bó với quỹ Sécurité Sociale trước hết đây là một di sản chung của xã hội Pháp. Đây không là di sản của cánh tả hay cánh hữu, của một tầng lớp trong xã hội mà Quỹ này được hình thành khi mà tất cả cùng theo đuổi mục đích : tạo điều kiện giảm thiểu những rủi ro về y tế, đề phòng tai nạn, hay bệnh tật cướp đi cơ hội của những con người sinh sống trên cùng một đất nước. Ý tưởng về một cơ đồ chung cho nước Pháp của những năm sau Thế Chiến
Từ khi trở thành công xưởng của thế giới, hàng rẻ sản xuất tại Trung Quốc đã bóp chết một phần lớn mạng lưới công nghiệp châu Âu, nhiều nhà máy trên toàn nước Pháp phải đóng cửa, sa thải nhân viên. Bước kế tiếp để Trung Quốc « triệt hạ đối thủ cạnh tranh » phải chăng là nhắm tới các hệ thống phân phối vào các cửa hàng đủ mọi cấp ? Đồ đắt và rẻ tiền cùng trong một cửa hàng Là một trong 5 nhãn hiệu quần áo « phổ biến nhất », được người Pháp ưa chuộng nhất, Shein chuẩn bị khai trương gian hàng đầu tiên ngay giữa lòng « kinh đô của ngành thời trang » Paris. Đầu tháng 11 tới đây, cửa hàng lớn và cũng là một trung tâm thương mại tiêu biểu nhất của Paris sẽ dành hẳn một tầng lầu với 1.200 mét vuông làm tủ kính trưng bày hàng bình dân, mang nhãn hiệu Shein của Trung Quốc. Giá trung bình một món hàng trong không gian trưng bày này là 9 euro. Để mở một gian hàng cố định đầu tiên, trực tiếp giao lưu với khách hàng, Shein đã chọn kinh đô của ngành thời trang thế giới. Tập đoàn Trung Quốc khởi nghiệp từ Quảng Châu này không chỉ còn là một nhà « phân phối trên mạng », với các dịch vụ mua bán trực tuyến, cũng không chỉ hài lòng với những chiến dịch tiếp thị gây chú với những cửa hàng « tạm hoạt động trong một thời gian cố định ». Lần này Shein nhắm tới cửa hàng BHV ngay giữa lòng Paris, cách không xa tòa thị chính của thành phố. Bước kế tiếp, Shein sẽ hiện diện luôn cả ở các cửa hàng của hệ thống Galeries Lafayette tại 5 thành phố (Dijon, Grenoble, Reims, Limoges và Angers). Tin hãng thời trang giá rẻ Trung Quốc Shein chen chân vào BHV gây chấn động và làm dấy lên nhiều tranh cãi. Được thành lập từ năm 1860 dưới tên gọi Bazar de l’Hôtel de Ville – tức là cửa hàng Bách Hóa Khu Hotel de Ville, rồi được đổi tên thành BHV kể từ năm 2013, cửa hàng nổi tiếng này ở quận 4 Paris, từng là « thánh đường mua sắm » của cả một tầng lớp giàu có và trưởng giả. Giữa thế kỷ 19, BHV cũng như nhiều cửa hàng lớn khác của Pháp - Le Bon Marché, Printemps, Galeries Lafayette, La Samaritaine ... ưu tiên nhằm phục vụ những khách hàng khó tính với nhu cầu tiêu thụ có chọn lọc. Cõng rắn cắn gà nhà Vậy làm thế nào nhãn hiệu hàng may mặc « rẻ tiền » Trung Quốc lại chen chân được vào một cửa hàng lớn của Paris? Tạo chỗ đứng cho « hàng rẻ » Trung Quốc ngay giữa một kinh đô thời trang lâu đời nhất thế giới này thậm chí bị xem là một sự « xúc phạm ». Kèm theo đó là những câu hỏi liệu rằng hàng Trung Quốc có tuân thủ những chuẩn mực của Pháp và châu Âu về lao động và môi trường hay không ? Liệu rằng những « tượng đài mua sắm hạng sang, chuyên dành phân phối hàng có chất lượng » như các cửa hàng lớn của Pháp có đang « nối giáo cho giặc » sau khi đã giết chết các hãng may mặc, các nhà máy dệt may của Pháp giờ đây Trung Quốc bắt đầu tấn công luôn cả đến các hệ thống phân phối ? Trả lời báo Le Figaro, giám đốc điều hành Shein xem việc chọn nước Pháp là một « thông điệp mạnh mẽ », là một « bước đi tự nhiên » do Pháp là thị trường lớn nhất của Shein. Tại đây, theo cơ quan tư vấn EY-Parthenon, Shein đứng thứ tư trong số những nhãn hiệu được công chúng Pháp ưa thích. Riêng trong lĩnh vực may mặc thì đứng hạng 5 theo bảng xếp hạng của Viện nghiên cứu thời trang IFM. Hai hệ thống phân phối trên mạng của Trung Quốc là Shein và Temu cộng lại chiếm 16 % thị phần các dịch vụ trực tuyến trong ngành may mặc của toàn nước Pháp. Trả lời đài truyền hình Pháp France 5, Frédéric Merlin, chủ nhân và cũng là đồng sáng lập viên tập đoàn SGM hiện đang nắm giữ cửa hàng BHV Paris giải thích ý nghĩa của việc mở cửa BHV cho hàng rẻ Trung Quốc dưới nhãn hiệu Shein xuất phát từ ý đưởng muốn kết hợp những gì tốt đẹp nhất từ hai mô hình kinh doanh : « Chúng tôi đang làm thay đổi thể thức vận hành của Shein. Đương nhiên không thể là một giải pháp hoàn hảo nhưng chúng tôi đang tìm một hướng đi mới. Hiện tại khi mua bán, chúng ta hoặc là đến các cửa hàng, hoặc là giao dịch trên mạng và hàng được chuyển đến tận nhà. Với Shein hiện diện trong khuôn viên của cửa hàng BHV chúng tôi kết hợp giữa hai hình thức mua bán nói trên để thu hút khách hàng đến trung tâm của BHV : họ nhìn tận mắt, đánh giá chất lượng quần áo của Shein. Chúng ta có thể mua hàng tại chỗ, rồi tiếp theo là tin tưởng hơn vào nhãn hiệu này khi cần đặt mua trên mạng. Trong chiều ngược lại thì những người khách từ trước đến nay chỉ giao dịch với thương hiệu này qua mạng thì bây giờ họ sẽ tò mò hơn, tìm đến trung tâm của BHV … Chúng tôi hy vọng lượng khách lui tới các cửa hàng cao cấp của Pháp sẽ nhiều hơn. Cũng Frédéric Merlin giải thích tiếp là BHV muốn khai thác những lợi thế của đối tác Trung Quốc này : « Shein là một cỗ máy rất xuất sắc về tiếp thị, họ sử dụng thuật toán tìm kiếm rất tài tình để quảng cáo, để giới thiệu sản phẩm… Nhờ thế mà một khách hàng ở Rennes, miền tây nước Pháp sẽ dễ dàng mua được những mặt hàng thường chỉ có ở thành phố Dijon, mãi tận miền đông nước Pháp chẳng hạn. Nhờ vậy các cửa hàng không cần phải có các kho hàng quá lớn, bớt tốn kém ở khâu này ». Chuẩn mực lao động và môi trường : Shein khó trấn an công luận Thống kê của hiệp hội dệt may Pháp, mỗi năm Pháp mất đi 40.000 việc làm chỉ riêng trong ngành dệt may vì hàng rẻ Trung Quốc. Các nhà máy thi nhau đóng cửa. Thậm chí số khách lui tới các cửa hàng, các trung tâm thương mại cũng có phần vắng đi nhiều do bị các nền tảng mua bán trên mạng cạnh, do đang bị « hàng rẻ Trung Quốc nhận chìm ». Trước những cáo buộc hàng Trung Quốc không tuân thủ chuẩn mực quốc tế về lao động, bóc lột lao động cưỡng bức ở Tân Cương, là hàng không thân thiện với môi trường … và nhất là cạnh tranh bất bình đẳng với hàng Pháp, hàng châu Âu. Frédéric Merlin đưa ra câu trả lời không mấy thuyết phục : « Shein là một nền tảng giao dịch cho phép các nhà sản xuất tư nhân Trung Quốc bán trực tiếp những sản phẩm làm ra. Đồng thời nhãn hiệu này cũng có riêng những cơ sở may mặc của họ và chúng tôi chỉ tập trung vào hàng sản xuất từ các cơ sở của Shein mà thôi nhưng đó cũng là những xưởng may cung cấp quần áo cho các nhãn hiệu của Pháp … » Vẫn trên đài truyền hình France5, Frédéric Merlin tự hào khoe rằng, gian hàng Shein trong trung tâm thương mại BHV tập đoàn SGM ông điều hành sẽ cho phép tạo thêm khoảng 200 việc làm mỗi năm và không có chuyện vì hàng rẻ Trung Quốc cũng được phân phối trực tuyến mà khách hàng ở Pháp bớt lui tới các cửa hàng mua sắm. « Không phải ai cũng có điều kiện để mua hàng đắt tiền. Hơn nữa tôi tin vào những tính đa dạng trong cung cách mua sắm của khách hàng. Những người bước chân vào cửa hàng của BHV hoàn toàn có thể vừa mua quần áo của Shein, vừa mua những túi xách tay hay mua son phấn … » Có nhiều câu hỏi chung quanh mối hợp tác Vào lúc mọi chú ý đang đổ dồn về hợp tác giữa Shein và BHV cũng như với hệ thống cửa hàng Galeries Lafayette sắp tới đây, thì một tên tuổi khác của ngành may mặc của Pháp là Pimkie từ tháng 9/2025 đã chính thức bắt tay với tập đoàn Trung Quốc này. Pimkie là một hệ thống chuyên phân phối hàng may mặc được giới trẻ ưa thích nhưng đang thua lỗ mà một phần là do các hoạt động mua bán trực tuyến gây nên. Chuỗi cung cấp này liên kết với Shein để cùng « sản xuất và phân phối » qua mạng để đưa ra những « bộ sưu tậm thời trang riêng biệt ». Pimkie chờ đợi đến 2028 hợp tác với Shein sẽ cho phép thu về 100 triệu euro tương đương với 1/3 doanh thu hàng năm của tập đoàn Pháp. Đối với phía Trung Quốc, hợp tác với Pháp là kịch bản lý tưởng. Năm 2024 thặng dự mậu dịch của công xưởng sản xuất thế giới này là 1.000 tỷ đô la - tương đương với gần 1/3 GDP của Pháp. Trong 8 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu Trung Quốc sang châu Âu tăng hơn 20 %. Trong quá trình phát triển kinh tế, hơn 40 qua, Trung Quốc đã chen chân vào các lĩnh vực như công nghiệp xe hơi, giết chết các nhà máy luyện kim, các nhà máy hóa chất, các hãng dệt may … của Pháp. Cũng Trung Quốc đã trở thành những đối thủ đáng gờm nhất của Pháp nói riêng, Âu Mỹ nói chung trong những lĩnh vực công nghệ tiên tiến và trên thị trường High Tech, trong lĩnh vực chuyển đổi sang năng lượng … giờ đây đến lượt các hệ thống phân phối, các cửa hàng của Pháp trở thành những mục tiêu của tư bản Trung Quốc.
Một làn sóng ngầm về lâu dài tác động đến mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Mỹ và các quốc gia Vùng Vịnh. Xung đột ở Gaza, vụ Israel xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Qatar để tiêu diệt phong trào Hamas trước mắt chưa đe dọa đến những dự án đầu từ hàng trăm tỷ đô la các quốc gia dầu hỏa vừa cam kết với Hoa Kỳ nhưng đã khiến Washington khó xử. Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, một trong 6 nước thuộc Hội Đồng Hợp Tác Vùng Vịnh GCC đã chính thức tham gia khối BRICS nơi Trung Quốc và Nga đóng vai trò chủ đạo. Một thành viên thứ nhì là Ả Rập Xê Út đã chính thức được mời tham gia nhóm các nền kinh tế đang trỗi dậy. Năm 2023 Bắc Kinh bắc nhịp cầu hỏa giải Ả Rập Xê Út, một đồng minh lầu đời của Mỹ ở Trung Đông với Iran. Riêng Qatar tuy không ngừng mở rộng giao thương với Trung Quốc, nhưng vẫn còn giữ khoảng cách với Bắc Kinh. Hoài nghi từ các đồng minh của Mỹ ở Trung Đông Có điều sau vụ Israel nhắm vào một phái đoàn đàm phán của Hamas đang có mặt tại Doha đã oanh kích một tòa nhà ngay tại thủ đô Qatar hôm 09/09/2025, căng thẳng leo thang giữa một bên là các quốc gia Vùng Vịnh, các nước Ả Rập Hồi Giáo và bên kia là Israel được Mỹ yểm trợ. Qatar dọa ngừng làm trọng tài giữa Israel và Hamas chấm dứt xung đột tại Gaza. Cùng lúc, Hoa Kỳ chỉ cảnh cáo chính quyền của thủ tướng Benjamin Netanyahu cho có lệ. Phải đợi đến 3 tuần sau sự cố nói trên thủ tướng Israel từ Washington mới chính thức bày tỏ « ân hận sâu sắc » đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Qatar. Trước Qatar, Ả Rập Xê Út từng có cơ hội thử thách tính vững trắc của đồng minh Hoa Kỳ : Tháng 9/2019 Donald Trump trong nhiệm kỳ đầu đã không có phản ứng gì khi drone Iran nhắm vào các cơ sở dầu hỏa của Ả Rập Xê Út cho dù Ryiad mua hàng tỷ đô la vũ khí của Mỹ. Trả lời RFI tiếng Việt, chuyên gia Jean -Loup Samaan, Viện Nghiên Cứu Trung Đông trường Đại Học Quốc Gia Singapore, trước hết giải thích về tầm mức nghiêm trọng của đợt « oanh kích » nhắm vào Doha hôm 09/09/2025 không chỉ đối với Qatar mà cả với các quốc gia trong Vùng Vịnh. Jean-Loup Samaan : « Cuộc tấn công này đã gây ra phản ứng từ các nước vùng Vịnh vì nhiều lý do. Thứ nhất, đây là một cuộc tấn công bất ngờ bởi vì từ trước đến nay, việc Israel tấn công Qatar được xem như là một “lằn ranh đỏ” không thể vượt qua. Điểm thứ nhì, đây lại là một cuộc tấn công từ một đồng minh của Hoa Kỳ – điều này chưa từng xảy ra. Trước đây, các cuộc tấn công vào Qatar thường đến từ Iran, hoặc từ lực lượng Houthi ở Yemen, hay từ Irak. Nhưng lần này lại là từ Israel một đồng minh thân cận của Mỹ. Chính vì thế mà gây ra nhiều vấn đề, đặc biệt là do Washington đã kín đáo, không thực sự lên án cuộc tấn công. Điểm này khiến các quốc gia vùng Vịnh hoang mang. Họ tự hỏi liệu các thỏa thuận quốc phòng với Hoa Kỳ còn đáng tin cậy hay không và nên chăng tiếp tục duy trì mối quan hệ hợp tác quân sự với Washington? » Tựa như trong trường hợp của Ả Rập Xê Út sáu năm trước đây, lần này Qatar và các nước trong Vùng Vịnh tiếp tục thất vọng về thái độ của Hoa Kỳ. Mới tháng 5/2025 các quốc gia này đã trải thảm đỏ đón tổng thống Trump. Abou Dabi cam kết đầu tư 1.400 tỷ vào Mỹ trong 10 năm. Nhà Trắng khoe đã thu hoạch 1.000 tỷ đô la tại chặng dừng ở vương quốc Ả Râp Xê Út. Còn Qatar hứa đầu tư thêm 10 tỷ đô la vào Mỹ và như Donald Trump giải thích 10 tỷ đô la đó sẽ « nẩy nở thành 12.000 tỷ đô la trong tương lai » cho kinh tế Hoa Kỳ. Riêng trong trường hợp của Qatar, nhà sản xuất thứ nhì của thế giới về dầu hỏa và khí đốt này còn chiếm một vị trí then chốt từ quân sự, ngoại giao đến kinh tế trong chiến lược của Washington tại Trung Đông. Đây là nơi 10.000 quân Mỹ đang đồn trú tại căn cứ quân sự Al Udeid, căn cứ lớn nhất của Hoa Kỳ tại Trung Đông. Jean-Loup Samaan, đại học Singapore điểm lại mối quan hệ khá tốt đẹp và hiệu quả của Qatar. Jean-Loup Samaan : « Về mặt ngoại giao, Qatar đóng vai trò trung gian trong nhiều hồ sơ, như trong đàm phán giữa Mỹ và Taliban – Qatar đã đóng vai trò then chốt trong việc Mỹ rút khỏi Afghanistan năm 2021. Ngoài ra, trong vấn đề Palestine, Qatar cũng là một nhân tố trung tâm khi hỗ trợ các cuộc đàm phán với Hamas cho đến thời điểm hiện tại. Về mặt quân sự, Qatar là nơi đặt Bộ tư lệnh trung tâm của Hoa Kỳ tại khu vực Trung Đông – tức là bộ chỉ huy của quân đội Mỹ phụ trách khu vực này đặt tại căn cứ quân sự Al Udeid Điều đó đặc biệt đáng chú ý khi đặt trong bối cảnh các cuộc không kích của Israel – vì có hàng ngàn binh sĩ Mỹ hiện đang đóng quân thường trực tại Qatar ». 10 tỷ đô la : keo sơn giữa Doha và Washington Jean-Loup Samaan : « Qatar cũng là một đối tác kinh tế của Mỹ. Hai quốc gia này không còn phụ thuộc nhiều vào nhau về về mặt năng lượng như trước bởi vì Mỹ đã trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu năng lượng lớn trong vòng 20 năm qua. Tuy nhiên, Qatar vẫn là một lực lượng tài chính quan trọng – quỹ đầu tư quốc gia của Qatar rất lớn, đầu tư vào bất động sản cao cấp và công nghệ mới. Ví dụ, trong chuyến thăm vùng Vịnh mùa xuân vừa rồi của tổng thống Trump, ông đã đến Qatar và có nhiều thông báo về các khoản đầu tư lớn của Qatar vào kinh tế Hoa Kỳ.Đây là một khía cạnh đáng chú ý trong quan hệ song phương ». Năm 1972 Mỹ thiết lập bang giao với Qatar. Từ đó đến nay quan hệ ngoại giao, quân sự liên tục phát triển « tốt đẹp » hợp tác song phương được phát triển mạnh me trong nhiều lĩnh vực từ quốc phòng đến năng lượng thương mại, đầu tư. Nhân dịp tổng thống Donald Trump vừa công du Qatar tháng 5/2025, Doha thông báo hợp đồng 96 tỷ đô la với tập đoàn Boeing, đầu tư thêm 2 tỷ vào lĩnh vực quốc phòng, 1 tỷ đô la để phát triển công nghệ mới … Chung cuộc, tổng thống Trump trở về Washington với cam kết 10 tỷ đô la đầu tư của Qatar vào Mỹ trong những năm sắp tới. Giới quan sát cho rằng 10 tỷ đô la đầu tư đó là keo sơn, gắn chặt hơn một chút nữa cho liên minh giữa Doha với Washington đề phòng trước những « áp lực và mối đe dọa tiềm tàng của khu vực ». Trong nhiều năm, Qatar từng bị Ả Rập Xê Út, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Bahein và Ai Cập « phong tỏa » về mặt ngoại giao với lý do, Doha dễ dàng bắt tay với các tổ chức khủng bố… Vậy liệu rằng Mỹ bênh vực Nhà nước Do Thái có thể làm gián đoạn các mối quan hệ này, đặc biệt là về mặt kinh tế hay không ? Chuyên gia về Trung Đông tại Đại Học Quốc Gia Singapore trả lời : Jean-Loup Samaan : « Cho đến nay thì chưa. Phía Qatar đưa ra các tuyên bố ngoại giao khá thận trọng. Họ phân biệt rõ ràng giữa lập trường về Israel mà Doha mạnh mẽ lên án với lập trường của Mỹ. Hiện tại Qatar cho rằng về cơ bản, các cuộc tấn công không làm thay đổi quan hệ với Washington. Tuy nhiên, chúng ta sẽ phải chờ trong vài tháng tới để xem liệu có tác động nào về mặt ngoại giao hay quân sự. Còn về kinh tế, hiện tại rất khó để nói, nhưng có thể chắc chắn rằng Qatar sẽ tránh đối đầu trực diện với chính quyền Trump. Họ sẽ không thực hiện các biện pháp trả đũa kinh tế đối với các công ty Mỹ – điều đó có vẻ rất khó xảy ra ». Ông Samaan chú ý hơn cả đến « dư âm » đối với toàn khu vực Vùng Vịnh và thế giới Hồi Giáo từ vụ quân đội Israel truy đuổi một nhóm của phong trào Hồi Giáo Palestine đang có mặt tại thủ đô Doha để đàm phán trong đợt oanh kích hôm 09/09/2025 Jean-Loup Samaan : « Đúng vậy, tác động của đợt oanh kích này được cảm nhận rõ rệt bởi cả sáu quốc gia trong Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh – bao gồm Qatar, Ả Rập Xê Út, Bahrain, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE và Kuwait. Lý do là vì nếu Qatar có thể bị tấn công, thì 5 quốc gia còn lại cũng có thể là mục tiêu tiếp theo và đó cũng là nhóm các nước ở vùng Vịnh phụ thuộc nhiều vào sự hiện diện quân sự của Mỹ. Ả Rập Xê Út đã nhanh chóng phản ứng qua việc công bố một hiệp ước quốc phòng mới với Pakistan – dù thông tin chi tiết chưa rõ, nhưng có một điều khoản tương trợ lẫn nhau nếu một trong hai bị tấn công. Đây là dấu hiệu cho thấy các quốc gia vùng Vịnh đang xem xét những lựa chọn thay thế cho quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ. Họ biết rằng sẽ không có quốc gia nào thay thế hoàn toàn vai trò của Mỹ, nhưng họ sẽ tìm cách đa dạng hóa quan hệ đối ngoại – đặc biệt là hướng tới châu Á ». Trung Quốc là một « lựa chọn thay thế » ? Jean-Loup Samaan : « Về kinh tế, đã có sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ tại vùng Vịnh trong vài năm trở lại đây – đặc biệt là trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo. Song, tôi không nghĩ các quốc gia vùng Vịnh sẽ đột ngột chuyển đầu tư của họ từ Mỹ sang Trung Quốc. Chính quyền Abou Dabi đã đầu tư mạnh vào trí tuệ nhân tạo và từ hai năm nay, điểm đến là Hoa Kỳ mà điển hình là hợp đồng rất lớn hồi 2024 với Microsoft năm 2024 và sau đó vương quốc này cũng đã thông báo sẽ giảm đầu tư vào Trung Quốc. Với những dự án như vậy, rất khó để một sớm một chiều thay đổi điểm đến. Do vậy, tôi không nghĩ Trung Quốc nhanh chóng chiếm lợi thế trong tình huống này, cho dù hướng đầu tư vào Hoa Lục là một khuynh hướng đã nhận thấy từ một vài năm trở lại đây và điều này không liên quan gì đến vụ tấn công nhắm vào Doha hôm 09 tháng 9 vừa qua » . Tháng 5/2025 Bắc Kinh cho phép một quỹ đầu tư của Qatar (QIA) mua lại 10 % vốn của một quỹ bất động sản Trung Quốc AMC. Trung Quốc là đối tác thương mại quạ trọng nhất của Qatar. Trong hai thập niên, từ 2004 đến20 24 tổng trao đổi mậu dịch của Trung Quốc với 6 nước vùng Vịnh đã được nhân lên gấp 10 lần. Cũng nhà nghiên cứu Jean-Loup Samaan, trong một bài tham luận đăng trên trang nhà của Việt Quan Hệ Quốc Tế Pháp năm 2021 đã nhắc đến hiện tượng Doha « bị kẹt » trong cuộc đọ sức giữa Bắc Kinh và Washington. Trung Quốc là nơi đang nắm giữ chìa khóa tăng trưởng của Qatar nhưng về mặt chiến lược, như nhiều quốc gia khác trong khu vực, Qatar vẫn đứng ngoài quỹ đạo của Bắc Kinh. Doha hiện là một mắt xích quan trọng trong kế hoạch Gaza tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump vừa trình bày nhân dịp tiếp thủ tướng Israel. Trước đây, các vòng đàm phán giữa phái đoàn Mỹ và đại diện của Taliban từng bí mật diễn ra tại thủ đô Doha. Căn cứ quân sự Al Udeid cũng là nơi hơn 40.000 nhân viên của Mỹ và Afghanistan sơ tán khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Kaboul tháng 8/2021.
Bắt giữ hơn 300 người lao động Hàn Quốc sẽ tác động đến hơn 20 dự án đầu tư xứ Hàn tại Hoa Kỳ, trì hoãn việc đào tạo và tuyển dụng thêm hàng trăm nghìn việc làm cho người dân Mỹ ? Từ sau vụ nhân viên Cơ Quan Di Trú và Hải Quan Hoa Kỳ - ICE bố ráp nhân viên tại nhà máy Huyndai-LG - Ellabell, bang Georgia hôm 04/09/2025, những nỗ lực của Nhà Trắng chưa hoàn toàn san bằng căng thẳng ngoại giao với Seoul. 15.000 lao động Hàn Quốc sang Mỹ mỗi năm Thông tín viên Trần Công từ Seoul cho biết một cách cụ thể về sự hiện diện của người lao động Hàn Quốc tại Hoa Kỳ và những đóng góp của nguồn nhân lực này cho nền kinh tế lớn thứ tư tại châu Á : « Theo thống kê chính thức, mỗi năm có khoảng 15.000 công dân Hàn Quốc được phép sang Mỹ làm việc hợp pháp thông qua các loại visa lao động. Con số này được cấu thành bởi : E visa (lao động/đầu tư): khoảng 6.600-6.900 người/năm, thường là nhân sự quản lý, điều hành hoặc kỹ thuật viên được cử sang để hỗ trợ chi nhánh và dự án tại Mỹ. Còn loại L-1 visa dành cho cán bộ từ tập đoàn mẹ tại Hàn Quốc sang làm việc cho các chi nhánh ở Mỹ. Riêng thành phần khoảng 2.000 lao động chuyên môn cao (chủ yếu là kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin, y tế, tài chính, khoa học) họ được cấp visa H-1B. Tính chung, khoảng 15.000 lao động Hàn Quốc sang Mỹ mỗi năm theo diện hợp pháp. Đóng góp kinh tế của những lao động này không chỉ dừng ở kiều hối mà còn ở việc họ duy trì vị trí chiến lược của các công ty Hàn tại Mỹ. Dù chưa có số liệu chính thức về tổng lượng kiều hối từ Mỹ về Hàn Quốc, nhưng theo Bộ Tư pháp Hàn Quốc, người lao động Hàn Quốc ở Mỹ nằm trong nhóm có mức thu nhập cao nhất trong cộng đồng người Hàn toàn cầu. Chỉ riêng nhóm kỹ sư, bác sĩ và chuyên gia công nghệ thông tin có thể mang về hàng tỷ đô la kiều hối mỗi năm ». Vì sao nhân viên ICE lại bắt giữ hơn 300 lao động Hàn Quốc trong đợt bố ráp ở nhà máy Huyndai-LG - Ellabell, bang Georgia hôm 04/09/2025 : phải chăng do họ không có giấy tờ hợp lệ ? Thông tín viên Trần Công giải thích : « Hệ thống thị thực Mỹ rất đa dạng, với hai nhóm chính : visa không định cư (H-1B, L-1, E, O-1, P, Q…) cho phép lưu trú có thời hạn ; và visa định cư (EB-2, EB-3) cho phép trở thành thường trú nhân. Ngoài ra, công dân Hàn Quốc cũng được hưởng lợi từ chương trình miễn thị thực VWP (Visa Waiver Program), cho phép nhập cảnh 90 ngày với đăng ký ESTA. Vấn đề nảy sinh khi các công ty Hàn Quốc tận dụng VWP để đưa kỹ sư sang Mỹ lắp đặt máy móc, đào tạo nhân sự hoặc tham gia các công việc ngắn hạn. Theo văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc, đây là thông lệ lâu đời: kỹ sư sang Mỹ nhận lương từ công ty mẹ tại Hàn Quốc chứ không phải là nhận tiền lương từ công ty Mỹ. Tuy nhiên, theo luật pháp Hoa Kỳ, mọi hình thức làm việc nhận thù lao, dù từ trong hay ngoài nước, đều bị coi là lao động và cần visa hợp pháp. Hậu quả là ngày 4/9 vừa qua, Cục Di Trú và Hải Quan Mỹ (ICE) đã phối hợp với nhiều cơ quan liên bang tổ chức một chiến dịch truy quét quy mô lớn tại công trường nhà máy pin liên doanh Hyundai Motor - LG Energy Solution ở bang Georgia. Kết quả: 475 người bị bắt giữ, trong đó có hơn 300 công dân Hàn Quốc. Họ bị cáo buộc đã lạm dụng visa du lịch hoặc diện miễn thị thực để làm việc, vi phạm pháp luật Mỹ. Những người Hàn bị bắt sau đó được đưa về nước bằng chuyến bay thuê bao của Korean Air, dưới sự giám sát của cơ quan di trú Mỹ. Chính phủ Hàn Quốc đã phải đàm phán để đảm bảo rằng họ sẽ không bị bất lợi nếu xin tái nhập cảnh sau này. Giọt nước làm tràn ly ? Đợt bố ráp ở bang Georgia vừa qua có tác động đến chính sách đầu tư của Hàn Quốc tại Hoa Kỳ hay không, nhất là vào lúc quan hệ giữa Seoul và Washington đang trong giai đoạn khó khăn vì chính sách thuế quan của Mỹ ? « Sự việc trên diễn ra trong bối cảnh Hàn Quốc đang đẩy mạnh đầu tư quy mô lớn vào Hoa Kỳ. Theo thông báo mới nhất, chính phủ Hàn Quốc đã cam kết đầu tư 350 tỷ đô la (khoảng 488 nghìn tỷ won) vào Mỹ. Tuy nhiên, con số này gây nhiều tranh cãi vì nó vượt quá tổng vốn FDI toàn cầu của Hàn Quốc trong 5 năm qua (2020-2024). Cần so sánh thêm : 350 tỷ đô la mà tổng thống Lee Jae Myung cam kết sẽ đầu tư vào Mỹ nhân chuyến công du Washington hồi tháng 8/2025 - gần bằng FDI trong suốt giai đoạn 25 năm, từ 1990-2024 của Hàn Quốc. Và con số này cũng lớn hơn tổng vốn Hàn Quốc đã đầu tư vào Mỹ trong lịch sử, khoảng 256,3 tỷ đô la. Các chuyên gia, như Giáo sư Kim Woo-cheol (Đại học Seoul), nhận định rằng việc huy động trực tiếp 350 tỷ đô la trong ngắn hạn là « không tưởng », ngay cả khi tính cả các khoản bảo lãnh, vay vốn và công cụ tài chính. Bộ trưởng Thương Mại Yeo Han Koo cũng đã phải giải thích với phía Mỹ rằng điều kiện của Hàn Quốc khác Nhật Bản, và không thể lặp lại mô hình đầu tư mà Tokyo từng cam kết ». Cơ chế hoán đổi tiền tệ Lo ngại này chính là rào cản lớn nhất trong tiến trình đàm phán Mỹ-Hàn hiện nay. Vụ Hoa Kỳ bố rắp người lao động Hàn Quốc chỉ là giọt nước làm tràn ly. Đối thoại song phương đang lâm vào bế tắc do bất đồng về cơ chế hoán đổi tiền tệ. Trả lời phỏng vấn hãng tin Anh Reuters hôm 19/09/2025, tổng thống Lee Jae Myung báo động kinh tế Hàn Quốc « có nguy cơ rơi vào khủng hoảng tương tự như cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 » nếu như trong tiến trình đàm phán thương mại với Washington, Seoul « chấp nhận các yêu sách hiện tại của Nhà Trắng và không có các biện pháp để tự vệ ». Cuối tháng 8/2025 tổng thống Lee cũng công du Hoa Kỳ, lãnh đạo nhiều tập đoàn lớn của Hàn Quốc đã tháp tùng ông đến Washington, trong đó có « tứ trụ của nền công nghiệp xứ Hàn » gồm Hyundai, LG, Samsung và SK Group trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn. Trước đó, tháng 7/2025 Hàn Quốc và Hoa Kỳ đã đạt được một thỏa thuận thương mại theo đó Seoul cam kết đầu tư 350 tỷ đô la vào Mỹ, đổi lại hàng hóa xuất khẩu vào Mỹ bị đánh thuế 15 % (tương tự như mức thuế Washington đánh vào hàng Nhật hay của Liên Hiệp Châu Âu bán sang thị trường Hoa Kỳ). Hơn hai tháng sau, thỏa thuận thương mại quan trọng đó vẫn chưa được ghi vào văn bản chính thức. Hãng tinh Anh Reuters ghi nhận bộ trưởng Thương Mại Mỹ Howard Lutnick áp dụng phương pháp « kề dao vào cổ đối phương » qua tuyên bố gần đây « hoặc là Seoul phải chấp nhận thỏa thuận theo các điều kiện của Mỹ, hoặc là phải chịu đánh thuế hải quan ». « Cơ chế hoán đổi tiền tệ - Currency Swap » là một công cụ tài chính để hai ngân hàng trung ương mà ở đây là của Hàn Quốc và Hoa Kỳ, hỗ trợ lẫn nhau trong một thời gian nhất định giúp đối tác ổn định kinh tế và thị trường tài chính. Thí dụ trong trường hợp Ngân Hàng Trung Ương Hàn Quốc, vì một lý do nào đó cần huy động đô la thì sẽ được Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ đưa cho Seoul đô la và nhận vào đồng won. Cơ chế này nhằm giúp ổn định kinh tế và thị trường tài chính. Theo thỏa thuận, Hàn Quốc có thể đầu tư đến 350 tỷ đô la vào Mỹ, nhưng nếu không được Washington áp dụng cơ chế Currency Swap, thì trong trường hợp cấp bách nhất, nền kinh tế thứ tư của châu Á này có nguy cơ bị thiếu hụt tiền mặt. Khi đó Hàn Quốc sẽ bị đẩy vào một cuộc khủng hoảng về tiền tệ và tài chính, tương tự như kịch bản hồi năm 1997. Đó là mối lo tổng thống Lee Jae Myung đã nói tới trong cuộc trả lời phỏng vẫn hãng tin Reuters. Trước mắt Washington chưa chấp thuận đòi hỏi này của Seoul. Vẫn Reuters nhắc lại tổng thống Trump từng khẳng định mọi khoản đầu tư ngoại quốc vào Hoa Kỳ, mọi dự án đều do ông « chọn lọc » và phải đặt dưới quyền kiểm soát của Mỹ. Nói cách khác, Washington tự cho là toàn quyền định đoạt về số vốn đầu tư 350 tỷ đô la - tương đương với 20 % GDP của Hàn Quốc. Nói cách khác, hình ảnh hơn 300 lao động Hàn Quốc bị nhân viên sở di trú Hoa Kỳ còng tay tại Ellabell, bang Georgia hôm đầu tháng không chỉ là giọt nước làm tràn ly mà còn là « cái cây che khuất cánh rừng ». Ai có thể chấp nhận giao 20 % GDP cho Mỹ ? Dù vậy đầu tư 350 tỷ đô la của Hàn Quốc để « tiếp sức » cho nền công nghiệp của Hoa Kỳ không phải là nhỏ. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phải đích thân giải thích rằng Mỹ cần các « chuyên gia nước ngoài » và chính sách nhập cư của Hoa Kỳ không « nhằm cản trở các quốc gia ngoại quốc đầu tư vào Mỹ ». Hôm 11/09/2025, trừ một trường hợp, còn lại tất cả những người lao động Hàn Quốc từng bị nhân viên di trú Mỹ còng tay, đã hồi hương. Seoul tạm ngừng đưa nhân viên sang Hoa Kỳ làm việc. Các tập đoàn công nghiệp lớn của Hàn Quốc như SK, hay Samsung, Lotte Chemical… với những kế hoạch đầu tư đã được xúc tiến, trị giá hàng trăm triệu thậm chí là cả tỷ đô la tạm dừng một số các kế hoạch đang được triển khai ở các bang South Carolina, Tennessee… Darcie Draudt Vejares, ban châu Á thuộc quỹ nghiên cứu Carnegie Endowment ghi nhận : Hàn Quốc đánh cược nhiều vào các dự án đầu tư tại Hoa Kỳ, « giữ khoảng cách với Trung Quốc », nhưng giờ đây chính sách đối nội của Mỹ lại trở thành một chướng ngại vật mà Seoul bắt buộc phải vượt qua. Nhà Trắng đã cử nhân vật số 2 của bộ Ngoại Giao Christopher Landau đến Seoul để « giải độc » sau vụ nhân viên Hàn Quốc bị còng tay. Tổng thống Lee lên đường đến New York dự khóa họp thường niên của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Trước mắt ông không dự trù gặp riêng tổng thống Trump và đàm phán thương mại Mỹ - Hàn không nằm trong chương trình nghị sự. Tuy nhiên thượng đỉnh APEC ở Gyeongju cuối tháng 10/2025 sẽ là cơ hội tốt để tổng thống Hàn Quốc và nguyên thủ Mỹ giải tỏa những hiểu lầm chung quanh vụ nhân viên sở di trú Hoa Kỳ quá sốt sắng thi hành nhiệm vụ bắt giữ người lao động nước ngoài. Vả lại, cho dù về thương mại, Mỹ có bắt chẹt Hàn Quốc, nhưng Washington thừa hiểu rằng trong bối cảnh địa chính trị hiện nay, với mối đe dọa hạt nhân Bắc Triều Tiên ở sát cạnh mà Bình Nhưỡng đã tìm được điểm tựa khá vững chắc là Nga, trước những tham vọng quân sự của Trung Quốc, tổng thống Lee Jae Myung khó để rời xa Washington.
Cơ quan thẩm định tài chính Fitch hạ điểm tín nhiệm Pháp. Hai yếu tố khiến giới đầu tư xem Pháp là điểm đến có phần kém an toàn hơn trước : Nợ công tăng nhanh và bất ổn chính trị gây trở ngại cho việc thực hiện cam kết thu hẹp bội chi ngân sách trong một môi trường càng lúc càng nhiều bất trắc. Yếu tố chính trị làm mất lòng tin Mức nợ của Pháp đang từ AA- bị giáng xuống còn A+ ( tức là nợ của Pháp đang từ hạng được coi như « an toàn cao », bị hạ xuống mức « an toàn trung bình ». Fitch trong thông cáo hôm 12/09/2025 giải thích : « Kể từ sau bầu cử Quốc Hội trước thời hạn 2024, Pháp đã ba lần thay đổi chính phủ. Sự bất ổn đó làm suy yếu khả năng để có được một ngân sách đáng tin cậy. Mục tiêu đã cam kết thu hẹp thâm hụt ngân sách xuống dưới ngưỡng 3 % GDP khó có thể thực hiện ». Viễn cảnh bầu cử tổng thống 2027 lại càng khiến tình hình chính trị ở Pháp « thêm nhiễu nhương », những tranh cãi về ngân sách lại càng gay gắt hơn. Theo cơ quan thẩm định tài chính Fitch, nền kinh tế số 2 của Liên Âu có nguy cơ bị « bế tắc » từ nay cho đến -và thậm chí là sau, cuộc bầu cử 2027. Do vậy các nhà phân tích đồng loạt cho rằng nợ công của Pháp vừa bị cơ quan thẩm định tài chính Fitch giáng điểm tín nhiệm không phải là một bất ngờ. Trên đài RFI Pháp ngữ, chuyên gia kinh tế Mathieu Plane thuộc Đài Quan Sát về tình hình Kinh Tế Pháp OFCE đưa ra những yếu tố giải thích vì sao, cho dù đánh mất AA-, trước mắt Pháp không phải đi vay tín dụng với lãi suất cao hơn. « Bị hạ điểm tín nhiệm không phải là một thảm họa, do không làm thay đổi một cách căn bản tình hình kinh tế của Pháp, và qua đó không ảnh hưởng đến việc Pháp huy động vốn trên thị trường, tức là không tác động đến khả năng thanh toán nợ của Pháp. Tuy nhiên đây cũng sẽ là một tín hiệu xấu, phản ánh mức đáng tin cậy thấp hơn so với trước đây. Hiện tại Pháp đã phải đi vay với lãi suất cao hơn trước đây và điều này đã phản ánh cách mà thị trường tài chính đánh giá và nhìn nhận mức độ rủi ro về nợ công của Pháp (…) Khi các tổ chức xếp hạng đánh giá rủi ro vỡ nợ, họ không chỉ xem xét yếu tố chính trị nhưng đây cũng là một vấn đề mà họ quan tâm. Bên cạnh đó, bản thân các chỉ số về kinh tế mới là quan trọng hơn hết. Nếu nhìn vào nền tảng kinh tế của Pháp thì tình hình không hề tệ. Ai cũng biết, chính trị ở Pháp đang bất ổn và đang bị bội chi ngân sách. Nhưng đồng thời, Pháp có những điểm mạnh khác giúp vượt qua được 2 khó khăn vừa nêu. Không thể so sánh hoàn cảnh của Pháp hiện tại với trường hợp của Hy Lạp hồi 2011. Thực ra việc Fitch hạ điểm tín nhiệm đã được biết trước. Thị trường đã xác định, đã đánh giá mức độ an toàn khi đầu tư vào Pháp. Mức độ an toàn đó bị sụt điểm vì yếu tố chính trị chứ không phải vì rủi ro kinh tế ». Nền tảng tương đối vững chắc Vậy dưới góc độ tài chính, kinh tế, trường hợp của Pháp có gây lo ngại hay không ? Theo giới trong ngành, câu trả lời cũng sẽ là không : là nền kinh tế thứ 7 của thế giới, là một trong 7 quốc gia công nghiệp phát triển nhất, thành viên của Liên Âu này có cơ sở hạ tầng phát triển, có số lượng lao động ở trình độ cao và sức mua của 67 triệu dân Pháp cũng rất hấp dẫn. Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách và nợ công cao đang là thách thức lớn, có thể ảnh hưởng đến mức độ ổn định tài chính của quốc gia, nhất là khi hơn 50 % nợ công của Pháp là do các chủ nợ nước ngoài nắm giữ. Về thâm thủng ngân sách, Pháp thuộc khối các quốc gia luôn bị chỉ trích quá « hào phóng » trong việc chi tiêu. Bội chi tương đương với 5,4 % GDP và Paris đang cam kết cắt giảm chi tiêu - giảm 44 tỷ euro trong tài khóa 2026, để từ nay đến cuối 2029 quay trở lại với quy định của khu vực eurozone, giữ thâm hụt ngân sách dưới ngưỡng 3 % GDP. Ở đây đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả từ các khoản chi tiêu đã đẩy thâm hụt ngân sách của nước Pháp lên cao. Giải quyết nợ công là một « mệnh lệnh » Về nợ công của Pháp : báo cáo của Ngân Hàng Trung Ương Pháp - Banque de France công bố hôm 15/09/2025 cho thấy : tổng nợ công của Pháp hiện đã vượt ngưỡng 3.300 tỷ euro, tương đương với hơn 114 % GDP. Đây là mức cao nhất từ trước đến nay, cao hơn rất nhiều so với quy định 60 % tổng sản phẩm nội địa của khối đồng tiền chung châu Âu. Thống đốc BDF François Villeroy de Galhau giải thích vì sao nhanh chóng giải quyết nợ công là một « mệnh lệnh » : cuối 2020, Pháp dành 30 tỷ euro để thanh toán nợ đáo hạn. Với đà này chỉ trong 5 năm nữa các phí tổn tài chính ngân hàng mỗi năm sẽ là 100 tỷ euro. Có nghĩa là hàng năm Pháp sẽ « mất đi » thêm 70 tỷ euro để « nuôi »các chủ nợ thay vì dùng số tiền để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đầu tư vào giáo dục, y tế, quốc phòng … Theo quan điểm của giáo sư Jean Tirole, giải Nobel Kinh Tế 2014, các phí tổn về ngân hàng, vốn và lãi phải trả cho các chủ nợ là « một gánh nặng rất lớn » và tệ hơn nữa là những chi phí đó đặt ra vào lúc Pháp cần huy động vốn trước nhiều thách thức mới như phải đầu tư vào công nghệ xanh, công nghệ kỹ thuật số, chống biến đổi khí hậu … Nói cách khác, vì nợ cao và chi phí tài chính là một gánh nặng, Pháp sẽ mất đi khả năng đầu tư vào những lĩnh vực tạo đà cho tăng trưởng trong tương lai. Kinh tế gia Eric Dor Trường Quản Trị Kinh Doanh IESEG Paris ít bi quan hơn so sánh trường hợp của Pháp hiện tại với nhiều nước khác trong khối sử dụng đồng euro : « Một cách cụ thể, thì cho đến hiện tại Pháp đã phải đi vay với lãi suất cao hơn so với nhiều quốc gia khác như Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha cho dù cả nước này cùng có điểm tín nhiệm thấp hơn so với Pháp. Trước mắt việc Pháp đánh mất hai chữ AA không gây ra hậu quả lớn trên thị trường. Nhưng về dài hạn và nhất là trong trường hợp chính trị của Pháp không nhanh chóng ổn định, ngân sách không được thông qua thì lãi suất ngân hàng Pháp phải đi vay sẽ tiếp tục tăng thêm. Đây sẽ là gánh nặng cho người dân phải đóng thuế. Chúng ta không trong kịch bản khủng hoảng nợ công : Pháp không mất khả năng thanh toán và cũng không mất cơ hội tiếp cận thị trường nhưng sẽ phải đi vay tín dụng với lãi suất càng lúc càng cao. Phần lãi và vốn phải trả cho các chủ nợ càng lúc càng năng. Chi phí nợ tăng cao đè năng lên ngân sách. Những khoản chi tiêu khác cần huy động vốn sẽ bị ảnh hưởng ». Pháp vẫn là điểm đến an toàn Trên đài RFI Pháp ngữ, giám đốc nghiên cứu Đài Quan Sát về tình hình Kinh Tế Pháp OFCE Mathieu Plane đánh giá về thực chất Pháp vẫn là điểm đầu tư an toàn « Cái chính ở đây không phải là kinh tế của Pháp sa sút. Tăng trưởng vẫn ở số dương dù không phải là một điều gì ghê gớm nhưng GDP của Pháp vượt trội hơn hẳn so với các thành viên khác trong Liên Hiệp Châu Âu như Áo, Đức, Phần Lan và thậm chí là cả Ý từ 1 năm nay. GDP của Pháp trong năm tăng 0,8 %. Lạm phát được giữ ở mức 2 %. Tỷ lệ thất nghiệp ổn định ở khoảng 7,5 %. Thêm vào đó Pháp có nhiều tiền tiết kiệm mà chúng ta có thể khai thác. Và đấy chính là điểm mạnh tạo nên sự vững chắc kinh tế. Kinh tế Pháp không bị suy thoái dù đang phải đối mặt với một môi trường đầy biến động bất thường. Theo tôi điều đó chứng minh rằng chúng ta có khả năng thích ứng rất nhanh. Điểm đáng lo ngại hiện nay là thâm hụt ngân sách đã quá cao. Giải quyết vấn đề này là chuyện phải làm nhưng chúng ta có phương tiện : dân Pháp có tiền tiết kiện và vì thế mà Pháp không lo vỡ nợ như Hy Lạp hay gặp khó khăn như là Bỉ. Hai quốc gia này không thể tái cấp vốn vì họ có thâm hụt cao mà lại không có tiền tiết kiệm ». Báo cáo về tình hình kinh tế Pháp được cập nhật của Ngân Hàng Trung Ương công bố hôm 15/09/2025 dự báo tăng trưởng trong năm 2025 được duy trì ở mức 0,7-0,8 % Pháp không bị rơi vào suy thoái. Tỉ lệ thất nghiệp ổn định ở mức 7,5 %. Điểm son là chính phủ đã dập tắt được nguy cơ lạm phát. Chỉ số này cho năm nay được giữ ở ngưỡng 2 %. Trong một môi trường với nhiều bất ổn hiện nay cả về thương mại lẫn an ninh, Pháp có thêm lợi thế quan trọng khác trong mắt các nhà dầu tư : đó là một hệ thống pháp luật bảo về quyền sở hữu và hợp đồng nghiêm ngặt. Đó là những yếu tố khiến các chuyên gia cùng khẳng định : Pháp vẫn là bãi đáp an toàn cho các nhà đầu tư quốc tế. Song không thể phủ nhận là những đợt đình công, các phong trào biểu tình đòi quyền lợi cũng là một yếu tố khiến các nhà đầu tư quốc tế cân nhắc. Tân thủ tướng Pháp Sébastien Lecornu vừa nhậm chức. Ông đang tham khảo các đối tác xã hội, các đảng phái chính trị để thành lập nội các. Không có đa số rộng rãi tại Quốc Hội để điều hành đất nước, thủ tướng Lecornu cũng như hai người tiền nhiệm là Michel Barnier và François Bayrou rất dễ bị « bất tín nhiệm » và có thể sẽ không thông qua được dự luật về ngân sách cho năm tới. Các nhà đầu tư đang nhìn về nước Pháp với câu hỏi về độ bền của Sébastien Lecornu ở điện Matignon. Liệu tổng thống Macron có lại giải tán Quốc Hội, cho bầu cử trước thời hạn với nguy cơ hai đảng cực tả và cực hữu lên cầm quyền và khi đó Pháp sẽ lún sâu hơn vào một giai đoạn đầy bất trắc. Cuối tháng 10 và cuối tháng 11 tới đây, đến lượt hai công ty thẩm định tài chính khác là Moody’s và S&P sẽ cập nhật bảng đánh giá về mức độ tín nhiệm với khả năng tài chính phủ Pháp.
Đất hiếm là vũ khí lợi hại giúp Trung Quốc đối mặt với chính sách bảo hộ của Hoa Kỳ. Washington khai thác thuế nhập khẩu vì các mục đích kinh tế và nhất là địa chính trị. Lá chủ bài của Nga là năng lượng. Matxcơva đang dùng đòn « Ngoại giao ống dẫn khí đốt » để phá vỡ gọng kềm trừng phạt của phương Tây, mà mắt xích đầu tiên là Hoa Kỳ. RFI tiếng Việt phỏng vấn Igor Delanoë phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga. Đến dự thượng đỉnh Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải Thiên Tân, dự lễ duyệt binh trên Quảng Trường Thiên An Môn Bắc Kinh, tổng thống Nga Vladimir Putin không bỏ lỡ cơ hội phô trương quan hệ thắm thiết với các lãnh đạo Ấn Độ, Bắc Triều Tiên và đặc biệt là với nước chủ nhà Trung Quốc. Ở Thiên Tân, hôm 01/09/2025 Trung Quốc, Nga và Ấn Độ khẳng định quyết tâm mở rộng tầm hoạt động của Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải (SCO) ra ngoài lĩnh vực an ninh. Các bên đồng ý thành lập một ngân hàng phát triển dành riêng cho các nước thành viên. Bắc Kinh, Matxcơva mạnh dạn hơn trên con đường xây dựng một trật tự thế giới mà ở đó tất cả không còn chỉ xoay quanh các nước phương Tây. Hai ngày sau, tổng thống Nga đến Bắc Kinh dự lễ duyệt binh nhân kỷ niệm 80 năm kết thúc Thế Chiến Thứ Hai và họp thượng đỉnh song phương Nga-Trung. Đây là dịp để lãnh đạo tập đoàn dầu khí Gazprom thông báo Matxcơva và Bắc Kinh « khởi động lại chương trình xây dựng đường ống đưa khí đốt Power of Siberia 2 ». Đây sẽ là tuyến đường thứ ba đưa khí đốt của Nga sang Trung Quốc, sau Siberia 1 và Tuyến đường Phương Đông. Power of Siberia 2, dự án trị giá 12 tỷ euro để xây dựng đường ống từ các mỏ khí của Nga ở Yamal đến khu vực đông bắc Trung Quốc, đi qua Mông Cổ. Một khi đi vào hoạt động, tuyến đường này cho phép cung cấp 50 tỷ mét khối khí đốt hàng năm cho Trung Quốc. Báo chí Matxcơva nói đến « dự án vĩ đại nhất thế giới trong ngành công nghiêp năng lượng ». Yếu tố chính trị trong thỏa thuận năng lượng Nga-Trung Trả lời RFI tiếng Việt, chuyên gia Igor Delanoë phó giám đốc Đài Quan Sát Pháp-Nga CCI, cộng tác viên của Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược Pháp IRIS, công nhận đây là một dự án vô cùng quan trọng đối với cả Matxcơva lẫn Bắc Kinh vào lúc Nga đã mất đi khách hàng quan trọng nhất là châu Âu. Song người Pháp có câu « le diable se cache dans les détails » nghĩa là thành công hay thất bại của dự án tùy thuộc vào những « chi tiết nhỏ ». Hiện tại còn nhiều « chi tiết » không hề nhỏ, hai đối tác chính là Gazprom của Nga và CNPC của Trung Quốc vẫn còn bất đồng. Igor Delanoë nhắc lại, tuần trước nhiều thỏa thuận hợp tác song phương đã được ký kết tại Bắc Kinh nhân chuyến công du Trung Quốc của tổng thống Vladimir Putin. Igor Delanoë : « Trong quan hệ giữa Nga và Trung Quốc, đôi bên đã ký kết khoảng 20 văn kiện liên quan đến nhiều lĩnh vực : nông nghiệp, y tế, giáo dục, không gian... Tuy nhiên nổi bật nhất là bản ghi nhớ về chương trình xây dựng đường ông dẫn khí Power of Siberia 2. Phía Nga đã nói đến một văn bản có giá trị pháp lý ràng buộc trong thời hạn 30 năm. Quá trình đàm phán đã kéo dài và theo chỗ tôi được biết thì hai tập đoàn Gazprom và CNCP vẫn chưa đạt đồng thuận về nhiều điểm : phía CNCP của Trung Quốc đòi mua khí đốt của Nga với mức giá như là Gazprom bán ra trên thị trường nội địa. Đó là điều kiện tập đoàn Nga không thể thỏa mãn, bởi vì buôn bán như vậy Gazprom không có lợi ích thương mại nào cả ». Khí đốt : Trung Quốc sẽ chấp nhận lệ thuộc đến 60 % vào một đối tác ? Igor Delanoë : « Dự án đường ống dẫn Siberia 2 đã bắt đầu được đàm phán từ lâu nay, nhưng mà trước đó, Siberia 1 đã đi vào hoạt động từ 2019, với công suất hiện tại là 38 tỷ mét khối mỗi năm. Trong chuyến công du Trung Quốc lần này, tổng thống Nga đã đồng ý nâng công suất của Siberia 1 lên tới 44 tỷ mét khối/năm. Hơn nữa giữa Matxcơva và Bắc Kinh còn có một đường ống thứ ba, cho phép xuất khẩu mỗi năm 10 tỷ mét khối khí đốt sang Trung Quốc. Một khi đi vào hoạt động thì đường ống Power of Siberia 2 mới là dự án quan trọng nhất : công suất của đường ống này là 50 tỷ mét khối hàng năm. Như vậy cộng cả ba đường ống để Nga cung cấp khí đốt cho Trung Quốc, trong tương lai Matxcơva có thể xuất khẩu đến 106 tỷ mét khối một năm cho quốc gia châu Á này. Đây là một điểm rất quan trọng đối với Gazprom vào lúc mà thị trường châu Âu đã khép lại – (trước đây mua vào 150 tỷ mét khối/năm). Trung Quốc tuy không thể hoàn toàn thay thế vào chỗ trống Liên Âu để lại, nhưng ít ra thì cũng bù đắp lại được khoảng 2 phần 3 thị phần của châu Âu ». Với Nga, dự án pipeline Siberia 2 rõ ràng là vô cùng quan trọng. Đối với Trung Quốc cũng vậy - nhất là khi mà Bắc Kinh đang đàm phán về giá cả với Gazprom. Chuyên gia về Nga Igor Delanoë lưu ý thêm những điểm như sau : Igor Delanoë : « Trong dự án Siberia 1, đường ống dài 2.200 km nối liền vùng Iakoutie đông Siberia của Nga với tỉnh Hắc Long Giang, đông bắc Trung Quốc, chi phí xây dựng chủ yếu do tập đoàn Nga đài thọ. Sở dĩ mà Gazprom có thể tài trợ là nhờ doanh thu từ xuất khẩu khí đốt sang châu Âu. Châu Âu mua khí đốt của Nga với giá cao. Giờ đây với chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng đó, liệu có sẽ do Trung Quốc đảm nhiệm hay không ? Chưa thể giải đáp câu hỏi này. Hiện tại Gazprom hiện tại đang gặp « khó khăn về tài chính » : ngân sách đầu tư của tập đoàn này cho năm nay giảm 7 % so với hồi 2024. Gazprom phải sa thải 40 % nhân sự tại trụ sở tại Saint Petersbourg ; Tháng 5/2024 lần đầu tiên từ hơn 2 thập niên qua, tập đoàn này thông báo làm ăn thua lỗ (lỗ hơn 3,5 tỷ đô la). Đây là hậu quả trực tiếp từ các biện pháp trừng phạt Âu, Mỹ đánh vào kinh tế Nga từ khi Matxcơva đưa quân xâm chiếm Ukraina ». Mượn bóng Trung Quốc để kích thích Hoa Kỳ ? Do vậy, giới trong ngành cho rằng, tổng thống Putin đã tận dụng chuyến công du Trung Quốc vừa qua để phô trương thành tích trong hợp tác năng lượng với Bắc Kinh. Từ trước đến nay bản thân tổng thống Putin luôn thận trọng với Siberia 2 khi Trung Quốc đòi mua khí đốt của Nga với giá rẻ và đòi Gazprom đài thọ phần lớn các phí tổn xây dựng đường ống. Về phía Bắc Kinh tới nay, Trung Quốc vốn chủ trương không để phụ thuộc quá 50 % vào bất kỳ một nhà cung cấp năng lượng nào. Với Siberia 2, một khi đi vào hoạt động, cùng với hai đường ống đã có sẵn thì Nga sẽ trở thành nguồn cung cấp chiếm đến 60 % nhập khẩu khí đốt của Trung Quốc ! Phải chăng vì chiến tranh Ukraina kéo dài mà hai nhà lãnh đạo quyền lực nhất ở Bắc Kinh và Matxcơva đã thay đổi quan điểm ? Không loại trừ khả năng « văn bản ghi nhớ mang tính ràng buộc » về Power Siberia 2 được thông báo hồi tuần trước là một thông điệp Matxcơva gửi tới Washington. Nga từng chính thức mời tập đoàn dầu khí ExxonMobil của Mỹ « trở lại » với dự án Sakhalin. Hơn một chục ngày sau thượng đỉnh Donald Trump -Vladimir Putin tại Anchorage, Alaska, báo tài chính Mỹ The Wall Street Journal đưa tin ExxonMobil dường như đang đàm phán với Rosneft để tham gia trở lại dự án khai thác dầu khí Sakhalin 1 trong vùng Viễn Đông Nga. Về điểm này chuyên gia Pháp, Igor Delanoë đánh giá : Igor Delanoë : « Có tin đồn rằng người Mỹ có thể quay lại tham gia dự án Sakhalin ở Viễn Đông Nga. Điều này sẽ đòi hỏi Washington phải ngừng trừng phạt Nga để cho phép các tập đoàn của Mỹ quay lại với dự án này. Nhưng chúng ta thấy rõ, tại thượng đỉnh Thiên Tân cũng như là sự kiện ở Bắc Kinh sau đó, hình ảnh thắm thiết giữa Nga - Ấn Độ - Trung Quốc còn là thông điệp nhắm tới Hoa Kỳ. Tuy vậy đây chỉ là một giải pháp tình thế khi các bên xích lại gần nhau vì đừng quên là vẫn có nhiều bất đồng sâu sắc, đặc biệt là về tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc, rồi gần đây hơn là giữa Ấn Độ với Pakistan mà Mỹ thì đang sưởi ấm quan hệ với Pakistan và cả Trung Quốc thì đã đứng về phía Islamabad. Chẳng qua là do Mỹ gây áp lực với Ấn Độ và đã đẩy thủ tướng Modi vào vòng tay các ông Tập Cận Bình và Vladimir Putin. Đây là khuynh hướng chung. Về phía ông Putin, thông điệp ẩn đằng sau những sự kiện này là gửi đến người Mỹ, để nói rằng: nếu Hoa Kỳ không buông Ukraina, thì cái giá địa chính trị mà họ phải trả là việc củng cố liên minh tam giác Á-Âu gồm Nga, Trung Quốc và Ấn Độ - với các dự án năng lượng như khí đốt sang Trung Quốc và dầu mỏ sang Ấn Độ ». Nga « bắt đúng mạch » của Mỹ Igor Delanoë : « Trong lĩnh vực dầu khí, trước khi nổ ra chiến tranh Ukraina, ExxonMobil có một số dự án hơp tác với Nga ở vùng Bắc Cực và Viễn Đông. Nhưng tất cả đã bị đóng băng hoặc bỏ dở một khi Matxcơva đưa quân sang Ukraina và bị phương Tây trừng phạt. Từ khi Donald Trump trở lại cầm quyền, ông đã nối lại đối thoại song phương với Vladimir Putin. Năng lượng là một hồ sơ được đôi bên thảo luận. Nga đề nghị mời Mỹ quay lại và Matxcơva không chỉ mang dầu hỏa khí đốt ra để nhử mà còn để ngỏ khả năng cùng hợp tác khai thác đất hiếm, hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Các doanh nhân thân cận với Donald Trump rất chú ý đến điểm này và có thể là Washington đang buông tay với Ukraina để xích lại gần hơn với nước Nga của Vladimir Putin. Để đạt được mục tiêu này, thì điều kiện tiên quyết là đến một lúc nào đó phải dỡ bỏ các lệnh cấm vận kinh tế Nga. Trước mắt các bên mới chỉ bàn thảo đến dự án Sakhalin ». Vẫn Igor Delanoë ghi nhận, Nga dùng lá bài đầu tư, kinh tế, năng lượng và cả khoáng sản để thu hút trước hết là chú ý của các nhóm lợi ích bao quanh tổng thống Trump. Mục đích của Matxcơva là thuyết phục được chủ nhân Nhà Trắng vừa giảm hỗ trợ cho Ukraina, vừa nhờ Hoa Kỳ bẻ gấy mắt xích đầu tiên của loạt trừng phạt nhắm vào kinh tế Nga. Một khi mà Washington dỡ bỏ cấm vận với Nga, thì không có lý do gì để các đối tác của Hoa Kỳ như Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu tiếp tục cô lập Matxcơva. Rất có thể là Vladimir Putin muốn dùng dự án Sakhalin như công cụ hiệu quả nhất bởi chỉ cần Mỹ thực sự quay lại, đó sẽ là một tín hiệu gửi đến các đối tác khác – hoặc đối tác cũ của Nga – về triển vọng nối lại hợp tác năng lượng. Theo nhà nghiên cứu Igor Delanoë Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đang nóng lòng chờ đợi một tín hiệu « thuận lợi » nào đó theo chiều hướng này. Đâu chỉ có Trung Quốc hay Mỹ mới biết dùng các công cụ kinh tế để phục vụ các lợi ích địa chính trị.
Thỏa thuận thuế quan và thương mại Liên Hiệp Châu Âu đạt được với Hoa Kỳ về mức thuế 15 % còn chưa ráo mực, Washington mở thêm một mặt trận mới đòi Bruxelles xóa bỏ mọi rào cản để cho các tập đoàn công nghệ kỹ thuật số của Hoa Kỳ tự do tung hoành trên thị trường châu Âu. Một lần nữa Donald Trump lại sử dụng đòn thuế quan để hù dọa. Châu Âu, « con gà đẻ trứng vàng » của các GAFAM Vì sao chính quyền Trump muốn « phạt » Bruxelles trong lúc Liên Âu là thị trường màu mỡ nhất - ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ, của các tập đoàn Mỹ ? Trong số những vị khách mời có chọn lọc để được trực tiếp dự lễ nhậm chức của tổng thống Hoa Kỳ thứ 47 hôm 20/01/2025, chủ nhân Meta đã mau mắn hơn cả nhờ ông Trump giúp đỡ, nới lỏng các chuẩn mực của châu Âu điều tiết các hoạt động trong lĩnh vực digital. Hơn nửa năm sau, phải chăng Mark Zuckerberg sắp được toại nguyện ? Ngày 24/08/2025 tổng thống Donald Trump trên mạng xã hội cá nhân đã « ra lệnh » cho tất cả những quốc gia trên thế giới dẹp bỏ mọi hình thức thuế quan và luật lệ gò bó hạn chế hoạt động của các tập đoàn Mỹ trong lĩnh vực « digital ». Trong mắt ông, đó là những biện pháp mang tính « phân biệt đối xử ». Kèm theo là lời đe dọa những ai không thỏa mãn đòi hỏi này. Chủ nhân Nhà Trắng không nêu đích danh các mục tiêu Hoa Kỳ nhắm tới nhưng Liên Âu, thị trường số 1 của các ông khổng lồ trong ngành công nghệ High Tech Hoa Kỳ, đã gây dựng nhiều cơ sở pháp lý « tự vệ » mà Donald Trump gọi là những « biện pháp bảo hộ ». Ba cái gai trong mắt Donald Trump Từ tháng 2/2025 chỉ vài tuần sau khi tổng thống Trump trở lại cầm quyền, ông và phó tổng thống J.D Vance -người rất gần gũi với các đại gia trong lĩnh vực digital của Mỹ đã liên tục đòi châu Âu dẹp bỏ những đạo luật và quy tắc « che khuất những thành công rực rỡ » của nhóm GAFAM (Google, Amazon, Facebook, Apple và Microsoft), của những tên tuổi lớn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, những nhà cung cấp các dịch vụ trên mạng … của Hoa Kỳ. Liên Hiệp Châu Âu hiện có ít nhất 3 đạo luật đang khiến Washington tức giận : Đạo luật Thị trường Kỹ thuật số (DMA), nhằm kiểm soát các hành vi gây trở ngại cho việc cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ digital. Kế tới là DSA, tức là Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số nhằm tăng cường tính minh bạch của các thuật toán (algorithm), kiểm soát hoạt động kiểm duyệt nội dung và gần đây nhất là AI Act : đây là bộ luật đầu tiên trên thế giới « quản lý » các khâu phát triển, sử dụng trí tuệ nhân tạo. Theo phân tích của Andrea Renda giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Sách Châu Âu -CEPS, trụ sở tại Bruxelles, đạo luật DSA chẳng hạn do muốn « cân bằng giữa các mục đích bảo vệ người sử dụng và các quyền tự do ngôn luận » nên là « hiện thân của quỷ dữ » như chính Trump đã nói. Vẫn theo chuyên gia này, trong suốt quá trình đàm phán với châu Âu về thuế quan và thương mại, lĩnh vực digital luôn luôn là nỗi ám ảnh của phía Hoa Kỳ. Một khi đạt được thỏa thuận về mức thuế 15 % với Bruxelles (tháng 7/2025) và giành được nhiều nhượng bộ từ phía châu Âu, Washington lập tức « quay lại tiếp tục gây sức ép, đe dọa Liên Hiệp Châu Âu », đòi khối này phải trả giá đắt nếu gây trở ngại cho đà phát triển của các « ông lớn » trong lĩnh vực công nghệ kỹ thuật số của Mỹ. Hơn nữa chính vì các đạo luận DMA và DSA nói trên mà Apple và Meta đã bị châu Âu phạt hàng trăm triệu đô la. Nói cách khác, cuộc chiến sắp tới Washington đang chuẩn bị nhắm vào châu Âu không hề xuất phát từ nhu cầu thu hẹp nhập siêu của Mỹ với 27 thành viên Liên Âu. Trên đài truyền hình Arte, chuyên gia kinh tế và địa chính trị, thuộc Viện nghiên cứu châu Âu Jacques Delors, bà Elvire Fabry cho rằng, các đòn tấn công liên tiếp của Donald Trump trong lĩnh vực thương mại hay sắp tới đây là công nghệ kỹ thuật số nhắm vào châu Âu trước hết không liên quan đến việc Mỹ bị nhập siêu với châu Âu « Phía sau cuộc chiến thương mại này còn có nhiều ý đồ chính trị. Donald Trump tìm cách xé nát Liên Âu ra thành từng mảnh nhỏ nhưng lại vừa muốn tiếp cận thị trường châu Âu giúp cho các hãng của Mỹ. Cùng lúc, Hoa Kỳ mượn tay các đảng phái chính trị cựu hữu ở châu Âu, để khuynh đảo Liên Âu từ ở bên trong. Chính vì thế mà Mỹ hiện đang ủng hộ các đảng cánh cực hữu tại nhiều nước châu Âu ». Về phần Jean Luc Demarty nguyên giám đốc đặc trách về thương mại của Ủy Ban Châu Âu (2011-2019), ông giải thích, ngay cả việc áp dụng « thuế đối ứng » cũng không có cơ sở. « Đành rằng khoản thặng dư mậu dịch của châu Âu đối với Mỹ là rất lớn, và mức xuất siêu đó lại càng tăng thêm trong năm 2024 vừa qua, bởi vì đồng đô la tăng giá. Nhưng đấy chỉ là xét riêng về các khoản xuất và nhập hàng hóa. Nếu cộng cả vế dịch vụ với hàng hóa thì cán cân thượng mại giữa Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu khá cân đối, chênh lệnh chỉ khoảng 50 tỷ đô la chứ không phải là 200 hay 300 tỷ đô la như ông Donald Trump khẳng định ». Liên Âu luôn « run tay » khi cần tự vệ Trong mọi trường hợp, kinh tế gia Shahin Vallée thuộc cơ quan tư vấn về chính sách đối ngoại DGAP trụ sở tại Berlin đánh giá, châu Âu quá nhu nhược trong cuộc đọ sức với Hoa Kỳ. Mỹ đã nắm bắt rõ điều đó ngay từ khi mới chỉ vừa bắt đầu dọa nạt. « Thực ra chiến lược đàm phán của Liên Hiệp Châu Âu chưa bao giờ khiến ông Trump phải lo lắng. Bruxelles đã có nhiều cơ hội để đặt những điều kiện cứng rắn hơn với Hoa Kỳ lên bàn thương thuyết, nhưng đấy chỉ là những lời đe dọa suông. Thậm chí ngay cả khi đề cập đến các biện pháp trả đũa để khỏi bị Washington o ép, châu Âu cũng không thể đồng ý và có một tiếng nói chung. Bruxelles đã ‘run tay’ và ở phía bên kia, Washington thấy rõ điều ấy và đã tận dụng thời cơ ». Một nhược điểm khác của Liên Hiệp Châu Âu mà Hoa Kỳ đã chóng nhận thấy là tính thiếu đoàn kết của khối này. Cuộc chiến Digital còn chưa khai mào mà nhiều nhà phân tích đã báo động « coi chừng Đức sẽ bán rẻ tham vọng độc lập của châu Âu về kỹ thuật số cho Hoa Kỳ » để được Washington nương tay khi đánh vào công nghiệp xe hơi Đức. Mỹ cũng biết sử dụng chiến thuật « chia để trị ». Liên Hiệp Châu Âu đối tác nặng ký nhất của Mỹ Vài con số về trao đổi mậu dịch hai chiều : tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giữa Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ năm 2024 vượt hơn 1.600 tỷ đô la (867 tỷ euro cho hàng hóa và 817 tỷ euro cho dịch vụ). Để so sánh, theo các thống kê chính thức của Mỹ (US Bureau of Economic Analysis) cùng thời kỳ, trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, tức Mỹ và Trung Quốc, là 660 tỷ đô la. Nghịch lý ở đây là Liên Hiệp Châu Âu tuy là khách hàng lớn nhất của Mỹ mà vẫn bị chèn ép. Hôm 27/07/2025 chủ tịch Ủy Ban Châu Âu, Ursula von der Leyen và tổng thống Mỹ Donald Trump đã đạt được một thỏa thuận quan trọng nhằm « tăng cường quan hệ thương mại và đầu tư » song phương và cũng vì thỏa thuận này bà đã bị nhiều thành viên trong khối chỉ trích gay gắt. Để hàng của châu Âu xuất khẩu sang Hoa Kỳ bị đánh thuế 15 % , thay vì 30 % như Donald Trump từng đe dọa, Liên Âu đã vội vã hứa mua thêm hơn 700 tỷ đô la dầu hỏa và khí đốt của Hoa Kỳ trong ba năm sắp tới và đầu tư thêm 600 tỷ đô la vào Mỹ từ nay đến năm 2029. Hàng rào phi quan thuế Nhưng bên cạnh đó, văn bản được ký kết còn kèm theo một điều khoản buộc các bên giảm thiểu các hàng rào phi quan thuế để thúc đẩy mâu dịch hai chiều. Chính trên điểm này Washington chuẩn bị một đợt tấn công sắp tới nhắm vào Liên Âu. Liên Hiệp Châu Âu là thị trường chiếm 27 % doanh thu của Google, 23 % thu nhập của Meta. Nhờ có 450 triệu dân châu Âu mà mỗi năm Marck Zuckerberg thu về 38 tỷ đô la … còn với ông Sundar Pichai, trong cương vị chủ tịch tổng giám đốc Alphabet Inc, công ty mẹ của Google thì năm ngoái Liên Hiệp Châu Âu cho phép thu về 90 kiếm được 96 tỷ đô la nhờ Liên Hiệp Châu Âu. Trong cuộc chiến về công nghệ kỹ thuật số đang manh nha giữa hai bờ Đại Tây Dương, chủ đích của tổng thống Trump là « diệt trừ hiểm họa » châu Âu cũng sẽ có những nhà vô địch trong thế giới digital.



