Discover
Tạp chí xã hội
323 Episodes
Reverse
Ngày 20/03 hàng năm là Ngày Quốc tế Pháp ngữ, hay còn được gọi là Ngày hội Pháp ngữ. Đây là dịp mà Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ, mà Việt Nam là một thành viên, đặc biệt được nói đến nhiều trên thế giới, với nhiều sự kiện, hoạt động quảng bá cho tiếng Pháp, nét đa dạng văn hóa và các cơ hội phát triển của cộng đồng các quốc gia và vùng lãnh thổ có sử dụng tiếng Pháp. Để hiểu hơn về vị thế của tiếng Pháp như một ngoại ngữ tại Việt Nam, các cơ hội đối với việc dạy và học tiếng Pháp ..., RFI Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn tiến sĩ Trần Văn Công, giám đốc CREFAP, Trung tâm Pháp ngữ khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF). RFI : Xin chào TS. Trần Văn Công, ông là giám đốc của Trung tâm Pháp ngữ khu vực châu Á - Thái Bình Dương (CREFAP), thuộc Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF), xin ông cho biết là tại Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh ngôn ngữ ngày càng gia tăng, hiện nay đâu là vị thế của tiếng Pháp ? Tiếng Pháp hiện giờ phải cạnh tranh nhiều nhất với các ngoại ngữ nào khác ? Sự cạnh tranh này chủ yếu do đâu ? TS. Trần Văn Công : Tiếng Pháp đã từng có một vị trí rất quan trọng ở Việt Nam do những vấn đề lịch sử. Và trong những năm 1990 tiếng Pháp cũng đóng một vai trò rất quan trọng ở Việt Nam vì hội nghị thượng đỉnh Pháp ngữ đã được tổ chức tại Việt Nam. Và một số năm sau đó thì tình hình này vẫn được duy trì. Tuy nhiên, với xu thế hội nhập quốc tế thì vị trí của tiếng Pháp đã có sự thay đổi. Ngày nay tiếng Pháp là một trong những ngôn ngữ được giảng dạy ở các trường đại học và phổ thông. Tuy nhiên vị trí không được như những năm trước. Chúng ta đều biết rằng tiếng Pháp có một truyền thống lâu dài được giảng dạy tại Việt Nam và luôn luôn được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, như là Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ, hoặc là của các đại sứ quán, đặc biệt là đại sứ quán Pháp, của Cơ quan Đại học Pháp ngữ, phái đoàn Wallonie - Bruxelles tại Việt Nam. Hiện nay, ở Việt Nam có các lớp học tiếng Pháp song ngữ ở các trường phổ thông, các trường chuyên dạy tiếng Pháp và các trường thường mà ở đó học sinh có thể lựa chọn tiếng Pháp để học. Ngoài ra thì tiếng Pháp cũng được giảng dạy tại các trường đại học lớn, đặc biệt là ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Đà Nẵng. Tiếng Pháp còn được giảng dạy ở các trường đại học kỹ thuật, như là các trường đại học Bách Khoa, Thương Mại, Ngoại Thương, Giao Thông Vận Tải, đại học Y chẳng hạn. Và tiếng Pháp vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như là du lịch, văn hóa, văn học … Nói về vị trí của tiếng Pháp cụ thể ở từng bậc học, thì có thể thấy rằng ở bậc phổ thông bây giờ tiếng Pháp đứng sau một số ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nhật và tiếng Trung. Chúng ta đều biết rằng tiếng Anh là một ngoại ngữ gần như là bắt buộc trong hệ thống giáo dục ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Còn tiếng Hàn, sở dĩ ngày nay rất nhiều người học tiếng Hàn bởi vì kinh tế và văn hóa của Hàn Quốc có ảnh hưởng rất nhiều đến Việt Nam. Chính vì vậy mà giới trẻ lựa chọn học tiếng Hàn rất nhiều. Và thực ra, với bậc phổ thông thì các bậc phụ huynh lựa chọn ngôn ngữ này cho học sinh. Rồi tiếng Nhật, người ta cũng thấy rằng bây giờ học tiếng Nhật thì có cơ hội làm việc rất nhiều ở Nhật Bản và cơ hội đi du học cũng rất là nhiều. Rồi tiếng Trung, do vị trí địa lý và quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, nên số người học tiếng Trung rất là nhiều. Và điều này không chỉ bắt đầu ở bậc đại học mà từ bậc phổ thông. Rất nhiều phụ huynh có xu hướng cho con đăng ký vào các lớp học tiếng Trung. RFI : Còn ở bậc đại học hoặc ở các trung tâm ngoại ngữ ? TS. Trần Văn Công : Đối với bậc đại học thì tiếng Pháp cũng đứng sau tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Trung. Điều này liên quan chủ yếu đến cơ hội việc làm, bởi vì sinh viên học tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Trung, dễ tìm việc hơn rất nhiều so với sinh viên học tiếng Pháp. Việt Nam bây giờ có rất nhiều doanh nghiệp của Nhật, của Hàn Quốc, của Trung Quốc. Và cơ hội để đi học ở Nhật, học ở Hàn Quốc, học ở Trung Quốc rất là nhiều, thế cho nên sinh viên lựa chọn các ngôn ngữ này. Đây được coi như một thị trường rất hấp dẫn đối với sinh viên học ngoại ngữ. Ngoài ra, các chương trình học bổng và du học rất là rộng rãi đối với sinh viên để các em có thể đi học ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Đối với tiếng Pháp, sinh viên học ngoại ngữ là tiếng Pháp sau khi học xong chủ yếu có thể làm trong lĩnh vực du lịch, chứ còn các lĩnh vực khác thì ít có cơ hội để các em có thể đi làm bằng ngôn ngữ tiếng Pháp mà mình được học ở trường đại học. Việt Nam hiện nay có rất nhiều trung tâm ngoại ngữ. Nếu mà so sánh về thị trường các trung tâm ngoại ngữ thì chúng ta cũng đều thấy rằng là tiếng Pháp cũng luôn luôn đứng sau tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nhật và tiếng Trung. Ngoài ra còn đứng sau một thứ tiếng khác nữa là tiếng Đức, bởi vì nhu cầu tuyển dụng lao động tiếng Đức rất là lớn, rất nhiều các cơ sở, công ty của Đức tuyển dụng người biết tiếng Đức và việc tuyển dụng này diễn ra khá mạnh mẽ trong những năm vừa qua, chính vì vậy mà số người học tiếng Đức ở các trung tâm để có thể đi Đức làm việc rất là đông. RFI : Vậy nếu so sánh thì vị trí của tiếng Pháp tại Việt Nam so với tại các nước khác ở châu Á - Thái Bình Dương là thành viên của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ như thế nào ? TS. Trần Văn Công : Nếu mà so sánh vị trí của tiếng Pháp tại Việt Nam so với tiếng Pháp ở các nước khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước thành viên của tổ chức quốc tế Pháp ngữ, như là Lào, Campuchia, Thái Lan và Hàn Quốc, thì có thể nói rằng tiếng Pháp được giảng dạy rất nhiều ở Việt Nam. Số lượng người học ở Việt Nam có thể nói là nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực. Và đây cũng là điều rất là tốt để có thể là khẳng định vị trí và vị thế của tiếng Pháp trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam. Ở các nước khác thì tỷ lệ người học tiếng Pháp có thể là nhiều hơn. Ví dụ như là ở Campuchia, bởi vì các lớp học tiếng Đức hoặc tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Trung ở Campuchia ít hơn so với ở Việt Nam, chính vì vậy mà tiếng Pháp ít bị cạnh tranh hơn bởi các thứ tiếng khác. Trong khi đó, ở Việt Nam thì tiếng Pháp bị cạnh tranh rất nhiều so với các tiếng khác. RFI : Đâu là những khó khăn lớn nhất đối với việc duy trì và phát triển giảng dạy tiếng Pháp ? Theo ông, hệ thống đào tạo giáo viên tiếng Pháp tại Việt Nam hiện nay thì còn phải đối mặt với những thách thức gì ? TS. Trần Văn Công : Tôi cho rằng thách thức lớn nhất đối với tiếng Pháp hiện nay ở Việt Nam là sự cạnh tranh với các ngoại ngữ khác đang được giảng dạy rất mạnh mẽ ở các trường phổ thông, cũng như là các trường đại học, đặc biệt là tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Trung và tiếng Đức. Sở dĩ sinh viên lựa chọn những ngành này bởi vì là thị trường lao động rất là mở, rất là lớn và không những học sinh, sinh viên có cơ hội tìm việc dễ dàng với ngôn ngữ, này mà các em còn có thể có cơ hội tìm được học bổng hoặc là các cơ hội đi du học rất là tốt ở các nước như là Nhật Bản, Hàn Quốc, ở Trung Quốc hoặc là đi làm ở Đức. Thị trường lao động là một trong những yếu tố quyết định đến việc ngôn ngữ nào được giảng dạy nhiều hay ít ở một quốc gia, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy mà tôi nghĩ rằng sự cạnh tranh giữa các thứ tiếng là yếu tố lớn nhất, khó khăn lớn nhất mà tiếng Pháp đang gặp phải. Khó khăn thứ hai là việc tuyển dụng giáo viên ở các trường phổ thông, đại học. Hiện nay ở các trường trung học ở Việt Nam có những trường chuyên, chuyên môn dạy tiếng Pháp, ví dụ ở Hà Nội có trường Hà Nội - Amsterdam, trường Chu Văn An, ở thành phố Hồ Chí Minh có trường Lê Hồng Phong, nhưng mà các học sinh giỏi nhất tiếng Pháp của các trường đó sau khi học xong tiếng Pháp thì các em lại không tiếp tục học tiếng Pháp ở Việt Nam để có thể đi làm giáo viên, mà các em thường lựa chọn ngành nghề nào đó để đi học ở các nước Pháp ngữ, ví dụ ở Pháp, Bỉ hoặc là Canada. Chính vì vậy mà đầu vào cho các trường đào tạo giáo viên tiếng Pháp ở Việt Nam gặp khó khăn, đa số các em đầu vào đều là tiếng Anh và các em phải học tiếng Pháp từ đầu. Chính vì vậy mà đầu ra cũng sẽ bị tác động. Điều này có nghĩa là những giáo viên được đào tạo từ các trường đại học sẽ có trình độ không được tốt như ngày xưa, bởi vì là các em chỉ học có 4 năm đại học thôi, còn trước kia thì đa số là các sinh viên ngành sư phạm học từ phổ thông trở lên, và đặc biệt các em học song ngữ là học 12 năm phổ thông cộng với 4 năm đại học, như vậy các em học 16 năm thì các em có một hành trang về ngôn ngữ rất là tốt, nền tiếng Pháp rất là tốt. Còn bây giờ các em chỉ học 4 năm ở đại học thôi thì chắc chắn là trình độ không thể tốt bằng các em học 16 năm. Yếu tố thứ hai là việc sinh viên đăng ký vào ngành sư phạm tiếng Pháp ngày càng giảm. Tôi lấy một ví dụ là ở trường Đại học Quốc gia Hà Nội thì có ngành đào tạo giáo viên tiếng Pháp. Tuy nhiên, ngành này 2 năm mới tuyển sinh một lần, bởi vì không phải năm nào cũng tuyển được sinh viên. Thế cho nên trường có quyết định là 2 năm mới tuyển sinh một lần. Điều đó chứng tỏ rằng việc đào tạo giáo viên tiếng Pháp gặp rất nhiều khó khăn bởi vì sinh viên không hứng thú với việc là học tiếng Pháp để trở thành giáo viên. Chưa kể là học xong ngành sư phạm giáo viên thì các em gặp khó khăn trong việc xin việc làm, bởi vì rất ít trường phổ thông tuyển giáo viên tiếng Pháp. Bây giờ người ta có xu hướng là tuyển giáo viên tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Nhật, chứ rất ít trường tuyển giáo viên tiếng Pháp. Đối với bậc đại học thì vẫn có khả năng để tuyển giáo viên tiếng Pháp. Tuy nhiên, bây giờ các trường đại học đều tuyển giáo viên có trình độ tiến sĩ. Rất ít trường tuyển giáo viên có trình độ thạc sĩ. Chính vì vậy mà các ứng viên có thể đáp ứng tiêu chuẩn này cũng rất là ít. RFI : Với sự hỗ trợ của CREFAP, Trung tâm Pháp ngữ khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà ông làm giám đốc, thì các giáo viên tiếng Pháp ở Việt Nam có những lợi thế đặc thù nào trong đào tạo và phát triển đội ngũ giáo viên, nếu so sánh với các ngoại ngữ khác ? TS. Trần Văn Công : Tôi có thể nói là giá
Số ca sinh trong một năm của Pháp giảm xuống mức thấp nhất tính từ 80 năm trở lại đây (từ năm 1946, sau Đệ Nhị Thế Chiến). Theo số liệu thường niên Viện Thống kê Quốc gia Pháp (INSEE) công bố vào giữa tháng 01/2026, Pháp chỉ ghi nhận 645.000 ca sinh trong cả năm 2025, giảm 2,1 % so với năm 2024, và giảm tới 24% so với năm 2010. Thực ra, đây không phải sự suy giảm đột ngột tại Pháp. Tính từ năm 2011 đến nay, trừ năm 2021 do tác động của biện pháp phong tỏa dài ngày chống đại dịch Covid-19, số ca sinh hàng năm của Pháp đều giảm. Điều an ủi là Pháp vẫn là nước có tỉ lệ sinh thuộc nhóm cao nhất ở châu Âu. Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt ngày 05/03/2026, nhà nhân khẩu học Gilles Pison, giáo sư danh dự tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia của Pháp, cố vấn của ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Dân số Quốc gia (INED), cũng là tác giả của cuốn Atlas Dân số Thế giới (NXB Autrement 2023), trước hết nhận định tỉ lệ sinh tại Pháp có xu hướng giảm không nằm ngoài xu hướng chung trên thế giới : « Đằng sau tỉ lệ sinh giảm, tình trạng chung của thế giới, là mong muốn có ít con hơn, nhưng là để có thể đầu tư nhiều hơn cho mỗi đứa con để những đứa trẻ này có thể thành công trong cuộc sống. Điều này có nghĩa là phải đầu tư để mỗi đứa trẻ được sinh ra sẽ phải được hưởng điều kiện giáo dục tốt, sẽ phải có nghề nghiệp tốt và nói tóm lại là sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn so với cha mẹ các em. Ở khắp nơi trên thế giới này, các bậc phụ huynh cũng đều hiểu rõ là nếu có nhiều con, họ sẽ không thể bảo đảm được là mỗi đứa con của họ đều sẽ thành công trong cuộc sống. Dẫu sao thì họ cũng phải đầu tư cho từng đứa con học hành rất nhiều năm và theo những chương trình học có chất lượng cao, có nghĩa là phụ huynh phải trả rất nhiều chi phí. Nói tóm lại, sinh ít con hơn là xu hướng toàn cầu và đã bắt đầu có từ rất lâu rồi, và điều này gắn với mong muốn có những đứa con thành công trong cuộc sống ». Tỉ lệ sinh con ở 2 nhóm phụ nữ vốn tỉ lệ sinh cao nhất, 30-34 tuổi và 25-29 tuổi, đều giảm tại Pháp. Và tính tổng thể, tỉ lệ sinh trung bình năm 2025 đã giảm xuống còn 1,56 con/phụ nữ. Nhà nhân khẩu học Gilles Pison cho biết : « Tỉ lệ sinh tiếp tục giảm và đã giảm xuống mức thấp nhất, dưới ngưỡng 2 con/phụ nữ. Đây là một điều khiến các nhà nhân khẩu học ngạc nhiên, bởi vì họ từng nghĩ rằng khi tỉ lệ sinh con của phụ nữ xuống đến mức 2 con/người thì rồi sẽ ngừng giảm, nhưng không, nó vẫn cứ tiếp tục giảm ». Tỉ lệ sinh trung bình ở Pháp như vậy đã giảm nhanh và mạnh hơn so với các dự báo, bất chấp chính sách thúc đẩy dân số của các chính phủ ở cả phe tả và hữu. Tỉ lệ sinh trung bình trên thực tế như vậy cũng thấp hơn so với kết quả thăm dò ý kiến : ví dụ theo một cuộc điều tra Viện INED thực hiện năm 2024, đa phần số người được hỏi cho biết họ muốn sinh con và trung bình người Pháp muốn có 2 con. Không chỉ vậy, phụ nữ cũng sinh con muộn hơn : độ tuổi trung bình của phụ nữ khi sinh con là 31,2 tuổi, so với độ tuổi 30,4 cách nay 10 năm. Về điều này, nhà nhân khẩu học Gilles Pison phân tích : « Mong muốn là một chuyện, còn thực hiện mong muốn đó lại là chuyện khác. Chúng ta thấy là không phải mong muốn nào cũng trở thành hiện thực. Thế nên, có một khoảng cách giữa số con người ta muốn có, và số con mà họ đã sinh ra. Điều này không thực sự gây ngạc nhiên và đã có từ trước. Các kết quả nghiên cứu mà chúng tôi có cho thấy người dân Pháp, cũng như người dân các nước khác, nhất là phụ nữ, vừa muốn có con, vừa muốn có công việc, theo đuổi sự nghiệp. Khi khó dung hòa hai yếu tố công việc và gia đình, thì đa phần những người phụ nữ muốn có con đều đẩy lui thời điểm sinh con, một số người thậm chí vì cứ phải trì hoãn mãi mà cuối cùng không sinh được con dù họ mong muốn ». Ưu điểm trong chính sách gia đình của Pháp Tạo điều kiện để các bậc phụ huynh có thể dung hòa công việc và cuộc sống gia đình chính là điều mà chính sách gia đình của nhiều nước phát triển hướng tới để thúc đẩy tỉ lệ sinh, ví dụ chế độ nghỉ thai sản, không chỉ cho người mẹ mà những năm gần đây là cho cả người cha, chính sách trông giữ trẻ nhỏ, tiền hỗ trợ nuôi con … Chính sách của Pháp có gì nổi trội ? Trả lời RFI tiếng Việt, nhà nhân khẩu học Gilles Pison cho biết tiếp : « Có lẽ điểm đặc biệt là chính sách gia đình của Pháp có từ lâu đời nhất. Pháp là nước đầu tiên ở châu Âu, thậm chí là trên thế giới, quan tâm đến chính sách khuyến khích sinh con. Điều này đã có từ hơn 100 năm trước, nhất là sau Đệ nhất Thế chiến gây ra nhiều thương vong trong quân đội và khiến dân số không tăng, thậm chí là giảm nhẹ. Nhà nước Pháp đã thực hiện chính sách khuyến khích sinh sản, trong khi các quốc gia khác không quan tâm đến những vấn đề như vậy. Sau đó, chính sách khuyến khích sinh con của Pháp đã phát triển thành chính sách gia đình. Mục tiêu chính không còn là thúc đẩy tỷ lệ sinh mà là giúp các gia đình có con nuôi dạy tốt con cái. Sự chuyển đổi này diễn ra đặc biệt sau Đệ nhị Thế chiến, thế nên chính sách gia đình của Pháp là một trong những chính sách lâu đời nhất. Chính sách này tiếp tục tồn tại bất chấp những thay đổi chính trị bởi vì tại Pháp có sự đồng thuận trong suy nghĩ rằng việc hỗ trợ các bậc phụ huynh nuôi dạy con cái là điều tốt. Và như thế, nó đã tồn tại mà không vấp phải những thay đổi đột ngột. Sau này, chính sách gia đình của pháp vẫn tiếp tục được duy trì, với những điều chỉnh, nhưng thường chỉ là những điều chỉnh nhỏ. Có lẽ chính sự lâu đời, và tính liên tục của chính sách gia đình, phần nào đã giải thích tại sao tỷ lệ sinh của Pháp tương đối cao hơn so với các nước láng giềng. Trên thực tế, cuối cùng thì mọi người hiểu rằng có thể trông cậy vào sự hỗ trợ của Nhà nước nếu họ có con ». Tuy nhiên, theo nhà nhân khẩu học Gilles Pison, trên thực tế, rất khó để đo lường chính xác những đóng góp của chính sách gia đình đối với tỷ lệ sinh ở Pháp. Về phía François Clanché, giám đốc Viện Dân Số Quốc Gia Pháp (INED), trong phiên điều trần ngày 26/01/2026 trước Thượng Viện về tỉ lệ sinh và triển vọng dân số, đã nhấn mạnh đến « tính phổ quát » trong chính sách gia đình của Pháp so với các nước khác : « Có một yếu tố quan trọng khác có lẽ đã giúp Pháp tránh được tình trạng suy giảm tỷ lệ sinh trong suốt một thời gian dài : chính sách gia đình của chúng ta nhìn chung mang tính phổ quát. Điều đó có nghĩa là chính sách gia đình của chúng ta không yêu cầu là để có con thì phải kết hôn. Vì vậy, rõ ràng khi các quốc gia nhìn vào chúng ta, hoặc so sánh với chúng ta, họ sẽ thấy rằng các ưu đãi về thuế, hay đúng hơn là biện pháp giảm thuế cho các gia đình, được áp dụng cho cả các cặp vợ chồng, cũng như các cặp đôi không kết hôn, các bà mẹ đơn thân … Và thêm một điều rất quan trọng : Hiện nay, việc hỗ trợ sinh con bằng y tế được mở rộng cho cả các cặp đồng tính nữ và phụ nữ độc thân muốn có con. Tất nhiên chỉ điều này không đóng góp thật là nhiều, nhưng tất cả các yếu tố làm cho chính sách khuyến khích sinh con, chính sách hỗ trợ gia đình trở nên phổ quát, là những điều đóng vai trò quan trọng và nhìn chung đã giúp Pháp duy trì thứ hạng khá cao trong các bảng xếp hạng như chúng ta đã thấy. Cho dù đây không phải cuộc thi, nhưng hiện nay chúng ta có tỷ lệ sinh cao hơn các quốc gia có điều kiện tương tự, rõ ràng điều này có thể có lợi cho chúng ta nếu muốn nâng cao trở lại tỷ lệ sinh ». Có thể đảo ngược xu thế tỉ lệ sinh giảm ? Trong bối cảnh nước Pháp ghi nhận số ca sinh của một năm thấp kỷ lục, một câu hỏi đang được đặt ra nhiều là Nhà nước có thể làm thế nào để đảo ngược xu hướng tỉ lệ sinh giảm. Giám đốc Viện Dân Số Quốc Gia Pháp (INED) nhận định : « Đó có thể là các chính sách nhằm ngăn chặn việc phụ nữ phải chịu thiệt thòi trong sự nghiệp chỉ vì họ là một người mẹ. Điều này có thể bao gồm các chính sách về tổ chức tại nơi làm việc, giúp nhà tuyển dụng bớt ngần ngại hơn khi tuyển dụng một người có khả năng sẽ sinh con. Và điều này cũng có thể bao gồm các chính sách công nhằm bảo đảm là các ông bố đóng vai trò quan trọng hơn trong việc nuôi dạy con cái bằng cách cho họ được hướng dẫn, đào tạo tốt hơn và hiện diện nhiều hơn bên con cái. Trong cuộc khảo sát do Hội đồng cấp cao về Gia đình, Trẻ em và Người cao tuổi thực hiện, nhiều phụ nữ có con nói rằng nếu người cha hiện diện nhiều hơn trong việc nuôi dạy đứa con đầu lòng của họ, thì có lẽ họ đã sinh thêm đứa con thứ hai, thậm chí con thứ ba. Nhiều nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu so sánh giữa các nước châu Âu cũng cho thấy điều đó. Chúng tôi thấy rằng các quốc gia có tỷ lệ sinh giảm mạnh nhất và đang ngày càng khó phục hồi là những nước mà người phụ nữ đảm nhận vai trò quan trọng trong lực lượng lao động nhưng nam giới lại không tham gia nhiều vào việc nhà và trong việc nuôi dạy con cái. (…) Và rồi còn cả vấn đề lòng tin nữa. Đó là sự tin tưởng vào các chính sách. Những chính sách mà mọi người có cảm tưởng không bền vững thì sẽ không mang lại hiệu quả. Nếu muốn thúc đẩy một người lập gia đình, thì điều quan trọng là phải khiến họ có cảm giác rằng sự hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt là về giáo dục và nhà ở … sẽ được duy trì lâu dài. Nếu các chính sách công thay đổi, nếu mọi người có cảm giác là khoản hỗ trợ cho việc làm cha mẹ được tăng lên, nhưng chính sách hỗ trợ thuế hoặc tài trợ cho giáo dục lại bị cắt giảm, thì lòng tin của giới trẻ đối với các chính sách gia đình sẽ giảm, và điều này rõ ràng sẽ khiến họ do dự trong kế hoạch ». Suy cho cùng, phục hồi tỉ lệ sinh không phải là việc ngày một ngày hai có thể đạt được, nhất là sau 15 năm số ca sinh tại Pháp gần như giảm liên tục, năm này sang năm khác. Cần một chính sách ổn định, dài hơi để trên hết có thể duy trì mong muốn có con của người Pháp và thúc đẩy họ hiện thực hóa mong muốn có con.
Một số đại học Anh ngừng nhận sinh viên từ Bangladesh và Pakistan để hạn chế tình trạng hàng nghìn sinh viên sau khi học xong đã ở lại quá hạn visa và xin tỵ nạn. Sức ép của bộ Nội Vụ buộc các trường đại học làm chặt việc tuyển sinh từ nước ngoài, lại xảy ra vào thời điểm rất nhiều trường đã thiếu hụt số sinh viên quốc tế nói chung từ 3-4 năm qua, gặp khủng hoảng tài chính, tới mức phải cắt giảm các khóa học, đóng cửa bộ môn, và thậm chí giải tán cả các cơ sở học đường. RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Giang. Hiện là nghiên cứu sinh tại đại học City University of London, anh giải thích vấn đề “tiến thoái lưỡng nan này” của ngành giáo dục đại học Anh quốc như thế nào ? Nguyễn Giang : Tin tức thời gian qua cho hay hàng loạt đại học Anh, như University of Wolverhampton, đã tuyên bố ngừng nhận tuyển sinh từ Bangladesh và Pakistan, còn các đại học Sunderland và Coventry thì “tạm ngưng” nhận đơn xin du học từ hai nước đó. Các trường London Metropolitan, Chester và Hertfordshire đều có các biện pháp tương tự, ít ra là trong năm 2026. Trên thực tế thì trong niên khóa tới (2026-2027) mà mùa tuyển sinh sẽ bắt đầu từ đầu hè 2026, con số các đại học Anh phải rà soát đơn đăng ký ghi danh từ tất cả các nước trên thế giới, sẽ tăng lên. Tôi được biết là ít nhất trên 20 trường đang bị bộ Nội Vụ cảnh báo rằng nếu những năm qua, họ có số sinh viên quốc tế học xong ở lại quá hạn visa, hoặc xin tỵ nạn, vượt một ngưỡng nhất định thì chính phủ sẽ đơn giản là rút giấy phép tuyển sinh quốc tế của họ. Mà thiếu sinh viên nước ngoài thì hàng loạt trường đại học ở Anh sẽ gặp khó khăn lớn về nguồn thu. Trong năm 2025, hàng loạt trường ở Scotland, ở miền Trung nước Anh đã phải đóng nhiều khóa học. Nhưng tin gây choáng nhất là có thêm hai đại học Kent và Essex ở vùng phụ cận của Luân Đôn trong năm 2025 đã phải đóng một số cơ sở (campus) và sa thải hàng trăm giảng viên vì thiếu sinh viên nước ngoài. Các trường khác không cẩn thận có nguy cơ rơi vào tình trạng tương tự. Trước khi nói về vấn đề của các đại học Anh, xin anh cho biết câu chuyện sinh viên quốc tế trốn ở lại đi làm chui hoặc học xong mới xin tỵ nạn là như thế nào ? Đây là câu chuyện khá nhức nhối ở Anh và hóa ra nó đã xảy ra mấy năm nay mà giờ người ta mới nói tới nhiều. Báo chí rất nhiều năm chỉ tập trung vào chuyện người di cư bằng thuyền nhỏ từ Pháp sang Anh qua eo biển mà không biết là hàng chục phần trăm số người xin tị nạn ở Anh là từ những người vào Anh hợp pháp, có thị thực hẳn hoi, gồm không ít sinh viên. Chỉ khi giấy tờ, việc làm khó khăn họ mới quay ra xin tỵ nạn, tạo ra gánh nặng không nhỏ cho nhà nước, vì người được công nhận tỵ nạn là được bảo hiểm y tế, được nhà ở miễn phí ngay lập tức. Xin nêu một vài con số, tính từ tháng 7/2024 đến tháng 6/2025, có 111.084 người nộp đơn xin tỵ nạn lên bộ Nội Vụ Anh, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước đó. Trong tổng số này thì có gần 44 nghìn người là vào bất hợp pháp, gồm 39% là « thuyền nhân » và 11% nữa là vào bằng xe thùng, containers... Chừng 13% nữa đã vào Anh từ Liên Hiệp Châu Âu, từ các đường khác hoặc là thân nhân của ai đó đã tới Anh nhưng hết hạn visa không xin thêm được. Còn lại thì tới 41 nghìn (37%) là đã tới Anh hợp pháp rồi mới xin tỵ nạn. Trong số này có gần 15 nghìn là sinh viên hoặc cựu sinh viên quốc tế. Ngoài sinh viên Bangladesh và Pakistan thì có sinh viên các nước nào nữa hay xin tỵ nạn ở Anh ? Tôi nhớ hồi tháng 5/2025, đã có tin công dân của ba nước Pakistan, Sri Lanka và Nigeria bị cho là có mặt đông nhất trong nhóm “ở lại quá hạn visa”, gồm các sinh viên - tin của báo The Guardian 06/05/2025 trích nguồn bộ Nội Vụ. Nhưng những thông báo chính thức đầu tháng 12/2025 lại cho thấy có thêm Bangladesh trong danh sách. Các nước này được cho là “quốc gia rủi ro cao” (high-risk countries) khi tuyển sinh viên và các đại học Anh giờ phải rà soát kỹ về nguồn tiền của sinh viên du học và thậm chí phỏng vấn gắt gao hơn để loại từ đầu nguy cơ có những bạn chọn con đường du học – an toàn, thậm chí rẻ hơn vượt biên – để vào Anh. Việt Nam và Trung Quốc không thấy có tên trong danh sách này nhưng việc kiểm tra hồ sơ du học thì sinh viên nước nào cũng bị rà lại kỹ và khắt khe hơn trước. Bức tranh giáo dục đại học Anh những năm qua có thay đổi gì không anh nếu đánh giá số sinh viên quốc tế ? Một điều rõ nét, có thể nhìn thấy ở các giảng đường đại học tại Luân Đôn mà tôi hay tới là sinh viên Trung Quốc tới Anh du học giảm đều, sinh viên Ấn Độ và các nước Nam Á tăng lên nhanh. Con số chính thức, theo trang Study Travel ở Anh trích nguồn nhà nước thì từ sau đại dịch Covid-19, sinh viên du học từ Trung Quốc tới Anh giảm đi 15%, còn khoảng gần 90 nghìn visa mỗi năm, còn sinh viên Ấn Độ thì tăng lên tới 140 nghìn visa ở năm cao nhất. Pakistan về ba với gần 37 nghìn visa du học, và sau đó là Nigeria, Nepal.... Việc tăng và giảm này, và quy chế visa khắt khe hơn có tác động ra sao tới nguồn thu của các đại học Anh và nền kinh tế Anh ? Sinh viên du học giảm tạo ra vấn đề tài chính rất nghiêm trọng cho các đại học Anh. Ví dụ, tính 12 tháng cho tới hết tháng 6/2025 thì Anh cấp 435.891 visa du học cho sinh viên quốc tế. Con số này đã giảm đi 18% so với cùng kỳ năm trước đó và 34% so với hai năm trước đó. Trở lại câu chuyện của hai đại học Kent University và Essex University, vừa đều phải đóng một trong số các khuôn viên và cơ sở giáo dục (campus) của họ trong năm 2025, vì “thiếu hụt ngân sách, do sinh viên nước ngoài ít sang”, thì câu chuyện được cho là “quả bom nổ chậm” với toàn ngành giáo dục đại học Anh. Việc đóng hẳn một campus phục vụ hàng chục nghìn sinh viên, như Medway campus của đại học Kent ở thành phố Chatham, và Southend campus của đại học Essex, có tác động xấu và ngay lập tức đến ba nhóm người. Một là các giảng viên và nhân viên đại học. Ví dụ mấy tháng trước, trường Kent bị sáp nhập vào đại học Greenwich thì để lập ra một trường mới - London and South East University Group- thì hàng trăm giảng viên, nhân viên sẽ bị mất việc nếu không được tái tuyển để có việc làm ở trường mới. Vụ của đại học Essex mới nhất đây thì tới 400 giảng viên, nhân viên sẽ mất việc khi một campus bị đóng và số phận cơ sở còn lại ở Colchester chưa rõ sẽ ra sao về tài chính. Hai là các sinh viên, gồm cả sinh viên nước ngoài bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ví dụ chừng 800 sinh viên đại học Essex sẽ phải chuyển từ campus ở Southend-on-Sea, ở bờ biển phía Đông lên một cơ sở mới cần mở rộng - ở Colchester cách đó 70km. Tất nhiên, vì nhiều khóa học, bộ môn bị đóng, và giảng viên đã bị sa thải, tình cảnh học tiếp của các em này sẽ không dễ. Những cuộc sáp nhập còn là sự bắt đầu của quá trình thanh lọc nơi cũ, nơi mới. Hai đại học Greenwich và Kent ghép lại làm một thì họ chỉ còn một Ban Giám hiệu, và nhiều khoa, nhiều bộ môn sẽ phải tái cấu trúc. Theo nguồn tin của cá nhân tôi thì khi ngay ở trường Greenwich, một số giảng viên người Việt cũng đang lo lắng khi mà khoa của họ chọn 2 lấy 1 khi tinh giản biên chế. Ba là tác động xấu đến nền kinh tế địa phương nơi có hàng nghìn sinh viên Anh và sinh viên nước ngoài học tập, sinh hoạt, mua sắm và thuê chỗ ở. Nguồn thu hàng triệu bảng/năm cho kinh tế một thành phố, thị trấn ở Anh sẽ biến mất. Số liệu của đại học Essex nói từ niên khóa 2021-2022 số sinh viên nước ngoài, khá đông là từ EU, tới học ở trường này đã giảm 52%, làm mất một nguồn thu lớn. Với đại học Kent, vốn nằm cạnh tuyến xe lửa cao tốc Eurostar nối với EU, thì hồi 2023 họ đã phải đóng một campus ở Bruxelles vì thiếu hụt sinh viên châu Âu, hệ quả của Brexit. Vì sau Brexit sinh viên EU phải trả phí quốc tế, ngang sinh viên Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc... thay cho mức phí ngang sinh viên Anh (chừng 10 nghìn bảng/năm học phí), nên họ không sang nữa. Cuối cùng, theo anh, câu chuyện này phản ánh điều gì ở Vương quốc Anh ? Tôi chia sẻ quan điểm với nhiều đồng nghiệp trong các nhóm giáo dục đại học tại Anh rằng mô hình tuyển sinh dựa vào sinh viên quốc tế quá lớn, tới mức phụ thuộc, hiện nay đang gặp khủng hoảng. Rộng hơn thì đây là nghịch lý của Anh quốc, với các ưu tiên trái ngược nhau. Với việc chặn tiếp sinh viên Nam Á, châu Phi bằng quy chế visa khắt khe hơn, bộ Nội Vụ Anh sẽ giảm được người xin tỵ nạn, nhưng lại sẽ khiến các đại học và nhiều ngành dịch vụ mất thu nhập, và kinh tế sẽ khó khăn hơn. Ngược lại, có ý kiến cho rằng các đại học Anh quốc sẽ phải trải qua quá trình cạnh tranh tự nhiên, và tái cấu trúc để trường nào hoạt động tốt, tuyển sinh tốt thì tồn tại, những trường không may mắn thì hẳn sẽ phải đóng cửa.
Trên phạm vi toàn cầu, doanh thu thị trường mật ong đạt mức 8,5 tỷ euro trong năm 2025. Theo dự đoán của công ty Global Markets Insights, quy mô thị trường này có thể tăng thêm 8% trong vòng mười năm tới. Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để duy trì ngành sản xuất mật ong, khi các loài ong đang dần dần biến mất do sinh hoạt con người tác động mạnh lên môi trường và hệ sinh thái. Theo số liệu của Global Markets Insights, Trung Quốc vẫn là nhà xuất khẩu hàng đầu với gần nửa triệu tấn mật ong sản xuất hàng năm (chiếm 20% thị trường toàn cầu), Thổ Nhĩ kỳ đứng hạng nhì với hơn 96.000 tấn. Iran về hạng ba với 78.000 tấn mỗi năm. Về phía Liên hiệp châu Âu, ngành sản xuất đạt mức 280.000 tấn hàng năm, trong đó nước Pháp chiếm khoảng 10% sản lượng (25.000 tấn). Tuy mật ong là một thực phẩm được phổ biến rộng rãi, nhưng tương lai của ngành sản xuất tại Pháp lại khá bấp bênh. Để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, Pháp nhập khoảng 60% mật ong từ Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng theo khảo sát gần đây của cơ quan ANSES chuyên về vấn đề an toàn thực phẩm, gần một nửa các loại mật ong nhập khẩu có giá rẻ thường được pha trộn thêm với đường trắng, nhưng mật ong pha chế lại được bày bán trên cùng một kệ với các loại mật ong nguyên chất chính hiệu, thường có giá cao hơn nhiều. Nhưng đáng lo ngại hơn nữa là các vấn đề liên quan trực tiếp đến nguồn cung ứng tự nhiên. Trước tác động của biến đổi khí hậu khiến nhiều giống cây nở hoa lệch mùa và ngành nông nghiệp sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, các bầy ong cũng như những loài côn trùng khác đang dần dần biến mất. Vấn đề ở đây là loài ong không chỉ làm ra mật. Vai trò quan trọng nhất của chúng chính là thụ phấn, giúp cây trồng đơm hoa kết trái. Theo Tổ chức Lương nông Thế giới FAO, nếu không có các loài côn trùng thụ phấn, con người sẽ mất tới một phần tư sản lượng nông nghiệp toàn cầu mỗi năm. Do vậy, theo giới chuyên gia, việc đề ra những biện pháp nhằm bảo vệ ong mật nói riêng và các loài thụ phấn nói chung đã trở nên cấp bách. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Foucaud Bertelot, chuyên gia ngiên cứu thuộc Liên đoàn các nhà nuôi ong tại Pháp (UNAF), hơn bao giờ hết ngành nuôi ong ở châu Âu phải xem xét lại các phương pháp sản xuất, làm thế nào để duy trì việc thu hoạch mật ong có chất lượng mà vẫn bảo vệ được các loài ong mật cũng như môi trường : Foucaud Bertelot : Có khá nhiều nguyên nhân khiến các loài ong đang biến mất dần. Đầu tiên hết là biến đổi khí hậu tác động đến thiên nhiên. Tại nhiều nơi trên địa cầu, nhiệt độ bất thường làm gián đoạn các chu kỳ đâm chồi nẩy mầm. Nở sớm hay nở muộn, các loài hoa khi nở không đúng mùa đều làm lệch chu kỷ phát triển nói chung. Thêm vào đó, có các loại thuốc trừ sâu (chẳng hạn như loại neo-nicotinoid) làm tê liệt hệ thần kinh của các loài sâu bọ phá hoại mùa màng, nhưng loại thuốc trừ sâu này cũng tàn phá rất nhiều bầy ong. Riêng tại châu Âu, theo quan sát của chúng tôi, các loài côn trùng thụ phấn đã giảm khoảng 70% từ những năm 2000. Đối với các loài ong mật, kết quả khả quan hơn một chút nhờ sự can thiệp của con người. Các chuyên gia thường nuôi ong chúa, rồi dùng ong chúa để tạo ra tổ mới, điều đó giúp duy trì số bầy ong, nhưng phương cách này sẽ trở nên vô nghĩa nếu như ở xung quanh chẳng còn nhiều cây cối hay hoa tươi. Nói cách khác để nuôi ong lấy mật, thì trước hết ta phải bảo tồn môi trường tự nhiên của chúng. Còn theo nhà nghiên cứu Stéphane Bonnet, tác giả quyển sách « Abeilles Mellifères » chuyên về các loài ong mật, do nhà xuất bản Terre Vivante phát hành, để bảo tồn các loài ong mật nói riêng và các loài côn trùng thụ phấn nói chung, một trong những biện pháp cần thiết vẫn là tái tạo những khu rừng rậm cũng như để nguyên những cánh đồng hoang. Trong môi trường hoang dã ấy, các loài côn trùng dễ sinh sôi nẩy nở, bảo đảm tính đa dạng của hệ sinh thái. Stéphane Bonet : Trong hàng triệu năm trước, ong mật vẫn luôn sống trong môi trường tự nhiên, loài ong đóng một vai trò quan trọng trong quá trình thụ phấn, mặc dù chúng không nhất thiết là loài côn trùng hiệu quả nhất, nhưng từ thời xa xưa ong mật luôn được coi trọng nhờ tính đa năng, có lợi cho con người trên nhiều phương diện. Ở châu Âu, nghề nuôi ong làm mật đã phát triển mạnh từ đầu những năm 1980, ngày càng trở nên chuyên nghiệp với sự can thiệp thường xuyên của con người. Tại Pháp, trong các nông trại chuyên nuôi ong, giới chuyên gia xem đó như là một cách để chọn ra những giống « dễ nuôi » nhất. Trong khi tại một số nước khác, các nhà nuôi ong chủ yếu tạo ra những môi trường thuận lợi hơn để thu hút bầy ong về làm tổ. Có thể nói ong mật là một trường hợp khá đặc biệt, tỷ lệ tử vong của loài này khá cao, nhưng thường được cân bằng, bù đắp bằng bàn tay của con người. Vấn đề hiện nay là chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu do biến đổi khí hậu. Hoạt động của con người đã tác động mạnh lên môi trường. Ngay cả tại những nước phát triển, cho dù nhiều loại thuốc trừ sâu đã bị cấm, nhưng loài ong mật vẫn tiếp tục biến mất do môi trường sống tự nhiên của chúng bị thu hẹp : quá trình xây những vùng đô thị mới cũng như nạn cháy rừng thường xuyên vào những mùa có nhiệt độ cao. Loài ong mật có khả năng di dời đến chỗ khác để làm tổ khi môi trường không còn điều kiện thuận lợi và thiên nhiên đang bị phá hủy. Theo quan sát của tôi, có khoảng 50 loài ong chuyên di dời khi môi trường không còn thích hợp, từ châu Phi đến Bắc Âu. Điều này cho thấy để duy trì các bầy ong, trước hết ta phải bảo tồn môi trường sống tự nhiên của chúng. Khi chọn giống để nuôi ong lấy mật, các nhà nuôi ong phần nào tước đi khả năng thích nghi của chúng. Để bảo tồn tính đa dạng về mặt di truyền, nên chăng dung hòa việc nuôi ong gần với những không gian hoang dã. Chính trong những cánh đồng hoang, các loài côn trùng ói chung, kể cả ong mật có thể tạo ra nhiều thế hệ mới, có khả năng chống chọi tốt hơn với khí hậu khắc nghiệt. Nuôi ong chúa để tạo ra tổ mới, hay là tái tạo những cánh đồng hoang cho bầy ong về làm tổ tự nhiên. Theo chuyên gia Foucaud Bertelot, cả hai hệ thống này có thể cùng tồn tại với nhau : Foucaud Bertelot : Trước đà suy giảm nghiêm trọng của bầy ong mật, các nhà nuôi ong vẫn tìm cách để lập ra những tổ mới, nhưng bên cạnh đó họ vẫn có thể tái tạo những không gian hoang dã hoặc bỏ trống những vùng đất canh tác để cho côn trùng hay loài ong được tự do, trong các khu vườn xung quanh, ta cũng có thể trồng các giống cây hay loài hoa có nhiều phấn, để thu hút các bầy ong về hút nhụy làm mật. Tại Pháp, đã có nhiều quy định theo chiều hướng này khuyến khích các quận xã bỏ hoang một số cánh đồng cỏ, có thể « thiếu thẩm mỹ » về mặt phong cảnh nhưng lại có lợi về mặt đa dạng sinh thái. Riêng về việc chọn lựa các loại mật ong chính hiệu, không không bị pha chế, đầy đủ chất bổ dưỡng, chuyên gia Foucaud Bertelot có lời khuyên người tiêu dùng như sau : Foucaud Bertelot : Thị trường quốc tế đang bị ảnh hưởng ởi các loại mật ong không nguyên chất mà lại pha trộn thêm với nhiều đường hay sirô. Để phân biệt mật ong nguyên chất với mật ong giả thì người tiêu dùng nên chọn ưu tiên các hiệu mật ong địa phương, được sản xuất tại chỗ. Các sản phẩm có chất lượng thường có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và thường không pha chế nhiều nguồn mật ong khác nhau. Các quy định hiện hành tại châu Âu cho phép việc bán mật ong, được chế biến từ một nguồn duy nhất hoặc với nhiều nguồn gốc khác nhau. Các hiệp hội yêu cầu các loại mật ong có pha trộn phải ghi rõ xuất xứ, bao gồm cả tỷ lệ phần trăm của từng quốc gia hay vùng miền. Do vậy, người tiêu dùng nên cẩn thận trong việc chọn lựa mật ong khi trên nhãn có ghi nhiều nguồn gốc, cũng như nên cẩn thận khi mật ong được bán với giá rẻ đến mức khó tin.
Vụ trộm táo bạo hôm 19/10/2025 tại Louvre, một trong những biểu tượng văn hóa của Pháp tại Paris, bảo tàng nổi tiếng nhất thế giới, được xem là « vụ trộm thế kỷ » gây chấn động công luận trong và ngoài nước Pháp. Đây không chỉ là một mất mát cho giới bảo tàng của Pháp, với những bộ sưu tập hàng đầu thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi về an ninh tại các bảo tàng, nhà thờ, công trình văn hóa … Bộ trưởng Văn Hóa Pháp Rachida Dati (1) cũng thừa nhận rằng bảo tàng Louvre không phải là trường hợp cá biệt, « đã tồn tại những lỗ hổng an ninh và chúng cần được giải quyết ». Quả thực, vấn đề bảo vệ an ninh, tài sản tại các bảo tàng chưa bao giờ lại là chủ đề gây tranh cãi nhiều đến vậy. Trong khi dư luận dậy sóng, đặt lại các câu hỏi về biện pháp bảo vệ an ninh của bảo tàng Louvre nói riêng và cảnh sát Paris nói chung, hàng trăm chuyên gia tích cực điều tra về vụ trộm táo bạo cướp đi 88 triệu euro báu vật của Pháp, thì vào ngày thứ Ba, 28/10, Cục Thông tin, Tình báo và Phân tích Chiến lược về Tội phạm có tổ chức (Sirasco) của Pháp ghi nhận sự gia tăng các vụ trộm đồ tạo tác (các vật phẩm được con người tạo ra, thường mang giá trị khảo cổ) và tác phẩm nghệ thuật của các bảo tàng trong thời gian gần đây. Trung bình, mỗi năm có khoảng 20 vụ trộm cắp tại hơn 1.200 bảo tàng trên toàn nước Pháp. Nhưng theo AFP, báo cáo của Sirasco đã vẽ nên một bức tranh đáng lo ngại, nêu rõ là « các bảo tàng, nhà thờ và cá nhân tại Pháp ngày càng trở thành mục tiêu của tội phạm nhắm vào những báu vật và tác phẩm nghệ thuật quan trọng mà họ sở hữu ». Cục Cảnh sát Tư pháp Quốc gia (DNPJ) lưu ý là nhiều vụ trộm di sản hoặc hiện vật văn hóa khác đã liên tục xảy ra trong những tuần gần đây. 7 vụ trộm nghiêm trọng chỉ trong vòng 2 tháng Ví dụ, vào ngày 20/10, khi cả nước Pháp còn đang kinh ngạc về vụ trộm ở Louvre, thì bảo tàng Langres ở tỉnh Haute-Marne, vùng Grand Est, miền đông bắc, cũng bị trộm đột nhập, nhắm vào các đồng tiền vàng và bạc có từ thế kỷ 18. Trước đó, vào đầu tháng 9, một hiện vật là đồ sứ Trung Quốc, được xếp vào loại bảo vật quốc gia, đã bị đánh cắp khỏi bảo tàng Dubouché ở Limoges. Thiệt hại ước tính lên tới hơn 6,5 triệu euro. Vào ngày 21/10, một công dân Trung Quốc đã bị bắt tại sân bay Barcelona, Tây Ban Nha, với 1 kg vàng nấu chảy : người này bị tình nghi đã tham gia vào vụ trộm gần 6 kilogram vàng tự nhiên (chưa qua tinh chế) tại bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở Paris hồi tháng 09. Hôm 12/10, bảo tàng về tổng thống Pháp Jacques Chirac (nhiệm kỳ 1995-2007) ở Sarran, Corrèze, cũng trở thành mục tiêu. Những kẻ phạm tội nhắm vào các quà tặng ngoại giao mà ông Chirac đã được các nước tặng trên cương vị tổng thống, trong đó có đồng hồ và trang sức. Jean-Baptiste-Félicité, người đứng đầu Văn phòng Trung ương về Chống Buôn bán Tài sản Văn hóa (OCBC), xác nhận trong phiên điều trần trước Ủy ban Văn hóa của Thượng viện Pháp ngày 29/10/2025 là các vụ việc nghiêm trọng đã gia tăng đột biến trong tháng 09 và 10 vừa qua : « Chúng tôi thấy có sự gia tăng các vụ nghiêm trọng trong hai tháng qua, tức là tháng 09 và 10. Chúng tôi ghi nhận là có ít nhất 7 bảo tàng đã bị nhắm tới trong những vụ mà các thủ phạm có sử dụng bạo lực, thậm chí là dùng vũ khí ». Theo nhà chức trách Pháp, kẻ trộm hoặc nhắm vào các tác phẩm nghệ thuật vì giá trị nội tại của chúng : Đây thường là các vụ trộm được tiến hành kiểu theo đơn đặt hàng, nhưng cũng có thể là họ ăn trộm để bán chúng cho các mạng lưới chuyên tẩu tán hàng ăn cắp ; hoặc chúng nhắm vào kim loại hoặc đá quý, những món hàng có thể chia tách ra từng phần nhỏ hoặc được nung chảy ra để bán mà không sợ bị nhà chức trách phát hiện nguồn gốc là sản phẩm bị đánh cắp. Trong bối cảnh bất ổn định chính trị toàn cầu, vàng được coi là « nơi trú ẩn an toàn », khối lượng vàng mua vào và giá vàng đều tăng chóng mặt trong thời gian quan. Cục Thông tin, Tình báo và Phân tích Chiến lược về Tội phạm có tổ chức (Sirasco) lưu ý rằng các hiện vật làm bằng vàng là mục tiêu đặc biệt bị kẻ trộm nhắm tới. Các đồ vật bằng bạc cũng thu hút tội phạm. Về phương pháp hoạt động, các nhóm tội phạm đôi khi sử dụng « các chiến thuật bạo lực » và « có thể thuê người thông qua các dịch vụ nhắn tin được mã hóa » hoặc qua các mạng xã hội. Để tăng cường an ninh tại bảo tàng Louvre, sau « vụ trộm thế kỷ » kéo dài 7 phút, chủ tịch kiêm giám đốc bảo tàng, Laurence Des Cars (2), đã yêu cầu đặt một đồn cảnh sát bên trong bảo tàng, nhưng cả bộ trưởng Nội Vụ Pháp, Laurent Nuñez, nguyên cảnh sát trưởng Paris, và tân cảnh sát trưởng Paris, Patrice Faure, đều bác bỏ. Hôm 29/10, trước Ủy ban Văn Hóa của Thượng Viện, cảnh sát trưởng Paris, Patrice Faure phát biểu : « Tôi kiên quyết phản đối, vì hai lý do : nếu chúng tôi chấp thuận yêu cầu này, tất cả các bảo tàng khác đều sẽ yêu cầu chúng tôi đặt đồn cảnh sát ở đó. (…) Tôi không nghĩ việc đặt một đồn cảnh sát bên trong (bảo tàng) sẽ là giải pháp lâu dài cho những khó khăn mà bảo tàng Louvre đang gặp phải (…) Và tôi nghĩ việc đó rõ ràng là sẽ vấp phải một số khó khăn, đặc biệt là bởi vì, nhìn chung thì kẻ trộm sẽ không ở lại nơi chúng đã đột nhập mà sẽ cố gắng thoát ra ngoài và mang theo ác món đồ đã trộm cắp ». Chính vì vậy, cảnh sát trưởng Paris nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự hiện diện của cảnh sát xung quanh bảo tàng Louvre, bởi trong năm 2025, cảnh sát đã tiến hành can thiệp gần 1100 lần. Bộ trưởng Nội Vụ cũng đã ra chỉ thị cho các tỉnh trưởng tăng cường hệ thống an ninh quanh cách cơ sở văn hóa nếu cần. Trong khi đó, Jean-Baptiste Félicité, Văn phòng Trung ương về Chống Buôn bán Tài sản Văn hóa (OCBC), cảnh báo cần tránh khả năng xảy ra « hiệu ứng Đường Maginot » (effet ligne de Maginot), ý nói tới một sự bảo vệ tưởng chừng vững chắc nhưng thực ra lại là vô hiệu, vì chỉ tập trung vào một mối nguy cũ, trong khi kẻ thù hoặc vấn đề thật sự đến từ nơi khác, nói cách khác là một cảm giác an toàn giả tạo do dựa vào một hệ thống bảo vệ lỗi thời. Trộm cắp không chỉ là mối de dọa duy nhất Trả lời chất vấn của Ủy ban Văn hóa của Thượng Viện, ông Jean-François Hébert, tổng cục trưởng Di sản và Kiến trúc thuộc bộ Văn Hóa, giới thiệu khái quát các mối đe dọa mà các bảo tàng Pháp phải đối mặt trong những năm gần đây: « Chúng ta (nước Pháp) thực sự sở hữu những bộ sưu tập phong phú nhất. Ý và nhiều nước châu Âu khác cũng có những bộ sưu tập rất phong phú, nhưng chúng ta chắc chắn nằm trong số những nước có những bộ sưu tập phong phú nhất thế giới. Và những bộ sưu tập này có thể được trông thấy trên khắp đất nước, nhất tại các bảo tàng. (…) Có 1.220 bảo tàng ở Pháp được công nhận là « Musée de France », danh hiệu « bảo tàng Pháp » dành cho các cơ sở đáp ứng một số tiêu chí mà tôi xin phép không đề cập chi tiết ở đây. 61 bảo tàng trong số này thuộc về Nhà nước, mà chúng tôi gọi là các bảo tàng quốc gia. Hầu hết các bảo tàng còn lại, gần 1.200 bảo tàng, thì do chính quyền địa phương quản lý. Và tất cả các bảo tàng, dù là bảo tàng quốc gia hay bảo tàng do chính quyền địa phương quản lý, thì đều có trách nhiệm, không chỉ lưu giữ, bảo tồn, làm giàu hay nghiên cứu, tìm hiểu về các bộ sưu tập của mình, mà còn phải giới thiệu các bộ sưu tập này đến công chúng, đến càng nhiều người thì càng tốt. Bảo vệ các bộ sưu tập công khỏi những mối đe dọa mà chúng phải đối mặt không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều nhận thức được điều đó, nhất là bởi vì các mối đe dọa rất đa dạng. Có thể nói đến hỏa hoạn, chúng ta cũng đừng quên nói đến lũ lụt, các hành vi phá hoạt, hay là trộm cắp. Tôi muốn nhắc lại về những hành động đã được truyền thông nói đến rầm rộ, những hành động của những người thường được gọi chung là các nhà hoạt động vì khí hậu. Mọi người có thể quên, nhưng chuyện mới xảy ra cách nay chưa quá lâu, chỉ mới 2 năm trước thôi. Những người này đã cố tình xịt một loạt chất lỏng lên một số kiệt tác trong các bảo tàng của chúng ta để lôi kéo công luận chú ý đến cuộc đấu tranh của họ. Riêng về vấn đề trộm cắp, trong trường hợp này, nó không chỉ đơn thuần là làm hư hại các tác phẩm nghệ thuật, và mọi người đều đồng ý rằng mối đe dọa đang không ngừng gia tăng. Kể từ năm 2015 trở đi, khi bắt đầu có nhiều vụ khủng bố diễn ra, ngoài ra còn có các cuộc biểu tình đầy bạo lực diễn ra ngay trước cổng các bảo tàng, đã có rất nhiều áp lực đè nặng lên mọi người. Và giờ đây, chúng ta thấy rõ ràng là chính các hiện vật, chính các bộ sưu tập, là mục tiêu bị nhắm tới ». Đây cũng là dịp để báo chí Pháp điểm lại những vụ trộm lớn nhắm vào các bảo tàng danh tiếng của Pháp. Ví dụ theo trang CNEWS, vào ngày 20/05/2010, 5 kiệt tác của các danh họa Pablo Picasso, Henri Matisse, Georges Braque, Amedeo Modigliani và Fernand Léger, với tổng trị giá lên tới khoảng 100 triệu euro, được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở Paris, đã bị lấy đi ngay giữa ban ngày. Kẻ trộm, một người Croatia-Bosnia có tên là Vjeran Tomic, đã lợi dụng một lỗ hổng bảo mật : các cảm biến chuyển động đã ngừng hoạt động trong 2 tháng. Bị bắt gần một năm rưỡi sau đó, đến năm 2017, « Người Nhện » đã bị kết án 8 năm tù. Mặc dù không có tác phẩm nghệ thuật nào được tìm thấy, nhưng câu chuyện về vụ trộm 5 kiệt tác tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở Paris này đã truyền cảm hứng cho bộ phim Pháp dài tập « Les règles de l’art » - Các quy tắc nghệ thuật, của Dominique Baumard, được phát hành trong năm nay. Chính bảo tàng Louvre và kiệt tác nổi tiếng nhất « La Joconde » - Nàng Mona Lisa - hồi năm 1911 cũng từng là nạn nhân của một vụ đánh cắp gây chấn động. Vincenzo Peruggia, một người thợ kính người Ý, tham gia vào việc phục chế tranh ở bảo tàng, đã đánh cắp bức tranh vì điều ông ta gọi là lòng yêu nước, để trả lại « La Joconde » cho nước Ý. May mắn là bảo tàng Louvre đã thu hồi lại được tuyệt phẩm của Leonard De Vinci. Lần này cơ may có lặp lại với bảo tàng Louvre sau « vụ trộm có tổ chức » hôm 19/10 hay không hay không ? Các cuộc điều tra vẫn đang tích cực diễn ra, nhưng trước mắt, nhiều chuyên gia và nhà chức trách nhận định khó có thể thu hồi lại được « nguyên vẹn » những báu vật « vô giá về lịch sử » của Pháp. Trong một bài đăng trên Diễn
Tại châu Âu, cho dù có những tiến bộ ở một số nước trong việc hợp pháp hóa và phi hình sự hóa phá thai, Pháp thậm chí đã ghi quyền chấm dứt thai kỳ tự nguyện của phụ nữ vào Hiến Pháp, nhưng trên thực tế, nhìn chung toàn khối, quyền phá thai vẫn còn mong manh và không được các nước áp dụng đồng đều. Đáng lo ngại hơn, vào đầu tháng 11/2025, Amnesty International, tổ chức Ân Xá Quốc Tế, cảnh báo là tại châu Âu đang có những nỗ lực « đáng báo động », với những cuộc tấn công ngày càng gia tăng, nhằm hạn chế quyền chấm dứt thai kỳ tự nguyện của phụ nữ. Các trở ngại đối với những phụ nữ muốn chấm dứt thai kỳ tự nguyện tại châu Âu còn nhiều. Có thể đó là về thủ tục hành chính, về mặt xã hội hay thực tế : thời gian chờ đợi bắt buộc, giới hạn tuổi thai, từ chối chăm sóc vì lý do lương tâm, không được tiếp cận phương pháp dùng thuốc để chấm dứt thai kỳ, chi phí cao và thiếu chuyên gia ... Đây là kết luận của tổ chức Ân Xá Quốc Tế trong báo cáo « Quyền không phải là hiện thực dành cho tất cả mọi người : Cuộc đấu tranh cho quyền được chấm dứt thai kỳ ở châu Âu », được công bố hôm 06/11/2025. Nghiên cứu được thực hiện tại 40 quốc gia trên khắp châu Âu. Trở ngại mỗi nơi mỗi kiểu Tại hơn một chục quốc gia, chẳng hạn như Đức, Áo và Bulgari, chi phí phá thai có thể là « quá cao » nếu không được hệ thống y tế chi trả. Điều này làm suy yếu khả năng tiếp cận của các nhóm dễ bị tổn thương nhất : giới trẻ, những phụ nữ trong điều kiện khó khăn, trong đó có di dân và người tị nạn, hay người khuyết tật. Những trở ngại này tồn tại ngay cả ở những quốc gia cho phép phá thai hợp pháp, chẳng hạn như Bỉ, nơi cho phép phá thai dưới 12 tuần tuổi. Tuy nhiên, thời gian chờ bắt buộc 6 ngày được áp dụng trước khi thực hiện thủ thuật phá thai, và thai phụ phải được cung cấp thông tin về các giải pháp khả thi khác, cũng như các lựa chọn khác cho thai nhi, bao gồm cả việc nhận con nuôi. Thủ tục phức tạp này khiến việc tiếp cận dịch vụ bị trì hoãn. Tại một số quốc gia khác, cho dù phá thai là hợp pháp, nhưng việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc gần như không thể. Báo cáo chỉ ra là ở Ý và Rumani, rất nhiều nhân viên y tế từ chối làm thủ thuật phá thai do đức tin cá nhân hoặc tôn giáo, khiến các thai phụ rất khó tiếp cận dịch vụ. Ngoài ra, còn có hàng chục quốc gia áp đặt « các điều kiện tiên quyết không hợp lý về mặt y tế », ví dụ thời gian chờ đợi hoặc tư vấn, « có thể dẫn đến sự chậm trễ trong việc tiếp cận », khiến Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) phải kêu gọi chính phủ các nước châu Âu « thực hiện các biện pháp để bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng và phổ quát » về chấm dứt thai kỳ tự nguyện. Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO lưu ý là các giới hạn pháp lý dựa trên số tuần tuổi của thai nhi không dựa vào các bằng chứng khoa học và làm tăng nguy cơ đối với sức khỏe của thai phụ. Theo Amnesty International, tình trạng hiện nay liên quan phần nào đến một làn sóng chính sách thoái lui, được thúc đẩy bởi các nhóm phản nhân quyền « được hưởng nhiều tài trợ và xuyên quốc gia, gồm các định chế và nhóm bảo thủ và tôn giáo, các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức xã hội dân sự và những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội ». Những hành vi hung hãn nhắm vào các cơ sở phá thai Các hành vi đe dọa và bạo lực nhắm vào những người đấu tranh cho quyền tiếp cận phá thai, bao gồm các nhà hoạt động, hiệp hội và nhân viên y tế, đang gia tăng. Theo tổ chức phi chính phủ này, sự hiện diện của các nhà hoạt động chống phá thai rất « hung hãn » bên ngoài các cơ sở chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục cũng là « một trở ngại ngày càng phổ biến » đối với việc phá thai, trong đó có Tây Ban Nha. Từ Madrid, thông tín viên Diane Cambon, gửi về bài phóng sự : « Ở cổng bệnh viện tư Beyadonna, không có dấu hiệu nào cho thấy đây là một trung tâm y tế thực hiện thủ thuật phá thai. Phía trước chỉ thấy các biển báo ghi « điều trị da liễu », « chăm sóc phụ khoa » và « tư vấn dinh dưỡng ». Nhưng mỗi năm, có khoảng 2.000 phụ nữ đến bệnh viện tư này để phá thai. Bà Christina Iglesias, giám đốc bệnh viện, giải thích : « Chúng ta đang ở Tây Ban Nha, nhưng từ nhiều năm nay, chúng tôi đã phải chịu nhiều áp lực từ phía bên ngoài bệnh viện. Có những nhóm cực đoan tụ tập trước cổng bệnh viện và gây sự với các bệnh nhân và nhân viên y tế. Năm 2023, một đạo luật đã được thông qua, cấm các hành vi quấy rối kiểu này, nhưng nó vẫn tiếp diễn. Các nhóm chống phá thai này giơ cao biểu ngữ và la hét đủ điều với chúng tôi ». Phá thai đã được phi hình sự hóa vào năm 1985 và sau đó được hợp pháp hóa vào năm 2010, cho phép chấm dứt thai kỳ trước khi thai nhi được 14 tuần tuổi, hoặc trước 22 tuần tuổi trong trường hợp việc mang thai gây nguy hiểm cho sức khỏe của thai phụ. Tuy nhiên, quyền này vẫn còn nhiều trở ngại. Tại nhiều bệnh viện công, phần lớn bác sĩ khẳng định họ có quyền từ chối phá thai vì lý do lương tâm. Ví dụ, ở Madrid, chỉ có 1,8% phụ nữ phá thai tại các cơ sở y tế công. Kết quả là, phụ nữ phải đến các bệnh viện tư nhân có hợp đồng với bảo hiểm xã hội như bệnh viện của bà Cristina Iglesias. Bà nói : « Ở hầu hết các vùng của Tây Ban Nha, phụ nữ phá thai thường đến các trung tâm tư nhân có thỏa thuận với an sinh xã hội. Điều này có nghĩa là thai phụ không phải trả tiền. Ở một số vùng, trung tâm y tế công sẽ giới thiệu thai phụ đến một bệnh viện tư. Việc này hơi phức tạp, nhưng điều quan trọng là đây chính là quyền mà chính phủ đã quyết tâm bảo đảm. Tuy nhiên, quyền này hiện nay có thể bị các đảng cánh hữu và cực hữu đòi hủy bỏ. Cuộc tranh cãi mới nhất xuất phát từ Madrid, do một ủy viên hội đồng thành phố thuộc đảng cực hữu Vox khởi xướng ». Chiêu bài « hội chứng hậu phá thai » Cách nay vài tuần, dù chưa được khoa học kiểm chứng, phe đối lập bảo thủ ở Tây Ban Nha đã cho rằng có sự tồn tại của hội chứng hậu phá thai, rằng phá thai có thể gây ra chứng nghiện rượu, vì thế cần cảnh báo những phụ nữ muốn chấm dứt thai kỳ về những nguy cơ nói trên. Đáp lại phe đối lập, chính phủ của thủ tướng Pedro Sánchez thông báo là Tây Ban Nha sẽ làm giống như láng giềng Pháp : chính phủ sẽ yêu cầu Quốc Hội ghi quyền chấm dứt thai kỳ tự nguyện vào Hiến Pháp. Thế nhưng, không có đa số phiếu trong Quốc Hội, chính phủ không chắc thành công. Từ Madrid, thông tín viên Diane Cambon cho biết thêm : « Hội đồng thành phố muốn yêu cầu các nhân viên y tế thông báo cho phụ nữ muốn phá thai về nguy cơ mắc hội chứng mà cho là hậu phá thai, ví dụ « chứng nghiện rượu, chán ăn, hoặc ăn vô độ và sự cô lập khỏi các mối quan hệ xã hội ». Bị phản đối, đô trưởng Madrid đã rút lại quyết định, nhưng tranh cãi vẫn nổ ra. Carmen, chủ tịch hiệp hội phụ nữ COMADRESS, vận động cho quyền phá thai từ những năm 1980, không giấu giếm nỗi phẫn nộ. Bà nói : « Mỗi khi một đảng phái chính trị muốn gây chú ý, họ lại đòi xem xét lại quyền tự do lựa chọn của chúng tôi. Đây là một vấn đề lẽ ra không nên được đặt ra nữa. Xã hội Tây Ban Nha đã hoàn toàn chấp nhận rằng một người phụ nữ không muốn làm mẹ thì có quyền phá thai. Chúng tôi không còn muốn bị đối xử như trẻ con nữa. Chúng tôi không muốn Giáo hội công giáo hay các đảng cực hữu nghĩ rằng họ có thể nắm quyền và chi phối chúng tôi ». Đối với bà Carmen, chủ tịch hiệp hội phụ nữ COMADRESS, tranh cãi sẽ còn đi xa hơn, cho thấy quyền phụ nữ vẫn đang bị đe dọa và sẽ còn liên tục bị đe dọa. « Quyền nào luôn bị đe dọa ? Vâng, đó là quyền phá thai, bởi vì đó là quyền và là năng lực mà chỉ phụ nữ mới có. Chỉ phụ nữ mới có thể làm mẹ, và chỉ phụ nữ mới có thể quyết định họ có muốn sinh con không, như thế nào, với ai và vào thời điểm nào ». Vấn đề này có thể trở thành chủ đề trung tâm trong cuộc tranh luận chính trị. Đảng Vox đang phát triển mạnh mẽ, muốn biến chủ đề này thành chủ đề chính trong chiến dịch tranh cử Quốc Hội năm 2027 và yêu cầu cấm chấm dứt thai kỳ tự nguyện ». Sự đóng góp của các nhóm chống nhân quyền Tổ chức Ân Xá Quốc Tế khẳng định rằng các nhóm chống nhân quyền được hưởng « nguồn tài chính ngày càng lớn », và đang « gia tăng nỗ lực gây ảnh hưởng tiêu cực đến luật pháp và chính sách về vấn đề này, thường dùng đến nỗi sợ hãi và thông tin sai lệch, với mục đích hạn chế hơn nữa việc tiếp cận thủ thuật này ». Tất cả những điều này đã đạt được với sự hỗ trợ đáng kể từ các bên liên quan của Mỹ và Nga trong giai đoạn 2019-2023, theo tiết lộ của Diễn đàn Nghị Viện Châu Âu về quyền tình dục và sinh sản. Dưới ảnh hưởng của các nhóm này, một số quốc gia hiện đang chứng kiến những nỗ lực hoặc biện pháp thực tế nhằm hạn chế quyền tiếp cận phá thai. Những nỗ lực áp đặt các hạn chế đã diễn ra, đáng chú ý là tại Quốc Hội Slovakia và Croatia, nơi mà theo tổ chức Ân Xá Quốc Tế, « ảnh hưởng của các chính trị gia bài nhân quyền trong chính phủ, kết hợp với liên minh ngày càng gia tăng giữa các nhà hoạt động chống phá thai và Giáo hội Công giáo, đã dẫn đến một số nỗ lực hạn chế quyền tiếp cận phá thai ». Trong khi Hungary đề ra những rào cản mới đối với việc tiếp cận phá thai, tại Ý, đảng cầm quyền đã theo đuổi các sáng kiến lập pháp cho phép các nhóm chống phá thai hoặc « hỗ trợ thiên chức làm mẹ » tiếp cận các trung tâm tư vấn, trong khi đến tư vấn tại các trung tâm này là chuyện bắt buộc đối với phụ nữ muốn phá thai tại Ý. Các nhóm chống phá thai thường dựa vào những lý lẽ bảo thủ về sinh đẻ hoặc dùng các « ngôn từ phân biệt chủng tộc », theo đó người nhập cư đang chuẩn bị « thay thế » người « da trắng bản địa » trong nước. Ba Lan - nước có luật chống phá thai nghiêm ngặt nhất châu Âu Nếu như tại châu Âu, các quốc gia mà quyền chấm dứt thai kỳ tự nguyện của phụ nữ được bảo đảm nhất là Thụy Điển, Pháp và Hà Lan, thì đứng cuối bảng là Malta, Andorra, và không thể không nhắc tới Ba Lan. Từ lâu nay, Ba Lan là nước có luật chống phá thai nghiêm ngặt nhất, và luật này còn ngày càng được thắt chặt hơn trong những năm gần đây. Ví dụ, hồi năm 2023, Justyna Wydrzyńska, một nhà hoạt động vì quyền phá thai tại Ba Lan, đã bị kết án 8 tháng lao động công ích vì giúp một phụ nữ mua thuốc phá thai. Tuy nhiên, vấn đề phá thai vẫn là trọng tâm của các cuộc tranh luận chính trị trong kỳ bầu cử vừa qua. Từ Vacxava, thông tín viên Adrien Sarlat
Nước Pháp vốn lâu nay vẫn nổi tiếng là xứ sở ẩm thực, người Pháp được xem là có gu ăn uống tinh tế, các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn cao, thế nhưng nay nước Pháp đang trở thành « thiên đường » của đồ ăn nhanh và nhiều hiệp hội, tổ chức tại Pháp ngày càng lo ngại về tình trạng tiêu dùng tràn lan các thực phẩm không lành mạnh (malbouffe). Một cuộc khảo sát của 7 hiệp hội, tổ chức về 5.000 sản phẩm khuyến mại tại 5 hệ thống bán lẻ lớn nhất của Pháp (Carrefour, Cooopérative U, E.Leclerc, Intermarché và Lidl) trong hai tháng 02-03/2025, cho thấy 66% chương trình khuyến mãi thực phẩm tại hệ thống các siêu thị lớn liên quan đến các sản phẩm quá béo, quá ngọt hoặc quá mặn, không tốt cho sức khỏe người tiêu dùng, thậm chí là các thực phẩm mà các định chế y tế khuyến cáo hạn chế sử dụng, như các thức uống ngọt, thịt chế biến sẵn, thực phẩm chế biến từ thịt đỏ … Tố cáo các siêu thị thúc đẩy người tiêu dùng mua thực phẩm không lành mạnh, thậm chí « bán rẻ » sức khỏe của khách hàng, các hiệp hội này kêu gọi các chuỗi siêu thị lớn bảo đảm là ít nhất 50% thực phẩm được khuyến mại phải là sản phẩm có chất lượng, với giá cả phải chăng. Trong số 7 hiệp hội, tổ chức về thực phẩm, sức khỏe, bệnh tiểu đường, gia đình hay bảo vệ khí hậu, có Food Watch France, một tổ chức phi lợi nhuận đấu tranh cho quyền của cộng đồng được tiếp cận thực phẩm lành mạnh, giá cả phải chăng, được lựa chọn và bảo đảm phát triển bền vững. Để hiểu thêm về thực trạng tiêu dùng thực phẩm không lành mạnh tại Pháp, RFI Tiếng Việt phỏng vấn bà Audrey Morice, phụ trách chương trình quảng bá của Food Watch France. RFI : Trước hết, nên hiểu thế nào là đồ ăn không lành mạnh ? Audrey Morice : Tất cả các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp nhưng chứa nhiều calorie, cholesterol, chất béo bão hòa, đường, đôi khi là muối, về cơ bản đó là những thứ ẩn nấp đằng sau thực phẩm không lành mạnh mà chúng ta cần biết. Nói cách khác, đó là những thực phẩm quá béo, quá ngọt, quá mặn. Ngày nay, thực phẩm không lành mạnh còn gắn liền thực phẩm siêu chế biến, vốn bị chỉ trích rất nhiều. Chúng chiếm tới gần 1/3 lượng calorie chúng ta nạp hàng ngày vào người, do đây thường là những thực phẩm rất tiện lợi, trông rất ngon miệng mà lại không đắt mấy. Tuy nhiên, đằng sau những thực phẩm này là một quá trình biến đổi theo dây chuyền công nghiệp, dẫn đến những hậu quả về sức khỏe và gây nhiều tranh cãi. Đây thực ra là những xu hướng tiêu dùng thực phẩm có từ những năm 1960-1970, với sự xuất hiện của thức ăn nhanh McDonald's và thực phẩm công nghiệp. Cách nay vài thập kỷ, chúng ta được tiêu thụ trực tiếp thực phẩm được nuôi trồng. Nhưng rồi sau đó, theo thời gian, loại thực phẩm này đã dần dần trải qua quá trình chế biến theo tiêu chuẩn của ngành công nghiệp thực phẩm. Cùng với đó là sự thay đổi về lối sống, cách vận chuyển, dẫn đến việc mọi người chuyển sang sử dụng thực phẩm không lành mạnh, còn giá cả thực phẩm tươi thì cứ tăng, các phương pháp sản xuất bị công nghiệp hóa, giá những sản phẩm theo số lượng lớn và chứa nhiều đường lại giảm. Tất cả những điều đó dẫn đến việc các siêu thị ngày nay tràn ngập những sản phẩm "siêu chế biến" và các xu hướng tiêu thụ thức ăn nhanh, như McDonald's, KFC … Điều này có nghĩa là nguồn cung ngày nay tập trung vào nhóm thực phẩm không lành mạnh, thay vì hướng đến các sản phẩm tươi, ngon, chất lượng. RFI : Pháp vốn nổi tiếng trên thế giới là xứ sở của ẩm thực. Vậy bà giải thích thế nào về tiến triển của xu hướng tiêu dùng thực phẩm không lành mạnh như vậy, ví dụ ăn fastfood ? Audrey Morice : Kiểu thực phẩm chế biến không lành mạnh lần đầu tiên du nhập vào Pháp từ nước ngoài là vào những năm 1970, khi hệ thống thực phẩm của thế giới bắt đầu trở nên công nghiệp hóa đến mức dần dần trở thành có vấn đề. Đó là khi thực phẩm bắt đầu trải qua quá nhiều quá trình chế biến. Thực ra thực phẩm chế biến sẵn không phải là điều gì mới mẻ, nhưng vấn đề nằm ở chỗ những loại thực phẩm như thế này được chế biến quá nhiều và dần dần xuất hiện trên thị trường. Đây không phải là hiện tượng mới, mà có lẽ chúng ta chỉ ngày càng nhận thức rõ hơn rằng những loại thực phẩm này, bắt đầu xuất hiện cách đây vài thập kỷ, nay đã dần dần tràn ngập thị trường. Hiện nay, chúng ta đã có các nghiên cứu về các tác động của loại thực phẩm này đối với sức khỏe. Trước tiên, các nghiên cứu khoa học đã cho thấy có những tác động gây tranh cãi, rồi sau đó là các nghiên cứu lâm sàng đang ngày càng được tiến hành nhiều về các tác động lên cơ thể con người và hệ thống y tế của chúng ta. Và các chuyên gia y tế cả chục năm nay đã cảnh báo về tác hại của loại thực phẩm không lành mạnh này đối với con người. RFI : Chúng ta có thể giải thích xu hướng đáng báo động này như thế nào và đâu là những lý do chính dẫn đến xu hướng tiêu dùng thực phẩm không lành mạnh ở Pháp ? Audrey Morice : Những lý do chính của thị trường thực phẩm không lành mạnh này, cũng giống như nhiều vấn đề khác có liên quan đến thực phẩm và sức khỏe, cần được xem xét từ phía các nhà cung ứng. Ngày nay, hầu hết cư dân đều có các nguồn cung cấp thực phẩm dễ tiếp cận về mặt địa lý, nghĩa là nói chung chỉ cần lái xe 5 phút là đến nơi. Nếu không phải quý vị đang sống ở các hòn đảo, thì chỉ cần lái xe 5-10 phút, hoặc nếu ở thành phố thì chỉ cần đi bộ vài trăm mét là có thể đến được một siêu thị, một cửa hàng tiện lợi. Những yếu tố thống lĩnh thị trường thực phẩm chính là các siêu thị và ngành chế biến thực phẩm. Vấn đề là ở chỗ những công ty này không tạo thuận lợi cho việc đưa các thực phẩm lành mạnh và bền vững đến người tiêu dùng. Trái lại, họ khuyến mại và hướng người tiêu dùng đến với những thực phẩm siêu chế biến. Hiện giờ cứ 10 sản phẩm bày bán trong siêu thị thì có tới 7 mặt hàng là thực phẩm không lành mạnh. Như vậy, vấn đề hiện nay thực sự nằm ở các nhà cung cấp hàng hóa cho thị trường : họ không cho phép mọi người ưu tiên tiêu thụ những sản phẩm tốt lành nhất. Ngoài ra ngày càng có nhiều chiêu quảng cáo và tiếp thị mạnh tập trung chủ yếu vào những sản phẩm ít có lợi cho sức khỏe của chúng ta. RFI : Đó là từ phía nhà cung cấp. Vậy còn về phía người tiêu dùng, cuộc khủng hoảng, lạm phát liệu có phải những yếu tố đẩy người tiêu dùng đến với loại thực phẩm rẻ tiền, không lành mạnh ? Audrey Morice : Dĩ nhiên là lạm phát có các tác động rõ rệt. Đó là làm tăng giá thực phẩm, điều này có nghĩa là thực sự tạo ra sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn thực phẩm và chắc chắn sẽ là sẽ gây trở ngại cho những người có ngân sách eo hẹp nhất, những người chịu cảnh sống bấp bênh nhất, khiến họ không được tiếp cận với các loại thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao. Tất nhiên là họ phải ưu tiên chọn mua những loại thực phẩm rẻ tiền, giàu năng lượng nhưng lại nghèo dinh dưỡng, ảnh hưởng tới khả năng tiêu dùng những thực phẩm lành mạnh hơn, như trái cây, rau củ, cá, hay các sản phẩm từ sữa … Mặc dù một số loại thực phẩm cơ bản đã thực sự trở nên không thể tiếp cận được và bị gạt khỏi danh sách mua sắm, chúng ta cũng có thể phối hợp, điều chỉnh, để cân bằng cả ngân sách và sức khỏe, bởi vì chúng ta biết rằng những người có điều kiện sống bấp bênh nhất cũng là những nạn nhân đầu tiên bị các căn bệnh liên quan đến chế độ ăn uống kém chất lượng. Ví dụ, chúng ta biết rằng tình trạng béo phì phổ biến gấp đôi ở những nhóm người khiêm tốn nhất về tài chính và đó chính là tổng hợp của sự bất bình đẳng : bất bình đẳng xã hội và bất bình đẳng về sức khỏe liên quan đến chế độ ăn uống. RFI : Nhóm người tiêu dùng nào ở Pháp mua nhiều thực phẩm không lành mạnh nhất ? Audrey Morice : Ngày nay, thực sự có yếu tố xã hội và yếu tố kinh tế. Có những hộ gia đình ở Pháp không đủ khả năng chi tiêu, đang phải giảm một phần ngân sách vốn dành để mua thực phẩm. Như vậy là có những người trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Trong những năm gần đây, chúng ta cũng chứng kiến cảnh hàng dài sinh viên xếp hàng trước những nơi phân phát thực phẩm cứu trợ, và chúng ta cũng đã thấy rằng số người phải nhận trợ thực giúp phẩm tăng bùng nổ. Thế những, ngoài yếu tố kinh tế và xã hội, có một thực tế là thực phẩm không lành mạnh cũng bán chạy nhờ quảng cáo và tiếp thị, và trẻ em là đối tượng đặc biệt bị ngành công nghiệp thực phẩm nhắm tới để bán các sản phẩm, ví dụ như đồ ăn nhẹ, soda hay kẹo. Đó là những sản phẩm đặc biệt thu hút các em. Tại Pháp, chúng ta biết rằng ngày nay nhiều trẻ em đang thừa cân, số này đang ngày càng tăng, nhưng các em vẫn tiêu thụ quá nhiều đồ ngọt. RFI : Food Watch France đã tiến hành một cuộc điều tra về hoạt động tiếp thị nhắm tới nhóm đối tương là trẻ em tại Pháp. Vậy theo bà, đâu là điều đáng lo ngại nhất, đáng báo động nhất ? Audrey Morice : Tiếp thị và quảng cáo nhắm vào trẻ em là vấn đề mà các chuyên gia y tế đã cảnh báo từ suốt gần 10 năm qua. Ngày nay, có nhiều hoạt động quảng cáo và tiếp thị mạnh mẽ nhắm vào trẻ em. Ngành công nghiệp thực phẩm nhắm vào những trẻ nhỏ tuổi nhất. Quảng cáo là để bán hàng, nhưng ngành công nghiệp thực phẩm lại sử dụng các nhân vật hoạt hình, những người có sức ảnh hưởng, những ngôi sao ca nhạc. Những ngôi sao này cũng có ảnh hưởng đến lựa chọn tiêu dùng của những các em ở lứa tuổi nhỏ. Trẻ em không nhận ra là có sự khác biệt giữa quảng cáo và thông tin đơn thuần. Bằng cách sử dụng các kỹ thuật tiếp thị đánh vào tâm lý, ngành công nghiệp thực phẩm đang cố gắng bán ngày càng nhiều sản phẩm và đa phần là các thực phẩm quá béo, quá ngọt, quá mặn, mà theo các chuyên gia không nên quảng cáo đến đối tượng trẻ em. Điều này có những hậu quả trực tiếp đến thói quen ăn uống của trẻ còn rất nhỏ tuổi, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, cả về sau trong suốt cuộc đời của các em. RFI : Vậy theo Food Watch France, đâu là những giải pháp để chống lại tình trạng thực phẩm không lành mạnh ở Pháp ? Audrey Morice : Trước hết, xin nhắc lại là các giải pháp đã được biết đến. Nhắc lại điều này là rất quan trọng. Đã có những giải pháp cụ thể để bảo đảm là thực phẩm lành mạnh, được lựa chọn kỹ càng, bền vững và phù hợp với túi tiền của tất cả mọi người. Trên thực tế, việc đầu tiên là phải buộc ngành công nghiệp thực phẩm và các nhánh ph
Tìm đến bãi biển để nghỉ ngơi thư giãn là một trong những lựa chọn quen thuộc cho những kỳ nghỉ ngày nay tại Pháp. Với những địa phương có đường bờ biển, đặc biệt là biển nước ấm, tăng trưởng kinh tế dựa vào du lịch biển chiếm tỉ trọng đáng kể. Nhiều nơi, hoạt động khai thác bờ biển định hình cảnh quan, quy hoạch của toàn vùng. Để hiểu hơn về quy hoạch vùng biển phục vụ hoạt động nghỉ dưỡng tại châu Âu, RFI tiếng Việt có cuộc trao đổi với kiến trúc sư quy hoạch Bùi Uyên, cũng là cộng tác viên của đài. RFI : Hoạt động nghỉ dưỡng ở bãi biển có từ khi nào ? KTS Bùi Uyên : Ngày nay, phần lớn du khách ưa thích ngâm mình trong làn nước ấm áp của những bãi biển ngập nắng miền Nam bên bờ Địa Trung Hải, hơn là dọc những vùng duyên hải lộng gió eo biển Manche. Nhưng chính nước Anh mới là nơi ra đời hoạt động nghỉ dưỡng bãi biển. Xuất phát điểm là những khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng, trị liệu, được xây dựng từ đầu thế kỷ 18, dần dần hình thành những thành phố nghỉ dưỡng bên bờ biển thu hút khách du lịch, đánh dấu bước ngoặt lớn trong tương tác với tài nguyên biển. Thời điểm đó, nước biển được sánh ngang nước khoáng trong vai trò trị liệu. Tắm biển, trước hết, là một liệu pháp chăm sóc sức khỏe. Để phục vụ hoạt động nghỉ dưỡng, chữa bệnh này, những đường dạo ven biển và những khu đô thị dần dần mọc lên. Nhờ có trao đổi qua lại giữa hai bờ eo biển Manche mà xu hướng này lan dần sang những vùng ven biển Normandie của Pháp. Những thành phố du lịch nghỉ dưỡng đầu tiên phải kể đến Dauville, Trouville, Cabourg, đặc biệt nở rộ nhờ có phát triển ngành đường sắt vào giữa thế kỷ 18 khiến việc tiếp cận các khu nghỉ ven biển dễ dàng hơn đáng kể. Ban đầu, những khu đô thị mới này dành cho tầng lớp thượng lưu, tách biệt khỏi những khu làng chài cổ vốn quay lưng ra biển, chỉ khai thác nghề đánh bắt hải sản. RFI : Đô thị du lịch biển phải chăng là tác nhân làm thay đổi sâu sắc cảnh quan các vùng duyên hải ? KTS Bùi Uyên : Đúng, quy hoạch khai thác bờ biển như một điểm đến du lịch, với mô hình những khu phức hợp nghỉ dưỡng, dịch vụ giải trí, từ sức khỏe đến sòng bạc, đã được ra đời như một loại hình đầu tư tư nhân thu lợi nhuận cao. Dần dần, bờ biển trở thành một bộ phận của quy hoạch đô thị và chính sách công về phát triển du lịch biển và kinh tế địa phương. Ban đầu, ngay khi được khai thác du lịch, cảnh quan biển tự nhiên phần cốt yếu vẫn là để chiêm ngưỡng, đi dạo thư giãn hơn là nơi để bơi lội. Trên tầm thế giới, khái niệm nghỉ mát mùa hè trên những bãi biển chỉ ra đời vào đầu thế kỷ 20. Phải kể đến khái niệm 3S « Sun - Sand – Sea » ra đời trên quần đảo Hawaii rồi lan sang dải bờ biển bang Floride của Mỹ. Với trào lưu này, những vùng biển ấm nóng trở thành nơi để thư giãn, giải phóng cơ thể, hòa mình trong nắng, cát và nước biển. Tại châu Âu, loại hình tắm biển này bắt đầu xuất hiện bên bờ Địa Trung Hải vào những năm 30 của thế kỷ trước. Đầu tiên phải kể đến bờ biển nghỉ mát vùng Côte d’Azur, miền nam Pháp. Theo năm tháng, danh tiếng của khu bờ biển này ngày càng thu hút tầng lớp khá giả, giới thượng lưu, văn nghệ sỹ, không những trong nước mà cả ở tầm thế giới. Để kéo dài hoạt động giải trí mang lợi ích kinh tế chủ chốt, các thành phố ven biển dần đa dạng hóa các hoạt động sang các mùa khác trong năm. Như các thành phố Nice, Cannes của Pháp mở đón những sự kiện văn hóa nghệ thuật quốc tế, mà nổi bật nhất là Liên hoan phim Cannes tháng 5 hàng năm, khai mạc lần đầu tiên năm 1946. Những khu nhà ở theo mùa hoặc dài hạn cả năm cũng được xây dựng khắp nơi, mời gọi những người có khả năng tài chính sở hữu những căn hộ, biệt thự nghỉ mát mùa hè. RFI : Pháp tìm sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường biển tự nhiên như thế nào ? KTS Bùi Uyên : Trong suốt các thập niên nửa cuối thế kỷ 20, khắp dọc các bờ biển, hàng loạt các khu tổ hợp giải trí, khách sạn, từ sang trọng cho đến bình dân mọc lên, biến một vùng biển thành điểm đến nghỉ mát mới. TIếp nối Côte d’Azur, khu vực phía tây nam cũng mọc lên những thành phố nghỉ mát nổi tiếng, kéo dài từ Perpignan qua Narbonne, đến Montpellier. Không chỉ khai thác thế mạnh hơn 1600 km đường bờ biển Địa Trung Hải, các dải bờ Đại Tây Dương cũng không ngừng thu hút du khách lũ lượt đổ về bốn mùa trong năm. Nhận thấy nguy cơ từ tốc độ phát triển đô thị biển ồ ạt này, một bộ luật chuyên về các vùng lãnh thổ ven biển được ra đời năm 1985. Bộ luật này được soạn thảo với mục đích quản lý quy hoạch, bảo vệ và gìn giữ giá trị các vùng tiếp giáp biển này. Chính nhờ có chính sách quản lý từ sớm, nên tuy là một quốc gia có nhiều lợi thế về đường bờ biển, Pháp vẫn song song vừa khai thác du lịch, nhưng vẫn giữ lại được phần lớn đường bờ biển tự nhiên đa dạng về cảnh quan, cũng như sinh quyển. Những ngôi làng cổ như Eze cheo leo trên mỏm núi đá chiếm trọn tầm nhìn xuống bờ biển, ngay sát những đô thị du lịch sầm uất từ Monaco đến Cannes. Hay một làng Saint-Tropez sang chảnh bậc nhất vẫn giữ nét xưa, không xa bãi tắm Lavandou thanh bình với hàng kilometre bờ biển tự nhiên cát mịn. Còn nếu mê ngắm nhìn những đàn hồng hạc thì không thể bỏ qua khu đầm sinh quyển Carmague rộng gần 200 ngàn hecta ngay bên bờ biển, nằm giữa trục đường nối những bến cảng biển Marseille nhộn nhịp với thành phố Montpellier ngập nắng. Khách du lịch có thể tự do nằm dài phơi nắng trên những ghế ngả thư giãn, hay chọn những chuyến dạo bộ hàng giờ dọc theo đường dạo tự nhiên vắt qua những khu bảo tồn thiên nhiên hay di tích cổ. Dù nghỉ ngơi theo cách nào, thì du khách cũng có thể dừng chân bơi lội bất kỳ đâu,dù bãi biển đông đúc bên những nhà hàng sang trọng hay vắng vẻ nơi vách núi hoang sơ. RFI : Còn tại Tây Ban Nha, chính quyền quy hoạch bờ biển thành không gian công cộng trụ cột của đô thị du lịch tại Tây Ban Nha. Chị có thể giải thích thêm ? KTS Bùi Uyên : Với chính sách coi đường bờ biển trước hết là không gian công cộng, nước láng giềng Tây Ban Nha của Pháp cũng sớm có bộ luật vùng duyên hải từ năm 1969. Với hơn 2000km riêng phần đường bờ biển Địa Trung Hải và gần như nắng ấm quanh năm, Tây Ban Nha xây dựng hình mẫu phân tầng không gian và thiết kế cảnh quan công cộng bờ biển một cách bài bản. Theo hình mẫu này, một dải không gian trống, rộng lớn dao động từ 50-100m chiều ngang được quy hoạch men theo hàng kilometre đường bờ biển. Ở đó, đường xe cơ giới tiếp cận những bãi đỗ xe nổi hoặc ngầm, với vỉa hè thoáng đãng rợp bóng cây. Lớp không gian tiếp theo dải đường bộ này là chuỗi xen kẽ giữa những vườn hoa cảnh quan và các khu vui chơi trẻ em rộng lớn. Cuối cùng là tầng không gian bờ nước, một đường đi bộ rộng viền theo những bãi cát, dành cho hoạt động tắm biển và thể thao trên cát có thể rộng 100-200m. Trên dọc đường biển Địa Trung Hải thuộc Tây Ban Nha, dễ dàng gặp cấu trúc cảnh quan này ở các thành phố nghỉ mát lớn nhỏ. Với phân bố không gian công cộng trung tâm theo tuyến, lấy bờ biển là trung tâm, các thành phố ven biển ở đây định hình cấu trúc hoàn toàn khác biệt với những đô thị sâu trong đất liền xây dựng bao bọc quanh lõi trung tâm là khu phố, nhà thờ cổ. RFI : Tình hình tại Ý, một quốc gia cũng nổi tiếng với du lịch biển, thì sao ? Có gì khác với Pháp và Tây Tây Nha ? Dường như đó là một « cuộc chiến » giữa tư hữu hóa giàu lợi nhuận với đòi hỏi quyền tiếp cận cho toàn dân ? KTS Bùi Uyên : Trái ngược với Pháp và Tây Ban Nha sớm luật hóa việc quản lý đường bờ biển, nước láng giềng Ý, cũng sở hữu thế mạnh du lịch biển nức tiếng thế giới, lại có phần nới lỏng hơn. Với hơn 7600km đường bờ biển, nước Ý lại không có khung luật về quản lý khai thác du lịch ven biển. Đó có lẽ là lý do mà khoảng 50% các bãi biển nằm dưới sự quản lý của các công ty tư nhân. Thường là những bãi biển đẹp nhất và dễ tiếp cận nhất, trong các vùng du lịch nổi tiếng. (3) Nhiều vùng, tỉ lệ bãi biển tư nhân lên tới 70-90%. Trong khi đó, các bãi biển công cộng miễn phí (spiaggia libera) thường bị thu hẹp, ít được bảo trì, nên thường quá tải, nhiều chỗ không đảm bảo vệ sinh. Trên các bãi biển do tư nhân vận hành, các dịch vụ chính là cung cấp ghế nằm, dù che nắng, nhà hàng … Các bãi biển này mang lại trải nghiệm sạch sẽ, tiện nghi hơn nhưng có thu phí sử dụng trung bình 15e/ ngày/ người. Loại hình dịch vụ này không những mang lại một nguồn thu ngân sách lớn hàng tỷ euro mỗi năm, đóng góp vào tỉ lệ 10.8% PIB từ du lịch, lại giảm tải chi phí nhà nước cho bảo trì các bãi biển và tạo hàng ngàn việc làm trong ngành dịch vụ này. Một đặc thù ở đây là hợp đồng cấp phép được gia hạn lại và truyền từ đời này qua đời khác trong các tập đoàn gia đình, mà không cần qua đấu thầu lại. Mô hình này gây tranh cãi do thiếu minh bạch, đây cũng là yêu cầu cải cách của Uỷ Ban Châu Âu với chính phủ Ý từ nhiều năm nay. Chỉ đến cuối năm 2024, chính quyền của thủ tưởng Meloni cuối cùng mới chấp nhận áp dụng việc mở đấu thầu tự do các hợp đồng quản lý bãi biển. Các chủ quán lý hiện thời sễ tiếp tục đến cuối 2027, sau đó sẽ phải đấu thầu lại. Việc để tư nhân quản lý bãi biển dẫn đến một bất cập khác là quyền tiếp cận biển tự do bị hạn chế. Tuy theo quy định tại đây, các bãi biển quản lý tư nhân phải dành 20-30% diện tích cho người dân được sử dụng miễn phí, nhưng nhiều nơi, khu vực này bị quây rào thành từng ô nhỏ, giữa bốn bề là những khu vực bãi cát thu phí. « Ra biển là để được cảm thấy dễ chịu. Khi tôi ở trên bãi biển, tôi muốn tận hưởng đường chân trời 180° chứ không phải bị nhốt trong một cái chuồng gà », Stefano Salvetti - một nhà hoạt động vì những bãi biển công cộng phát biểu. Trong cuộc phỏng vấn trên bờ biển Gêne, Davide Loreda, một người dân vùng Gêne, 39 tuổi, phát biểu « tôi không nói rằng phải xóa bỏ hết các bãi biển tư nhân, nhưng phải để (người dân) có sự lựa chọn. Bạn hãy tưởng tượng sổng ở bên bờ biển mà không thể tiếp cận nó ? Thật là kinh khủng ». Còn Mario Mascia cũng đồng tình : « Ttiếp cận biển không thể chỉ giới hạn cho ai có điều kiện. Nhất là ngày nay với khủng hoảng mà chúng ta đang trải qua, các gia đình có ngân sách ngày càng hạn hẹp hơn » (3). Do đó, cuộc đấu tranh đòi tăng số bãi biển công cộng kéo dài hàng thập kỷ, nhờ những tổ chức hội nhóm của
Sau đảng sức mạnh quốc dân, đến lượt đảng Dân Chủ cầm quyền phải đối mặt với những cáo buộc tham nhũng và thông đồng với Giáo hội Thống nhất, còn gọi là “giáo phái Moon”. Ngày 11/12/2025, bộ trưởng Đại dương và Thủy sản Chun Jae Soo tuyên bố từ chức vì bị cáo buộc nhận hối lộ từ giáo phái đầy ảnh hưởng này. Quy mô mối liên hệ giữa các chính trị gia và giáo phái Moon không ngừng được tiết lộ kể từ khi người đứng đầu bị bắt tháng 09/2025. Bà “trùm” Han Hak Ja, vợ của nhà sáng lập Moon, đang bị xét xử vì tặng quà hối lộ cựu đệ nhất phu nhân Hàn Quốc Kim Keon Hee. Trong chính quyền của tổng thống Lee Jae Myung hiện nay, bộ trưởng Đại dương và Thủy sản Chun Jae Soo đã từ chức sau khi bị cáo buộc nhận hơn 17.000 euro tiền mặt và hai chiếc đồng hồ xa xỉ từ Giáo hội Thống nhất trong thời gian còn là nghị sĩ. Bộ trưởng Thống Nhất Hàn Quốc cũng bị cáo buộc nhận hối lộ nhưng không từ chức. Những tai tiếng này tác động đến giai đoạn đầu nhiệm kỳ của tổng thống Lee Jae Myung, người vẫn kiên quyết lên án ảnh hưởng của nhóm tôn giáo này trong chính trường Hàn Quốc. Theo một số nguồn tin, người đứng đầu nhà nước đang cân nhắc việc giải tán Giáo hội Thống nhất, giống như phán quyết của tòa án Nhật Bản tháng 03/2025. Chính đảng nào cũng dính líu đến Giáo hội Thống nhất Ngày 10/12/2025, Cảnh sát Hàn Quốc lập tổ điều tra chuyên trách 23 người và bắt đầu mở hồ sơ điều tra các nghi vấn Giáo hội Thống nhất đưa tiền - quà cho chính trị gia sau khi tiếp nhận tài liệu chuyển giao từ phía công tố viên đặc biệt. Đến 9 giờ sáng 15/12, cảnh sát tiến hành khám xét đồng loạt 10 địa điểm - từ trụ sở giáo hội, nhà riêng và văn phòng của cựu bộ trưởng Hải dương và Thủy sản Chun Jae Soo cùng một số cựu nghị sĩ, cho tới các khu vực liên quan. Điều này cho thấy vụ việc đã chuyển sang giai đoạn cưỡng chế quy mô lớn. Điều tra cũng nhắm thẳng vào “tầng cao nhất” khi bà Han Hak Ja bị đưa sang tư cách bị can, trong bối cảnh cảnh sát chạy đua với thời hiệu truy tố của các cáo buộc phát sinh từ giai đoạn trước và sau năm 2018. Ngoài cựu bộ trưởng Hải Dương, hồ sơ điều tra cho thấy mạng lưới quan hệ chính trị của Giáo hội Thống nhất trải rộng trên cả hai phe, với nhiều nhân vật có chức danh rõ ràng. Phía đảng Dân Chủ có Chun Jae Soo, Lim Jong Seong (cựu nghị sĩ đảng Dân Chủ), cùng một số chính trị gia từng tham dự hoặc liên quan đến các sự kiện do giáo hội hậu thuẫn trong giai đoạn 2018-2020. Ở phe bảo thủ, nổi bật là Kim Gyu Hwan (cựu nghị sĩ đảng Hàn Quốc Tự Do, hiện là lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước), Kwon Seong Dong (nghị sĩ đảng Quyền Lực Nhân Dân, từng bị nhắc đến trong các nghi vấn liên quan đến tài trợ chính trị), cũng như các nhân vật thân cận quanh cựu tổng thống Yoon Suk Yeol và cựu đệ nhất phu nhân Kim Keon Hee trong các hồ sơ tiếp xúc - vận động. Đáng chú ý, Giáo hội Thống nhất từng tìm cách tiếp xúc với tổng thống đương nhiệm Lee Jae Myung chủ yếu thông qua các kênh trung gian, sự kiện tôn giáo - xã hội và những sáng kiến mang danh nghĩa “hòa bình” hoặc “hợp tác quốc tế”. Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy tổng thống Lee trực tiếp tiếp nhận tài trợ, quà tặng hay tham gia các thỏa thuận chính trị với giáo hội. Việc cùng lúc tiếp cận chính trị gia thuộc cả đảng Dân Chủ lẫn đảng Quyền Lực Nhân Dân cho thấy chiến lược quen thuộc của Giáo hội Thống nhất : Không “đặt cược” vào một phe duy nhất, mà nuôi dưỡng quan hệ song song để duy trì ảnh hưởng lâu dài, bất kể cán cân quyền lực chính trị thay đổi ra sao. Cuộc tranh cãi gay gắt giữa hai đảng về việc ai có quyền chỉ định công tố viên đặc biệt lại càng cho thấy vụ việc đã vượt khỏi khuôn khổ một cuộc điều tra hình sự thông thường. Khi quyền đề cử công tố viên đặc biệt trở thành điểm nóng chính trị, điều đó phản ánh nỗi lo chung rằng bất kỳ phe nào nắm quyền chỉ định cũng có thể kiểm soát hướng đi của cuộc điều tra, từ phạm vi truy cứu đến đối tượng bị gọi tên. Chính sự giằng co này vô tình chứng minh một thực tế đáng lo ngại : Mối quan hệ giữa Giáo hội Thống nhất và chính trị không còn là vấn đề của riêng một đảng, mà là một mạng lưới chằng chịt có khả năng tác động đến cả hệ thống quyền lực. Nói cách khác, khi cả hai phe đều dè chừng một cuộc điều tra “không nằm trong tay mình”, điều đó cho thấy quy mô và mức độ đan xen của vụ việc đã đủ lớn để không phe nào có thể đứng ngoài. Tiền, quyền nấp sau vỏ bọc tín ngưỡng Dù nhiều chính trị gia có liên quan thường được lý giải bằng yếu tố mê tín hay niềm tin tôn giáo, nhưng nhìn sâu hơn, đó chỉ là lớp vỏ bề ngoài. Thực tế, điều kéo họ lại gần Giáo hội Thống nhất vẫn là tiền bạc, quyền lực và những lợi ích hữu hình : từ tài trợ chính trị, hậu thuẫn tổ chức, cho đến các món quà xa xỉ và cơ hội ảnh hưởng lâu dài. Trong một cấu trúc mà tôn giáo được vận hành như một tập đoàn quyền lực, niềm tin cá nhân trở nên thứ yếu so với trao đổi lợi ích. Và chính sự kết hợp giữa tham vọng chính trị với nguồn lực tài chính - xã hội khổng lồ ấy mới là chất keo thật sự gắn kết giáo hội và giới quyền lực, chứ không đơn thuần là đức tin. Mặc dù Hàn Quốc được xem là một quốc gia theo mô hình xã hội dân sự, không có quốc giáo và đề cao tính thế tục của nhà nước, nhưng mê tín và niềm tin siêu hình vẫn tồn tại sâu rộng trong đời sống xã hội. Trên thực tế, Hàn Quốc hiện có hơn 100 tôn giáo và hệ phái khác nhau, từ các tôn giáo truyền thống đến những phong trào tôn giáo mới và các hình thức tín ngưỡng dân gian. Sự đa dạng này phản ánh nhu cầu tinh thần phức tạp của xã hội, nhưng đồng thời cũng tạo ra không gian cho mê tín và các niềm tin thiếu cơ sở khoa học phát triển. Trong nhiều trường hợp, ranh giới giữa tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín bị xóa nhòa, khiến niềm tin cá nhân dễ dàng chuyển hóa thành sự lệ thuộc tinh thần. Chính bối cảnh đó đã khiến mê tín không chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn trở thành một yếu tố có khả năng tác động đến cả đời sống chính trị và quyền lực công tại Hàn Quốc. Ảnh hưởng của Giáo hội Thống nhất Trong mối quan hệ chằng chịt giữa chính trị, tôn giáo, tiền bạc và quyền lực, Giáo hội Thống nhất nổi lên thành điểm giao cắt trung tâm. Giáo hội Thống nhất (tên chính thức Liên hiệp Gia đình Thế giới vì Hòa bình và Thống nhất) là phong trào tôn giáo do Moon Sun Myung (문선명) thành lập năm 1954 tại Hàn Quốc; hiện do Han Hak Ja (한학자) - vợ Moon - lãnh đạo và còn được gọi là “giáo phái Moon”. Tổ chức này được biết đến rộng rãi qua các lễ kết hôn tập thể quy mô lớn và từng gây tranh cãi khi bị chỉ trích phớt lờ các quy định phòng dịch trong giai đoạn Covid-19. Tuy nhiên, tâm điểm không chỉ nằm ở hoạt động tôn giáo trong nước, mà còn ở việc giáo hội thiết lập và duy trì các mạng lưới ảnh hưởng chính trị - kinh tế vượt ra ngoài biên giới Hàn Quốc, đặc biệt tại Nhật Bản, Hoa Kỳ và một số quốc gia khác. Tại Nhật Bản, Giáo hội Thống nhất xem đất nước này là “mỏ tiền” lớn nhất nhờ mạng lưới tín đồ đông và các hoạt động gây quỹ gây tranh cãi, đồng thời duy trì quan hệ lâu dài với giới chính trị bảo thủ để mở rộng ảnh hưởng. Từ thập niên 1960, giáo hội đã xây dựng quan hệ mật thiết với giới chính trị bảo thủ, đặc biệt là đảng Dân Chủ Tự Do (LDP), bắt đầu từ mối quan hệ giữa nhà sáng lập Moon Sun Myung và cựu thủ tướng Kishi Nobusuke - ông ngoại của cố thủ tướng Abe Shinzo. Sau vụ ông Abe bị ám sát, các mối liên hệ này bị phanh phui khiến giáo hội đối mặt sức ép pháp lý và tài chính, làm nguồn lực từ Nhật suy yếu. Ở Mỹ, giáo hội chọn con đường quyền lực mềm : xây dựng quan hệ với phe bảo thủ, truyền thông và các diễn đàn quốc tế để tạo tính chính danh và mở cửa tiếp cận chính trị gia cấp cao. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, giáo hội tự coi mình là đồng minh chống cộng sản, qua đó tiếp cận chính giới bảo thủ Mỹ từ thập niên 1960-1970. Về sau, giáo hội tiếp tục duy trì ảnh hưởng thông qua các hội nghị quốc tế, tổ chức “thượng đỉnh hòa bình”, mời gọi các chính khách. Kinh doanh tín ngưỡng Hiện nay, Giáo hội Thống nhất không chỉ tồn tại như một tổ chức tôn giáo mà còn sở hữu một hệ thống tài sản rộng lớn gồm : quần thể tôn giáo - bất động sản quy mô lớn tại Hàn Quốc (như các khu cung điện ở Gapyeong), mạng lưới doanh nghiệp và tập đoàn liên kết (thực phẩm, du lịch, xây dựng), cơ sở giáo dục (trường học, đại học), các tổ chức văn hóa-xã hội-hòa bình quốc tế, cùng tham vọng ảnh hưởng truyền thông. Song song với đó là tầm nhìn chiến lược mang tính chính trị-địa kinh tế, thể hiện qua các dự án như vận động đặt Văn phòng Liên Hiệp Quốc thứ 5 tại Hàn Quốc, phát triển vùng Mekong ở Cam Bốt thông qua cho vay vốn ODA và bất động sản, dự án hầm ngầm Hàn-Nhật, hay ý đồ thâu tóm kênh truyền hình YTN để gia tăng quyền lực truyền thông. Chính vì quy mô tài sản lớn và các dự án xuyên quốc gia như vậy, Giáo hội Thống nhất cần gắn kết chặt với chính trị nhằm đạt được ưu đãi thuế, thuận lợi về cấp phép - quy hoạch - ODA, bảo vệ tính chính danh pháp lý và xã hội, cũng như đảm bảo các dự án chiến lược được hậu thuẫn ở cấp nhà nước. Vụ việc liên quan đến Giáo hội Thống nhất cho thấy khi một tổ chức tôn giáo vận hành như một tập đoàn quyền lực với tài sản khổng lồ và tham vọng chính trị xuyên quốc gia, ranh giới giữa tín ngưỡng và lợi ích rất dễ bị xóa nhòa. Trường hợp của giáo phái Moon không chỉ là câu chuyện mê tín hay niềm tin cá nhân, mà là cơ chế trao đổi tiền - quyền - ảnh hưởng đã ăn sâu vào cấu trúc chính trị. Nghi vấn không chỉ là ai sai phạm, mà liệu rằng Hàn Quốc có đủ quyết tâm đưa ra cơ chế để cắt đứt mối liên kết giữa chính trị và nhóm kinh doanh tôn giáo để không còn xảy ra các vụ việc tương tự như vụ việc lần này hay không ?
Sự xuất hiện gian hàng Shein, nền tảng Trung Quốc về thương mại trực tuyến giá rẻ, ngay tại trung tâm thương mại sang trọng giữa lòng Paris, trong bối cảnh hàng giá rẻ Trung Quốc ồ ạt đổ vào thị trường Pháp, tác động đến các nhà sản xuất trong nước, dường như là « giọt nước làm tràn ly ». Chính quyền Pháp dồn lực phản công, kêu gọi Ủy Ban Châu Âu và các thành viên khác trong toàn Liên Âu « chung tay góp sức » chống Shein trên quy mô toàn khối. Sự kiện cũng cho thấy chính quyền Pháp dường như « bất lực », trong khi châu Âu thì không mấy « mặn mà » tham gia cuộc chiến của Paris chống Shein. Cuộc chạy đua với thời gian để cản « cơn sóng thần » Shein Tại Pháp, từ đầu tháng 11/2025, Shein, gã khổng lồ thời trang « siêu nhanh, giá rẻ », « made in China » bỗng dưng trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của công luận. Không chỉ các hiệp hội bán lẻ, các nhóm người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, mà cả các thành viên chính phủ Pháp cũng kêu gọi đóng cửa khu bán hàng của Shein, thậm chí cấm nền tảng Shein tại Pháp, vì nhiều lý do như hàng chất lượng kém, nguy hiểm, và đôi khi là tính bất hợp pháp của một số sản phẩm được bán trên nền tảng này, ví dụ như búp bê tình dục mang khuôn mặt trẻ em hay vũ khí … Không phải vô cớ mà chính quyền Pháp dồn dập « muốn siết chặt gọng kìm » quanh Shein. Trên thực tế, các gói hàng giá rẻ của Shein đã tràn vào Pháp nói riêng và Liên Hiệp Châu Âu nói chung trong thời gian gần đây. Theo AFP, trong năm 2024, khoảng 4,6 tỷ gói hàng trị giá dưới 150 euro đã được nhập khẩu vào châu Âu từ Trung Quốc, tương đương gần 150 gói hàng mỗi giây đồng hồ. Theo đà này, số gói hàng được miễn thuế nhập khẩu, sẽ tăng gấp đôi cứ sau 2 năm. Riêng về Pháp, Le Figaro ngày 05/11/2025 nhắc lại là chủ tịch - tổng giám đốc Bưu Điện Pháp, khi đó là Philippe Wahl, hồi tháng 10/2024 từng lưu ý rằng Temu và Shein chiếm 22% số kiện hàng do Bưu Điện Pháp xử lý, so với tỉ lệ dưới 5% vào 5 năm trước đó. Ngoài việc gây tổn hại đến thương mại Pháp, cơn sóng thần hàng giá rẻ Trung Quốc tràn đến còn đặt ra vấn đề về sự tuân thủ các tiêu chí của châu Âu, vốn nổi tiếng là nghiêm ngặt về chất lượng và tính an toàn để bảo vệ người tiêu dùng. Vào tháng 04/2025, Amélie de Montchalin, bộ trưởng Tài Chính Công, đã chỉ ra rằng vào năm 2024, 800 triệu gói hàng nhỏ được nhập khẩu vào Pháp là qua các nền tảng mua sắm của châu Á, và « 94% số kiện hàng này » ẩn chứa những nguy cơ « về an toàn » và 66% là mối nguy hiểm trực tiếp cho người tiêu dùng. Chính phủ của thủ tướng François Bayrou khi đó đã phát động một chiến dịch kiểm tra lớn vào ngày 29/04 tại sân bay Roissy-Charles-de-Gaulle, ngoại ô Paris, và tuyên bố sẽ tăng gấp 3 lần các biện pháp kiểm soát hải quan, tăng dần theo từng giai đoạn trong vòng 4 năm và cải thiện các biện pháp an ninh. Các cơ quan phòng chống gian lận cũng được huy động. Alice Vilcot-Dutarte, phát ngôn viên của Cơ quan quản lý cạnh tranh, tiêu thụ và trấn áp gian lận của Pháp (DGCCRF), khẳng định : « 16 nền tảng nước ngoài liên quan đến hơn 40 triệu người tiêu dùng sẽ được kiểm tra trong năm 2025 ». Để chống lại làn sóng hàng giá rẻ, chính phủ Pháp chủ yếu dựa vào dự luật tạo ra một loại phí gọi là « phí xử lý », đối với mỗi gói hàng nhỏ nhập khẩu vào châu Âu, bắt đầu từ năm 2026, để tài trợ cho hoạt động kiểm tra hàng hóa của hải quan. Khoản phí 2 euro cho mỗi gói hàng này sẽ do các nền tảng bán hàng trực tuyến chi trả. Liên Hiệp Châu Âu cũng đồng quan điểm : khoản đóng góp 2 euro/gói hàng này đẩy nhanh việc đặt dấu chấm hết cho quy định miễn thuế quan đối với các kiện hàng dưới 150 euro. Tuy nhiên, khoản tiền 2 euro, do cả chính quyền Pháp và châu Âu đề xuất, đều gây ra nhiều tranh cãi : ví dụ theo Hiệp hội Công nghiệp Đồ chơi Châu Âu, khoản phí nhỏ này chỉ mang tính biểu tượng và không hiệu quả, không đủ để bảo vệ người tiêu dùng và các doanh nghiệp Châu Âu. Pháp hối thúc Liên Âu « chạy đua với thời gian » Trong phiên điều trần trước Ủy ban Kinh tế của Thượng Viện Pháp ngày 05/11/2025, bộ trưởng Kinh Tế Roland Lescure đã nhấn mạnh về những khó khăn trong việc bảo vệ các nhà bán lẻ Pháp trước các nền tảng thương mại điện tử giá rẻ của nước ngoài như Shein. Ông đặt cược vào giải pháp ở cấp độ Liên Hiệp Châu Âu chứ không phải chỉ ở cấp độ quốc gia : « Đây là một vấn đề không dễ giải quyết. Chúng ta không có cây đũa thần để chỉ cần nói « chúng ta cấm các nền tảng thương mại điện tử » là mọi việc được giải quyết ngay đâu. Cá nhân tôi thì khá phân vân về việc cấm hoàn toàn thương mại điện tử đó, bởi vì rõ ràng, dù đây là một nghịch lý, nhưng ngày nay, thương mại điện tử cũng góp phần duy trì sự phát triển của các địa phương (…) Thế nên, cũng cần phải thận trọng. Nhưng đúng là những gã khổng lồ (ý nói đến các nền tảng thương mại điện tử kiểu như Shein) có khả năng thay đổi bộ sưu tập mỗi ngày, bán ra các sản phẩm với mức giá thách thức mọi đối thủ. Thực chất là họ đang giết chết cạnh tranh, nên chúng ta phải làm được điều gì đó. Và đúng, vấn đề chính là ở cấp độ Liên Hiệp Châu Âu. Và hôm nay, theo yêu cầu của thủ tướng, tôi cùng với đồng nhiệm Anne Le Henanf (bộ trưởng đặc trách về trí tuệ nhân tạo và công nghệ số, thuộc bộ Kinh tế, Tài chính và Chủ quyền công nghiệp, năng lượng và kỹ thuật số) đã quyết định viết thư gửi Ủy Ban Châu Âu. Quả thực là đã đến lúc. Đây là một vấn đề lập pháp. Chỉ trong vòng 48 giờ đồng hồ, một nền tảng (ý nói đến Shein) đã 2 lần liên tiếp vi phạm pháp luật. Luật mà quý vị đã thông qua về các dịch vụ kỹ thuật số - đặc biệt là liên quan đến việc bán hoặc quảng bá nội dung có tính chất khiêu dâm, khủng bố hoặc buôn bán ma túy (…) quy định là bắt buộc sau tối đa 24 giờ đồng hồ, đương sự phải gỡ bỏ các nội dung vi phạm. Thế nhưng, bất chấp quy định, chúng ta đều thấy rằng các nội dung như vậy vẫn xuất hiện. Còn về vấn đề vũ khí, có một luật khác cho phép xử lý : họ có tối đa 48 giờ đồng hồ để gỡ bỏ nội dung. Trước 2 hành vi rõ ràng là vi phạm quy định chỉ trong chưa đầy 48 giờ đồng hồ, thủ tướng đã quyết định khởi động thủ tục tạm đình chỉ hoạt động (của nền tảng Shein). Chúng ta sẽ tiến hành thủ tục, nhưng không thể một cách tùy tiện (…) và nếu muốn giải quyết vấn đề này một cách bền vững, thì phải xử lý ở cấp độ Liên Hiệp Châu Âu. Đồng thời, đơn giản là chúng ta cũng cần bắt họ trả phí. Chúng ta sẽ thông qua một khoản thuế nhỏ - 2 euro cho mỗi gói hàng ». Liên quan đến đề xuất áp thuế 2 euro/gói hàng còn đang gây nhiều tranh cãi, bộ trưởng Kinh Tế Pháp giải thích : « Không thể cao hơn được, vì nếu chúng ta làm điều đó chỉ ở cấp độ quốc gia, thì chưa nói đến việc Liên Âu phản đối, mà ví dụ nếu chúng ta áp thuế tới 20 euro/gói hàng, thì hàng hóa sẽ ngay lập tức được chuyển đi vòng qua ngả Munich, Frankfurt, Milan hay nơi khác. Chừng nào vẫn còn người đặt hàng, thì hàng vẫn sẽ tiếp tục được chuyển đến. Và nếu những gói hàng đó vẫn được chuyển đến đất nước chúng ta, thì tôi xin nhấn mạnh là cần bảo đảm là Bưu Điện Pháp phải có lợi nhuận từ việc này. Bởi vì nếu ngành bưu điện Pháp không thu được tiền từ các gói hàng đó, thì trước hết mô hình kinh tế của họ sẽ bị suy yếu nghiêm trọng trong khi hàng vẫn sẽ tiếp tục lọt vào nước Pháp. (…) Do đó xin đừng chĩa súng bắn thẳng vào ngành bưu điện. Hoạt động chuyển hàng hóa giúp bưu điện có doanh thu, điều rất đáng hoan nghênh trong bối cảnh các hoạt động khác của ngành bưu điện đang suy giảm mạnh. Nếu bưu điện không làm việc này, thì cũng sẽ có người khác làm. Vì vậy, về điểm này, tôi thực sự kêu gọi chúng ta nên thận trọng. Điều đó không có nghĩa là chúng ta không cần giải quyết vấn đề, nhưng cũng không phải bằng cách đổ lỗi cho bưu điện hay cho phi trường Charles de Gaulle. Cần phải giải quyết ở cấp độ châu Âu, và chúng tôi sẽ làm vậy. Thực ra, tôi cũng xin nói là họ (tức là các nền tảng thương mại điện tử lớn) đang giúp chúng ta một chút, bởi vì với những gì họ đã làm trong mấy ngày qua, chúng ta đang có trong tay những lý lẽ rất mạnh để trình lên Ủy Ban Châu Âu, và chúng ta sẽ làm điều đó ». Một số chuyên gia hay các nhà quản lý, ví dụ Alexandre Bompard, tổng giám đốc điều hành hệ thống siêu thị Carrefour, đã ủng hộ « một mức thuế kiểu Trump, ở mức 100% giá trị gói hàng ». Trên thực tế, Hoa Kỳ đã siết chặt các biện pháp kiểm soát. Chính quyền Trump hồi tháng 05/2025 đã bãi bỏ quy định miễn thuế đối với các gói hàng trị giá dưới 800 đô la. Cùng với việc tăng thuế đối với hàng hóa Trung Quốc, biện pháp nói trên được cho là đã phát huy tác dụng, khiến tổng trị giá các gói hàng nhỏ từ Trung Quốc xuất sang Hoa Kỳ ngay trong tháng 05/2025 đã giảm khoảng 40% so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nhiên, cái khó là tại Liên Âu, một phản ứng nhanh chóng như chính quyền Donald Trump là không thể. Một quan chức nói với Le Figaro rằng « hầu hết các quốc gia thành viên đều đồng ý áp dụng thuế ở cấp độ Liên Âu, nhưng điểm gây tranh cãi chính liên quan đến việc phân bổ nguồn thu này, hoặc là cho ngân sách các nước thành viên, hoặc là cho ngân sách của toàn thể Liên Âu ». Liên Âu đã sẵn sàng « tham chiến » với Pháp chống Shein ? Paris kêu gọi Ủy Ban Châu Âu có biện pháp « mạnh tay » trừng phạt nền tảng thương mại điện tử Shein của Trung Quốc, « điều tra ngay lập tức » và có « các biện pháp tạm thời ». Bruxelles cũng hứa hẹn sẽ xem xét rất nghiêm túc các yêu cầu của Paris và khẳng định sẽ không ngần ngại có biện pháp chống Shein nếu cần. Tuy nhiên, theo Le Monde ngày 06/11, thực chất Ủy Ban Châu Âu đang quan sát phương pháp xử lý của Paris (đề xuất đình chỉ hoạt động bán hàng trực tuyến của gã khổng lồ thương mại điện tử Trung Quốc) với thái độ thờ ơ, thậm chí là hoài nghi. Le Monde trích dẫn nhận xét của một quan chức Liên Âu « Chúng tôi hoàn toàn không hiểu. Chúng tôi thậm chí còn không biết cơ sở pháp lý của Pháp để khởi xướng thủ tục đình chỉ là gì. Thật vô lý (…) Ủy Ban Châu Âu đang bị cuốn vào cuộc chiến giữa Shein và Pháp ». Vũ khí chính của Ủy Ban Châu Âu là Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số (DSA), vốn thiết lập các quy tắc để điều chỉnh hoạt động của các nền tảng trực tuyến rất lớn : Các nền tảng vi phạm quy tắc của Liên Âu có thể bị phạt tới 6% doanh thu toàn cầu, nhưng
Trong kỷ nguyên số, không gian truyền giáo không còn bó hẹp nơi thánh đường, hay những lời mời giảng đạo trên đường phố, mà đang bùng nổ mạnh mẽ trên các nền tảng TikTok, Instagram và YouTube. Tại Pháp, sự xuất hiện của những "influencer" Công giáo, với ngôn ngữ bình dân, dễ hiểu, tiếp cận giới trẻ dễ dàng hơn. Sự thay đổi được ủng hộ mạnh mẽ từ Vatican, diễn ra song song với số lượng người trẻ xin rửa tội đang tăng vọt tại Pháp. “5 lời khuyên để cầu chúc một ngày tốt lành”, “10 đồ vật mà tất cả những người Công Giáo cần có trong nhà ”, “Trong Ki Tô giáo không chỉ có Công giáo”, “Kinh thánh nói gì về hành vi bạo lực đối với phụ nữ”,…, là những nội dung được đăng tải trên tài khoản của linh mục người Pháp Paul Adrien, với gần 1 triệu người theo dõi trên các mạng xã hội (Tiktok, Instagram, Facebook, Youtube). Những video ngắn, nhiều hiệu ứng, thường bắt kịp các xu hướng về âm thanh cũng như chuyển cảnh, chia sẻ về đời sống Công Giáo, giải đáp thắc mắc về đức tin, giáo lý bằng ngôn ngữ bình dân, đôi khi mang tính tranh luận hoặc hài hước. Ví dụ như video có tựa đề : Lý giải những lầm tưởng về chúa Giê-su. Hoặc những lời kêu gọi cùng cầu nguyện trên mạng xã hội, với những chia sẻ mang tính cá nhân như những “influencer” : “Hôm nay, ngày 10/09, chúng ta hãy cầu nguyện cho nước Pháp. Có lẽ cũng giống như nhiều người trong số những người theo dõi tôi, tôi khá là lo lắng về tình hình chính trị và kinh tế hiện nay”, dù cầu nguyện không giải quyết được điều gì trong lúc này, nhưng ít nhất, có thể giúp chúng ta tiếp tục đời sống Ki tô giáo, sống trong hy vọng”. Trong kỷ nguyên số, không gian truyền giáo không chỉ bó hẹp trong những thánh đường mà dần chiếm lĩnh những nền tảng mạng xã hội, với cách truyền tải nội dung sáng tạo, sinh động, từ những buổi livestream, những hình ảnh selfie chân thật, cho đến những cuộc đối thoại, phỏng vấn nhanh trên đường phố. Bắt nhịp giới trẻ Nữ tu, sơ Albertine, với hơn 1 triệu người theo dõi trên Tiktok, gây ấn tượng bởi vẻ ngoài trẻ trung, không mặc tu phục truyền thống, chia sẻ cuộc sống hàng ngày của nữ tu, trả lời các câu hỏi về đời sống tâm linh, tình yêu và những vấn đề thực tế trong cuộc sống hiện đại, kết nối với giới trẻ Gen Z, xoá bỏ định kiến cho rằng đi tu là “buồn chán, là cổ hủ”. Trả lời báo Le Figaro, nữ tu giải thích : “Tôi không xem mạng xã hội như một công cụ để sử dụng, mà đúng hơn là một nơi để sinh sống. Vấn đề là phải ở nơi mọi người đang hiện diện để thấu hiểu nền văn hóa này và điều chỉnh ngôn ngữ của mình. Ngày nay, nhiều người dành hàng giờ đồng hồ, họ có ngôn ngữ riêng trên mạng xã hội… Tôi muốn thấu hiểu nền văn đó, để có thể điều chỉnh ngôn ngữ của mình, để có thể tiếp cận nơi họ đang hiện diện, và bắt kịp con sóng này mà không bị chính con sóng đó cuốn trôi.” Trong cuộc phỏng vấn với RFI Tiếng Việt về sự thay đổi trong cách tiếp cận, truyền giáo, với sự bùng nổ của các "ngôi sao mạng" Công giáo, giảng viên Charles Mercier, thuộc Đại học Bordeaux, chuyên gia nghiên cứu về lịch sử đương đại và các vấn đề tôn giáo, coi đây là một cuộc “cách mạng”, phá vỡ các quy tắc cũ. Việc các nền tảng số cho phép cá nhân tự do sáng tạo đã phá vỡ thế độc quyền về nội dung của các định chế truyền thống, tạo ra một không gian đức tin đa dạng nhưng cũng đầy thách thức trong việc quản lý. Ông giải thích: “Ngày nay, bất kỳ người Công giáo nào cũng có thể trở thành người sản xuất nội dung, với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo, có thể tạo ra các meme. Điều này đã làm “dân chủ hóa”, cá nhân hóa mối quan hệ với đức tin và đa dạng hóa các cơ quan quyền lực. Điều này cũng góp phần vào việc bãi bỏ quy định trong Công giáo. Ngày nay, người ta tìm thấy những lời kinh được trình bày như là kinh nguyện chính thức, trong khi chúng lại được tạo ra bởi các giáo dân, đôi khi là bằng trí tuệ nhân tạo.Và vì vậy, điều đó mở ra một chân trời của những khả năng mới.” Chuyên gia nghiên cứu về tôn giáo cũng nhấn mạnh rằng dẫu sao Internet và mạng xã hội chỉ được xem như bước đầu tiên trước khi người ta thực sự đến nhà thờ và gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp (chứ không phải qua màn hình) với những người Công giáo khác. Đọc thêmPadre Guilherme : Ngày là linh mục, đêm làm DJ Influencer truyền đạo Sự xuất hiện của những “influencer” Công giáo trên mạng xã hội không phải là ngẫu nhiên, mà được Vatican ủng hộ. Cố giáo hoàng Phanxicô đã kêu gọi “dấn thân vào lục địa kỹ thuật số”, kêu gọi hàng giáo sĩ và các tín hữu hãy "bước ra" khỏi vùng an toàn của mình để đến với mọi người ở nơi họ đang dành thời gian, đó chính là không gian trực tuyến. Tân giáo hoàng Lêo 14 cũng tiếp nối sứ mệnh này. Vào dịp Năm Thánh 2025, một buổi lễ đặc biệt dành cho các nhà truyền giáo kỹ thuật số (missionnaire numérique) đã được tổ chức với sự tham dự của hơn 1000 nhà sáng tạo nội dung Công giáo trên toàn thế giới. Vatican đã bố trí các khu vực đặc biệt để hỗ trợ việc phát trực tiếp, biến buổi lễ truyền thánh thống thành một sự kiện “tương tác” toàn cầu. Bản thân giáo hoàng cũng có tài khoản mạng xã hội, với 14 triệu lượt theo dõi trên Instagram. Sự kiện được coi là cách mà Giáo hội chính thức hoá vai trò của những “tông đồ hiện đại”, coi không gian mạng là “địa bàn hoạt động” kết nối với giới trẻ. Giáo hoàng Lêô 14 khẳng định rằng mạng xã hội phải là nơi gieo rắc sự thật và tình yêu, đồng thời khuyến khích các nhà truyền giáo kỹ thuật số hãy là những nhịp cầu nối kết con người trong một thế giới đang bị phân cực. Tuy nhiên Vatican cũng cảnh báo về sự hời hợt của "văn hóa trình diễn" trên mạng. Trong các sứ điệp đầu năm 2026, giáo hoàng nhấn mạnh rằng truyền thông phải phục vụ hòa bình và sự thật, thay vì chỉ là nơi để tìm kiếm sự chú ý hay lan truyền tin đồn. Tỷ lệ người trẻ xin rửa tội tại Pháp tăng cao Tại Pháp, trong dịp lễ Phục Sinh vào năm 2025, hơn 10 000 người đã tham gia lễ rửa tội, tức là tăng 45 % so với năm 2024 (mặc dù tổng số người được rửa tội tiếp tục giảm). Điều gây bất ngờ là nhiều người trong số đó ở trong độ tuổi trưởng thành, là những người trẻ từ 18-25 tuổi. Nhiều người trước đây không theo tôn giáo nào, nhưng đã tìm đến Công giáo. Phải chăng, những nỗ lực của Giáo hội Công Giáo, hiện đại hoá truyền thông đã tạo ra thành quả ? Ông Charles Mercier nhận định : “Tôi không rõ liệu là những người Công giáo đang tự làm mới mình để thu hút giới trẻ, hay liệu chính giới trẻ đang quay trở lại với Công giáo. Tôi cho rằng những người Công giáo đã làm những gì đặc biệt để thu hút họ. Dù sao đi nữa, đó là lập trường của các giám mục Pháp. Họ nói rằng vào là thời điểm mà Giáo hội Công giáo tại Pháp đang bị rung chuyển bởi các vụ bê bối ấu dâm và lạm dụng tình dục, vậy mà giới trẻ vẫn tìm đến mà không cần lý do rõ ràng. Ngay cả khi họ không cần làm gì, họ vẫn thu hút được tín đồ, vì theo góc nhìn của một người có đức tin thì, chính Chúa là người thúc đẩy những thay đổi này. Một số bộ phận của Công giáo đã triển khai các chiến lược truyền thông kỹ thuật số và đổi mới cách lan tỏa thông điệp tôn giáo, phần nào lấy cảm hứng từ mô hình của các phong trào Tin Lành. Những điều chỉnh này có thể cũng đã góp phần làm thay đổi cách Công giáo được nhìn nhận tại Pháp trong bối cảnh hiện nay.” Các đại diện của Hội đồng Giám mục Pháp (CEF) được trích dẫn bởi kênh truyền hình Pháp TF1, cho rằng sự gia tăng này phản ánh nhu cầu tìm kiếm “lý do để hy vọng”, các “mốc định hướng” và “đoàn thể” trong đời sống tinh thần, đặc biệt trong bối cảnh xã hội nhiều áp lực và thay đổi. Ông Philippe Orliange, phó tế (diacre) tại Nhà thờ Saint-Paul Saint-Louis, tại quận 4 ở Paris, cho biết số lượng đăng ký xin rửa tội tại nhà thờ năm nay cũng gia tăng theo khuynh hướng này. Ông nói : “Điều mới mẻ mà tôi thấy trong những lời thỉnh cầu xin rửa tội, là một số người đến từ những gia đình không còn truyền thống Kitô giáo hoặc hoàn toàn không theo Kitô giáo. Việc truyền bá đức tin ngày nay đang diễn ra theo một cách khác so với 15 hoặc 20 năm trước. Mười lăm hoặc hai mươi năm trước, hầu như không có người trưởng thành nào xin rửa tội”. Theo ông, họ đi theo Công giáo thường là “vì lựa chọn cá nhân”, thường sau một thời gian tìm hiểu hay trải nghiệm, chứ không chỉ bởi vì cha mẹ hay người thân đã là tín đồ, ông đồng thời giảm nhẹ vai trò của mạng xã hội Thế giới thế tục "trống rỗng" Những buổi lễ thánh diễn ra mỗi Chủ Nhật ở nhà thờ Saint-Paul Saint-Louis, thường kín chỗ, đủ mọi lứa tuổi. Tại đây, RFI Tiếng Việt đã gặp một kỹ sư trẻ, 32 tuổi, xin ẩn danh. Sinh ra trong một gia đình theo Công giáo, anh kể rằng đã rũ bỏ đức tin khi 12 tuổi, chuyển sang chủ nghĩa vô thần, tin rằng khoa học là lời giải duy nhất cho thế giới, sống một cuộc đời hoàn toàn tách biệt với đức tin. Tuy nhiên, ở ngưỡng cửa 30, anh cho biết đã nghe thấy tiếng gọi của chúa, để anh nhận ra rằng thế giới thế tục, dù đầy rẫy tiện nghi và công nghệ, vẫn để lại một khoảng trống tâm hồn mà chỉ tình yêu Thiên Chúa mới có thể lấp đầy. Từ hai ba năm trở lại đây, anh thường xuyên có mặt tại nhà thờ, phụng sự, hỗ trợ trong các buổi lễ thánh. Anh chia sẻ : “Có một cụm từ trong tiếng La Tinh là "memento mori," tức là nhận thức rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ chết, và bởi vì tôi đã từ bỏ Chúa, nên điều tốt đẹp không tồn tại đối với tôi. Tôi vẫn nhận thấy rằng có nhiều điều xấu vẫn tồn tại, tôi cảm nhận được nó trong cuộc sống của mình, ngay cả trong công việc, trong các mối quan hệ, trong kinh doanh, sự theo đuổi lợi nhuận không ngừng nghỉ bằng cách bóc lột người khác, sự chà đạp kẻ yếu, sự tàn phá thiên nhiên, chiến tranh, vv. Có những lúc tôi nghĩ, nếu một ngày tôi phải chết, thì chắc tôi sẽ xuống địa ngục. Và tôi thấy rằng thế giới vô thần thật trống rỗng và chỉ có tình yêu của chúa mới có thể lấp đầy.”
Tại Pháp tỷ lệ sinh đã có xu hướng giảm từ năm 2011. Tình trạng này càng trở nên đáng quan ngại hơn khi số liệu mới đây cho thấy lần đầu tiên số ca sinh thấp hơn số ca tử. Dân số Pháp vốn đã già hoá, đạt 69,1 triệu người, hiện vẫn tăng và chủ yếu nhờ vào nhập cư và xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới. Để hiểu rõ về chủ đề này, RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nhân khẩu học Gilles Pison, giáo sư danh dự tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia, cố vấn cho ban quản lý Viện Nghiên cứu Dân số Quốc gia (INED), và là tác giả của cuốn l’Atlas de la population mondiale (2023, Autrement). Theo số liệu của Viện thống kê quốc gia Pháp (INSEE), vào năm 2025 tại Pháp, có 645.000 ca sinh, giảm 2,1 % so với năm 2024, và giảm gần 24% trong vòng 15 năm. Điều đáng chú ý là số ca tử vào năm 2025, lên tới 651.000. Đây là lần đầu tiên kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, số người tử vong nhiều hơn số trẻ được sinh ra ở Pháp. Ông đánh giá thế nào về những con số này ? Gilles Pison : Nguyên nhân chính là các thế hệ đông đảo thời kỳ bùng nổ dân số baby-boom (những người sinh ra từ năm 1946 đến 1974), hiện đang ở độ tuổi từ 50 đến 80. Trong những năm tới, họ sẽ già đi và lần lượt qua đời, do đó số ca tử vong sẽ tiếp tục tăng. Theo một dự báo mà tôi thực hiện cùng đồng nghiệp Laurent Toulemon hồi năm ngoái, số ca tử vong ở Pháp sẽ tăng thêm 200.000 ca vào năm 2050, kể cả trong trường hợp tỷ lệ tử vong tiếp tục giảm và tuổi thọ tiếp tục tăng. Sự thay đổi này đưa Pháp vào nhóm các quốc có số ca tử vong vượt số ca sinh, tại châu Âu và tại các quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa dân số Pháp sẽ giảm ngay lập tức, bởi hiện tại, cán cân di cư dương (số người nhập cư nhiều hơn xuất cư) vẫn bù đắp được thặng dư tử vong. Điều này dự kiến sẽ còn tiếp diễn trong nhiều năm tới. Những yếu tố chính nào là dẫn đến tình trạng này? Gilles Pison : Số ca sinh và tỷ lệ sinh ở Pháp đã giảm dần trong nhiều năm, nhưng không phải là sụt giảm đột ngột mà là giảm từ từ. Đây là xu hướng toàn cầu, nhất là ở các nước giàu thuộc OECD. Dù vậy, Pháp vẫn là quốc gia có tỷ lệ sinh cao nhất châu Âu, với mức 1,56 con/phụ nữ, cao hơn mức trung bình châu Âu từ 20-25%. Nguyên nhân chính là ngày nay, phụ nữ trẻ đa phần vẫn muốn có con, nhưng đồng thời cũng muốn học tập, làm việc và có sự nghiệp. Khi khó cân bằng giữa công việc và gia đình, nhiều phụ nữ chọn trì hoãn việc sinh con. Thế hệ phụ nữ trẻ ngày nay không chấp nhận một cuộc sống mà họ phải hy sinh sự nghiệp, lo việc gia đình như các thế hệ trước đây. Do đó, những quốc gia có tỷ lệ sinh ổn định thường là nơi có sự phân chia công việc gia đình hợp lý giữa nam và nữ, giúp phụ nữ vừa làm việc vừa làm mẹ. Còn ở những nước phát triển, thu nhập cao, và bất bình đẳng giới vẫn còn lớn, như Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp hoặc các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, thì tỷ lệ sinh rất thấp, chỉ khoảng 1 con/phụ nữ. Đọc thêmTỷ lệ sinh giảm kỷ lục: Vì sao dân Pháp không muốn sinh con ? Như vậy có nghĩa là theo ông, tại những nước đó, bất bình đẳng giới cao, tỷ lệ sinh thấp, phụ nữ cần phải nỗ lực rất nhiều. Nếu xét trường hợp tại Pháp, bất bình đẳng giới ở Pháp có gì khác so với các nước châu Âu khác thế nào? Gilles Pison : Bất bình đẳng giới tồn tại ở khắp nơi. Phụ nữ cùng trình độ, trách nhiệm vẫn bị trả lương thấp hơn nam giới, khó tiếp cận vị trí lãnh đạo và gánh vác nhiều việc nhà hơn. Tuy nhiên, ở Bắc Âu và Tây Âu, bất bình đẳng này ít hơn so với Nam Âu hoặc Đông Âu. Tỷ lệ sinh cũng cao hơn ở Bắc và Tây Âu. Dù đó chỉ là một phần, nhưng xu hướng chung là như vậy. Ở Đông Á, dù xã hội hiện đại, vai trò truyền thống vẫn nặng nề với phụ nữ, khiến nhiều người trì hoãn cả việc kết hôn, sinh con. Nhiều khảo sát tại các nước OECD, bao gồm Pháp, cho thấy những người rất lo lắng về tương lai, về biến đổi khí hậu hay kinh tế có xu hướng muốn có ít con hơn, nhưng sự khác biệt không lớn. Nói chung, dù mức độ lo lắng có ảnh hưởng chút ít, nhưng không phải yếu tố quyết định. Chính sách gia đình ở Pháp có vai trò gì không? Có cần cải cách để thay đổi xu hướng hiện tại? Gilles Pison : Pháp có chính sách gia đình, tiền thân là chính sách khuyến khích sinh, rất lâu đời, có từ sau Đệ Nhất Thế Chiến. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, trọng tâm chuyển sang hỗ trợ các gia đình nuôi dạy con tốt hơn. Tại Pháp, các chính trị gia đều nhất trí rằng việc có chính sách hỗ trợ gia đình là điều tốt, việc giúp đỡ các gia đình nuôi dạy con cái là điều cần thiết. Chính sách này được duy trì ổn định qua nhiều năm, tạo ra sự tin tưởng rằng nhà nước luôn đứng sau hỗ trợ các gia đình. Điều này có thể góp phần giữ tỷ lệ sinh cao của Pháp, nhưng không thể xác định mức độ chính xác. Các nước OECD đều có chính sách tương tự, chỉ là ít lâu đời hơn. Ông nghĩ như thế nào về các chính sách thưởng tiền cho các cặp đôi sinh con như ở một số nước gần đây ? Liệu có giải pháp nào khác để đảo ngược xu hướng hoặc hạn chế tác động của cú sốc dân số này không? Gilles Pison : Đa số các nước có chính sách trợ cấp gia đình, nghỉ phép cho cha mẹ, hỗ trợ trông trẻ, v.v. Ở châu Âu, các nước Bắc và Tây Âu dành 3-4% GDP cho chính sách gia đình. Tuy nhiên, các biện pháp thưởng tiền một lần để khuyến khích sinh con chỉ có tác động ngắn hạn. Phụ nữ chỉ sinh sớm hơn dự kiến để nhận thưởng, tổng số trẻ được sinh không tăng thực sự. Chính sách gia đình chỉ hiệu quả khi được duy trì lâu dài, ổn định. Hiện nay, liệu nhập cư có được coi là một giải pháp cần thiết để duy trì dân số ở Pháp hay không? Và liệu tỉ lệ sinh cao hơn ở Pháp có phải do nhập cư? Gilles Pison : Hiện Pháp có khoảng 11% dân số là người nhập cư, nghĩa là sinh ra ở nước ngoài và đang sống tại Pháp. Tuy nhiên, các nước Bắc và Tây Âu cũng có tỉ lệ nhập cư tương tự, thậm chí cao hơn. Ở Trung và Đông Âu, tỉ lệ này mới thấp do lịch sử chính trị. Nhập cư có góp phần vào số ca sinh, nhưng tác động khiêm tốn. Năm 2021, phụ nữ nhập cư ở Pháp có mức sinh 2,3 con/phụ nữ, phụ nữ bản địa là 1,7, trung bình chung là 1,84. Như vậy, nhập cư chỉ nâng tỷ lệ sinh lên một chút, không phải là yếu tố quyết định khiến Pháp cao hơn các nước khác. Ý kiến của ông ra sao khi các đảng cực hữu hiện sử dụng số liệu này để phản đối nhập cư? Gilles Pison :Điều này không phải là mới. Cách đây một thế kỷ, giữa hai cuộc thế chiến, Pháp từng tiếp nhận nhiều người nhập cư từ Bỉ, Ý, Ba Lan để bổ sung lao động sau chiến tranh. Khi đó, họ cũng bị phân biệt, bị gọi bằng những biệt danh miệt thị, thậm chí bị cáo buộc gây ra các vấn đề xã hội. Nhưng phần lớn số đó ở lại, con cháu họ ngày nay đã hoàn toàn hội nhập vào xã hội Pháp. Như vậy, lịch sử lặp lại, những lời lẽ chống nhập cư gần như không thay đổi, nhưng rốt cuộc, nhập cư vẫn góp phần xây dựng dân số và kinh tế nước Pháp. Pháp, cũng như Mỹ, là một quốc gia di dân lâu đời, dù đối mặt với những luận điệu trái chiều qua nhiều thế hệ.
Trời nắng như đổ lửa trưa hè giữa tháng Tám, những chiếc xe ô tô dần dần tiến vào Trung tâm CAFI ở Sainte-Livrade-sur-Lot, nơi tiếp nhận hơn một nghìn người hồi hương từ Đông Dương sau năm 1956. Trung tâm hiện trở thành điểm “hành hương”, thành nơi “về quê” của rất nhiều thế hệ con cháu. Dịp nghỉ lễ 15/08 hàng năm tại CAFI cũng trở thành điểm hẹn của người dân trong vùng đến khám phá ẩm thực Việt và âm nhạc. Ông Du (tên đã được thay đổi), gần 70 tuổi, ngồi dưới gốc cây thông, cởi trần, tay cầm quạt phẩy phẩy vì không thể ở trong ngôi nhà mái tôn hầm hập dưới cái nóng 40°C. Nhà của ông, giống như những ngôi nhà khác trong “căng” (“camp” - trại), được xây cách đây hơn 10 năm sau một vụ hỏa hoạn. Đằng sau vẫn còn bốn dãy nhà cũ : Một dãy nhà bị bỏ hoang, như sắp sập, ba dãy còn lại được sử dụng làm nhà nguyện, hội trường, trụ sở hội CEP-CAFI… Những di tích này trở thành biểu tượng của Trung tâm Tiếp nhận Người Pháp từ Đông Dương (Centre d’Accueil des Français d’Indochine, CAFI). Nhưng thực ra, những người hồi hương từ Đông Dương, như ông Du, chưa từng được sống ở đó. “Cái “căng” cũ bị phá hết, chắc 15 năm rồi. Nhiều người Tây không có biết, nhìn vào đây (bốn dãy nhà còn lại), họ tưởng trước đây mình ở thế này. Nhưng không đúng. Mấy người ở trong những dãy nhà đó là làm văn phòng. Ở bên trong, có cái couloir (hành lang), có nhiều buồng, nghe nói còn cả nhà tắm luôn. Mấy cái cửa sổ ở dãy nhà đó thấp. Mấy người làm cho nhà nước thời đó có quyền ở đây. Còn cái trại của mình bị phá hết, đâu phải thế này. Ở trại cũ đấy, cửa sổ ở trên cao. Mình nhòm thấy giời thôi, không thấy ai hết. Nhà mình khổ tại vì có cái cầu tiêu ở ngoài, nó cao lắm, nó che hết cửa sổ, thế nên mình ở trong tối. Bác sĩ bảo ở thế không tốt cho đầu óc. Không có cầu tiêu. Cầu tiêu ở ngoài. Không có nhà tắm. Đi tắm ở ngoài phải trả tiền. 50 xu thời xưa, chắc tương đương bây giờ là mấy euro. Nhà đấy, tường cũng như thế này thôi (tường đơn, giống dãy nhà còn lại), không có lớp chống lạnh. Rét lắm, lạnh lắm ! Không có cách nào sưởi ấm được. “Người gác đền” Ông Du như người coi đền, ông biết mọi chuyện lớn, bé xảy ra trong trại, trại thay đổi như thế nào cho đến hiện nay. Trung tâm CAFI ở Sainte-Livrade-sur-Lot chủ yếu dành cho những gia đình mẹ đơn thân. “Trước đấy, lúc mình đến đây đó, nhiều “pa” (bố) ốm, chết, chỉ còn các mẹ. Mẹ mình thì nghèo, phải đi hái đậu để có tiền nuôi mình, đi hái mận, đi hái đủ hết. Rồi mấy bà cụ không biết tiếng Tây, dạy mình thế nào được, thế là mình đi học lỏm. Ở đây có CIMAC, giống như một hiệp hội (association), đến đó học. Tại vì bố mẹ, anh em, có người thì đi làm ở Paris, thì mấy đứa trẻ ở đây không biết làm thế nào, tự sống thế. Thời trước trong “căng” có nhiều người nghèo lắm, có một chút tiền để sống, nghe nói là Nhà nước cho mà không có đủ”. Điều kiện sống trong trại như kỷ luật nhà binh. Ngoài việc đi học ở trường trong thành phố, muốn đi xa phải xin phép, trừ khi đến tuổi trưởng thành. Các mẹ, hầu hết không biết tiếng Pháp, không người thân, chỉ biết lủi thủi nuôi con. Đến khi con lớn, một số người tự tin ra khỏi trại để đi làm ở các thành phố lớn lân cận, chủ yếu là Bordeaux, Toulouse… Ông Du từng làm việc 8 năm ở Paris, sau đó trở về chăm mẹ già. Số gia đình Đông Dương sống trong trại cũng thưa dần. Ông Du đếm từ khoảng 90 gia đình Việt Nam, hiện giờ còn khoảng 15-20 nhà. Khu vực này hiện là khu nhà xã hội nên có nhiều gia đình Pháp sinh sống : “Ở đây có nhiều người sống một mình lắm, tại con cháu đi hết. Các cụ ngày xưa giờ còn ba, bốn cụ bà, cụ ông. Có người về thăm, về đây giống như ngày hôm nay này. Họ làm sự kiện này hay. Mấy người ngoài phố thích lắm, vào đây buổi đêm vui lắm. Mấy người lai trước ở đây, trong đó có nhiều người bây giờ ở Paris, thì trở về gặp lại nhau, rồi cho nhau số điện thoại để hỏi thăm nhau”. Để ký ức không bị mai một theo thời gian Hội CAFI là “những người ở Paris” mà ông Du nhắc đến. Hội đấu tranh để những người Pháp hồi hương từ Đông Dương phải được Nhà nước Pháp ghi công và bồi thường. Dự luật đã được thông qua ở Hạ Viện và đã được chuyển lên Thượng Viện chờ thảo luận và phê chuẩn. Những thay đổi trong chính phủ Pháp vào từ tháng 09/2025 đã trì hoãn mọi việc. Ngày hội được tổ chức dịp 15/08 trở thành truyền thống hàng năm, được truyền thông địa phương và người dân quan tâm. Con cháu, hậu duệ thế hệ thứ ba, thứ tư không biết nói tiếng Việt, đều trở về hội ngộ. Để họ hiểu hơn về lịch sử, nguồn gốc gia đình, hội CEP-CAFI tổ chức nhiều sự kiện để tất cả cùng có thể tham gia : một buổi lễ tại nhà nguyện, một buổi lễ cầu siêu ở chùa - hai địa điểm chỉ cách nhau vài chục mét, một lễ đặt vòng hoa ở đài tưởng niệm ông bà, cha mẹ, người thân đã qua đời ở CAFI. Trong hội trường là một triển lãm nghệ thuật gồm tranh ảnh, sáng tác của ông Albert Vandjour, có ông nội là người Hồi giáo Tamil (Pondicherry ở Ấn Độ) và bà nội là người Việt theo đạo Phật. Triển lãm “Tôi nhớ 60 năm cuộc đời” được chia ra làm bốn giai đoạn, rất giống với nhiều thanh niên từng sống trong trung tâm : “Tại sao trong phần đầu tiên, tôi chỉ thể hiện chiến tranh? Bởi vì tôi chỉ biết đến chiến tranh. Tôi chỉ biết đến sự chiếm đóng của Nhật Bản, Chiến tranh Đông Dương. Sau đó, tôi đi nghĩa vụ quân sự ở Algérie. Phần đầu tiên gồm những tác phẩm thể hiện cuộc sống của tôi ở Việt Nam. Phần thứ hai là cuộc sống của tôi với cha mẹ, cuộc sống của họ. Phần thứ ba là cuộc sống tôi ở Pháp. Và phần thứ tư là cuộc sống với bạn bè - cuộc sống xã hội của tôi. Tại sao tôi lại đưa cuốn sách bị đốt cho chủ đề “Lễ hội của những đứa trẻ lưu lạc” ư ? Bởi vì lúc sống ở Đông Dương, tôi liên tục chứng kiến chiến tranh và những người di tản. Vì vậy, tôi không được đến trường, được học hành một cách bình thường. Cho nên tôi thể hiện cuộc sống đó như một cuốn sách bị đốt. Ở một số nơi, khi một cuốn sách bị đốt, nó tượng trưng cho sự hủy diệt tri thức, sự mất mát kiến thức”. Ông Albert Vandjour cũng là một trong những người ghi lại và bảo tồn ký ức của trại CAFI ở Sainte-Livrade sur Lot. Bức ảnh đầu tiên về những người đầu tiên đến Sainte-Livrade là do cha và anh trai của ông chụp lại. Sau đó, đến lượt ông chụp lại toàn bộ những dãy nhà trong doanh trại cũ được cải tạo thành nhà cho những người hồi hương Đông Dương. Khác với một số bạn bè đồng lứa, ông Albert Vandjour lại thấy may mắn đến được Sainte-Livrade dù cuộc sống không hề dễ dàng vì theo ông, ông “thoát được chiến tranh, không phải chứng kiến cảnh đầu rơi, máu chảy khi mới chỉ 12-13 tuổi ở Hải Phòng”. Bị thiệt thòi vì thời gian thất học do bom đạn ở Hải Phòng, ông đã theo học nghề mộc, để thỏa đam mê đúc, tạc mà sau này được ông phát triển thành sự nghiệp nghệ thuật. Trở về nguồn cội Rất nhiều người lần đầu tiên đến ngày hội CAFI khám phá cuộc sống của cha mẹ họ như vậy. Thời gian sống ở trại trở thành bí mật theo cha/mẹ sang thế giới bên kia. Họ chỉ nhớ mang máng hoặc phát hiện ra sự tồn tại của CAFI nhờ vào giấy tờ, tài liệu còn sót lại. Rồi tò mò đưa họ đến Sainte-Livrade. Từ không quen biết, họ tìm được một tiếng nói chung, đồng điệu. Không ai nghĩ những người con lai mắt xanh, tóc vàng, ngồi bên chiếc dài ngoài sân lại có thể rôm rả bàn về bún bò Huế, bún đậu, dồi mắm tôm, trứng vịt lộn... Đó là hương vị đậm chất Việt trong món ăn của các mẹ và được họ truyền lại cho con cháu sau này. Một số người mang bánh làm ở nhà đến chia sẻ. Những người “cũ” xắn tay áo, như ba phụ nữ đang luôn tay trong bếp chuẩn bị những món ăn để bán gây quỹ : “Tôi sống ở Bias, đây là lần thứ hai tôi tham gia làm cơm. Daniel (chủ tịch hội CEP-CAFI) nhờ tôi tới và thế là tôi ở đây. Đối với chúng tôi, việc này rất quan trọng, cho cha mẹ của chúng tôi”. “Bữa ăn hiệp hội là để gây quỹ cho CAFI để có thể tiếp tục duy trì hoạt động của hội và để mọi người không quên”. Vấn đề công trình tưởng niệm trở thành chủ đề bất đồng giữa hội CEP-CAFI và thành phố Sainte-Livrade, chủ sở hữu mảnh đất. Cùng với Hội cựu chiến binh Pháp (ONAC) tỉnh Lot-et-Garonne, họ muốn biến quần thể thành một bảo tàng lớn về tất cả các cuộc chiến tranh thế giới, trong đó có chiến tranh Đông Dương. Ông Gabriel Pichon, chủ tịch hội ONAC, giải thích với RFI Tiếng Việt : “Dự án này không nhằm mục đích kìm hãm CAFI, mà ngược lại, nâng CAFI lên tầm cao hơn so với hiện nay. Tại sao? Bởi vì khi tiến hành một cuộc khảo sát ở tỉnh Lot-et-Garonne và đề cập đến CAFI, 85% hoặc thậm chí 90% người dân không biết CAFI là gì. Vì vậy, khi người dân, khách du lịch và học sinh đến đây, tất nhiên là họ sẽ thăm bảo tàng tưởng niệm, nhưng họ cũng sẽ biết chính xác CAFI là gì. Xét về nghĩa vụ tưởng nhớ, tôi nghĩ điều đó vô cùng quan trọng”. Tuy nhiên, theo hội CEP-CAFI, “nơi này không liên quan gì đến chiến tranh. Đây là một địa điểm lịch sử dành cho những người hồi hương từ Đông Dương”. Họ cũng sợ một dự án sẽ lại bị bỏ lửng, như từng xảy ra với công trình tưởng niệm trực tuyến - trang web CAFI mémoire et histoire (CAFI ký ức và lịch sử) - với chi phí 140.000 euro nhưng từ đó không hề được cập nhật, không thu hút được người quan tâm. Bà Nina, phó chủ tịch hội CEP-CAFI, giải thích : “Chúng ta đang gặp vấn đề : Chính quyền thành phố Sainte-Livrade chưa khởi động bất kỳ dự án nào nên không thể nhận trợ cấp và cũng không thể trợ cấp cho hội. Chúng ta không thể làm gì và bị bế tắc về công trình tưởng niệm. Chúng ta có tiền tài trợ từ các quỹ khác nhau, từ bộ Quân Lực, các công ty tư nhân như Tang Frères và rất nhiều người sẵn sàng giúp đỡ, nhưng chúng ta bị cản trở vì không có dự án. Dự án khu tưởng niệm phải được thông qua. Chúng tôi đã đệ trình đề xuất của mình”. Sự bất đồng kéo dài nhiều năm làm trì hoãn công việc trùng tu những tòa nhà đã xuống cấp. Nhiều cuộc họp đã được tổ chức nhưng các bên vẫn chưa tìm được tiếng nói chung.
Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhiều đứa trẻ mang hai dòng máu, mồ côi và được nhận nuôi ở khắp nơi trên thế giới, đang nỗ lực tìm lại cội nguồn. Sự bùng nổ của công nghệ di truyền cùng những nhịp cầu cộng đồng như kênh YouTube “Kết nối yêu thương” đã tạo nên những cuộc đoàn tụ xuyên lục địa, giúp họ hàn gắn những mảnh khuyết quá khứ và tìm thấy câu trả lời cho căn tính của bản thân. Ông Rémy Gastambide vừa trở về Pháp sau chuyến thăm Việt Nam lần thứ 10. Hơn ba chục năm qua, mỗi lần đặt chân đến mảnh đất nơi ông chào đời, ông Rémy phải đối diện với một cảm giác thân thuộc nhưng mơ hồ, khó gọi tên. Việt Nam là nơi ông sinh ra, vào năm 1969, tại Sài Gòn, là điểm khởi đầu, nhưng cũng là miền ký ức bị bóng tối bao phủ, bị chiến tranh, thời gian và những biến chuyển của lịch sử thôi thúc ông trở lại để tìm truy tìm nguồn cội của chính mình. Được nhận nuôi trong một gia đình trung lưu Pháp, ông Rémy chỉ được kể rằng mình “được nhận nuôi từ một nước có chiến tranh”. Trong gia đình nuôi, Việt Nam như là một điều cấm kỵ, không được nhắc đến. Tất cả những thông tin khác về nguồn cội của ông bị bao phủ một một sự im lặng khó giải thích, kéo dài suốt nhiều năm. Khi ở tuổi thiếu niên, ông tình cờ nhìn thấy những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam trên các phương tiện truyền thông, và hiểu rằng, mình không chỉ là một đứa trẻ nhận nuôi, mà là một đứa con lai, là một mảnh ghép trong trang sử tối của chiến tranh. Với sự khác biệt về ngoại hình, về màu da ngăm đen, ông tự đoán mình là “con rơi”, là “tây lai”, là kết quả của một mối tình chóng vánh thời chiến. Và kể từ đó, hành trình đi tìm nguồn cội trở thành một “nhu cầu sống còn” : “Đó là một quá trình mà cuộc đời tôi phụ thuộc vào nó. Tôi phải tìm lại căn tính của mình, tìm lại nguồn gốc của mình. Đó luôn luôn là một mục tiêu tối thượng, luôn hiện diện trong đầu óc tôi, một cách liên tục. Tôi cũng trách cha mẹ nuôi tôi, vì họ kiên quyết che giấu, thậm chí hủy đi hồ sơ nhận nuôi của tôi, (…) Điều đó chẳng khác nào cắt đứt tôi hoàn toàn khỏi nguồn gốc của mình và tôi phải sống với cảm giác đó.” Ông Rémy kể lại chặng đường tìm kiếm không có internet, không có mạng xã hội, tự mày mò qua sách vở, phim tài liệu, thư viện, tìm hiểu chiến tranh Việt Nam. Ông tự nhận mình bị “ám ảnh”, như thể là chỉ bằng cách hiểu lịch sử, thì ông mới có thể hiểu chính mình. Lần đầu tiên ông trở về Việt Nam vào năm 1991, lúc đó Việt Nam vẫn còn khá khép kín sau lệnh cấm vận. Ông tìm đến trại trẻ mồ côi cũ, lần theo từng dấu vết từ những mảnh hồ sơ rời rạc mà ông có, nhưng không có kết quả nào. Mãi đến khi công nghệ ADN trở nên phổ biến, vào năm 2017 ông đã “thử vận may”, làm hồ sơ gửi vào ngân hàng dữ liệu di truyền và gen của ông trùng khớp với gia đình của cha mình ở bên Mỹ. Sau đại dịch Covid-19, ông Rémy đến Mississipi, gặp người cha, một cựu chiến binh da màu, từng tham chiến ở Việt Nam đã có gia đình riêng. Cuộc hội ngộ sau gần 40 năm, không mang dáng dấp của một cuộc đoàn tụ, đầy cảm xúc, mà đầy bất ngờ, dè dặt, giữa hai người xa lạ nhưng chung huyết thống. Ông thuật lại với RFI Tiếng Việt : “Tôi đã bước vào cuộc sống của ông ấy, và điều đó không dễ dàng gì, vì nhiều lý do. Khi gặp nhau, chúng tôi không biết xưng hô như thế nào, nói chuyện gì với nhau. Ông ấy bảo là hiểu được những trăn trở của tôi về nguồn cội, và hỏi tôi muốn điều gì khác, có muốn được bù đắp, muốn tiền hay không ? Tôi đáp rằng tôi không muốn gì cả. Tôi đã có gia đình, có cuộc sống ổn định. Tìm được cha mình, tôi không cảm thấy tốt hơn, hay được khoả khuây tâm trí, mà chỉ thấy là mình đã đạt được điều gì đó, hoàn thành một chặng trong hành trình tìm nguồn cội.” Qua cuộc gặp gỡ với cha mình, manh mối rõ ràng đầu tiên về người mẹ đã được hé mở, nhờ vào bức ảnh mà người cựu chiến binh vẫn lưu giữ, để ông tiếp tục hành trình tìm nguồn cội. Câu chuyện của Rémy không hề đơn lẻ, mà là của hàng ngàn đứa trẻ khác sinh ra từ thời chiến tranh, không tự định đoạt được cuộc đời mình, và phải tự đi tìm câu trả lời cho câu hỏi : Tôi là ai ? Hòa giải với quá khứ để tìm lại nguồn cội Cuộc chiến tranh Mỹ tại Việt Nam cách nay 50 năm vẫn để lại nhiều dư chấn. Trong một nhóm trên Facebook với khoảng 2000 thành viên, có tên Opération Babylift - chiến dịch Không vận Trẻ em, sơ tán hàng ngàn trẻ em mồ côi hoặc con lai khỏi Việt Nam sau khi chiến tranh chấm dứt năm 1975, không khó để thấy những bài đăng từ những người từng được nhận nuôi, hay những người Việt muốn tìm lại cha mẹ ruột. Đọc thêm50 năm sau chiến dịch BabyLift : Một chuyến bay mà cả đời lưu lạc Tại Việt Nam, nhiều kênh hỗ trợ tìm thân nhân đã được lập ra từ nhiều năm qua, tiêu biểu như chương trình Như Chưa Hề Có Cuộc Chia Ly, nhưng do thiếu chi phí hoạt động, chương trình này nhiều lần bị gián đoạn. Ngoài ra, nhiều trang mạng cũng được lập ra để kết nối những người bị ly tán vì xung đột mong ngày được hội ngộ, như tổ chức phi lợi nhuận Con Tìm Mẹ, tập hợp những hồ sơ ADN của những người con nuôi, muốn tìm về gia đình ruột thịt. Được thành lập vào tháng 09/2025, tổ chức này đã hỗ trợ được nhiều tìm lại thân nhân, trong đó có trường hợp của Guillaume YPERMAN, một trong những đứa trẻ được nhận nuôi trong chiến dịch Không Vận Trẻ Em. Đối với anh, bước vào hành trình tìm lại nguồn cội là phải tha thứ, hòa giải với quá khứ và chiến tranh. Năm 2026 mở ra với niềm vui vỡ òa, khi anh vừa tìm được mẹ hồi đầu tháng Giêng, sau nhiều năm tìm kiếm. Chia sẻ với RFI, từ Sóc Trăng, nơi chôn rau cắt rốn, bên cạnh gia đình chảy chung dòng máu, anh cảm thấy được nhẹ nhõm : « Phải nói rằng khi mình bị bỏ rơi, ở trong trại trẻ mồ côi, trong thời chiến, khiến cho đứa trẻ đó tưởng tượng ra vô số kịch bản về thân phận của mình. Nhưng giờ tôi đã tìm được mẹ ruột tôi có câu trả lời của bà. Tôi là một đứa con được tạo ra bởi tình yêu. Bố tôi, một lính Mỹ da màu, đã tử trận tại Việt Nam. Bà đã nghĩ rằng mình sẽ chết đi sau khi sinh vì bị mất máu quá nhiều và nghĩ rằng mình khó qua khỏi, và gửi tôi cho các sơ chăm sóc. Hơn nữa lúc đó, bà một thân một mình, và lúc đó chưa kết hôn mà có có con là điều bị xã hội dè bỉu. » Cũng như nhiều người con lai, gốc Việt, được nhận nuôi tại một gia đình ở miền nam nước Pháp, anh Guillaume với tên khai sinh là Mạnh Hùng Lê, luôn đau đáu khát khao tìm về nguồn cội, để tự định nghĩa căn tính của chính mình, khi bị « lạc lõng trong một gia đình Pháp mắt xanh ». Anh giải thích : « Dù trân trọng nền giáo dục và văn hóa Pháp được thụ hưởng, tôi vẫn cảm thấy một phần tâm hồn Việt Nam đã mất đi. Tôi mắn lớn lên tại Pháp, gia đình nuôi thương tôi như máu mủ, và cho đến tận bây giờ, chúng tôi vẫn luôn duy trì một mối quan hệ vô cùng gắn bó và khăng khít (...)Nhưng là nhu cầu tự thân mãnh liệt thôi thúc tôi tìm lại mẹ. Suốt 5 năm qua, vợ chồng tôi đều đặn trở về Việt Nam mỗi năm như một cuộc hành hương về nguồn. Sau bao nỗ lực, cuối cùng tôi đã tìm được mẹ. Giây phút các con tôi được thấy bà nội qua màn hình và mẹ tôi vỡ òa hạnh phúc khi gặp lại đứa con trai duy nhất (…) Đối với tôi, tìm lại mẹ ruột, là hành trình của sự kết nối và tái kết nối. Sự gắn kết với Việt Nam không chỉ đơn thuần là một cuộc đoàn tụ, mà còn là quá trình tái thiết bản thân mình. Đó là cách tôi tìm lại những mảnh ghép bản sắc mà mình đã từng đánh mất. » "Cơ duyên" Cô Sandie Quercy, cũng được nhận nuôi và sinh sống ở miền nam nước Pháp. Chỉ riêng trong năm 2025, cô đã trở lại Việt Nam hai lần. Chuyến đi đầu tiên là đến nơi tưởng niệm vụ rơi máy bay Galaxy C5, trong chiến dịch Không Vận mà cô cũng là một trong những người sống sót. Sau đó, là để tìm kiếm gia đình ruột thịt. Qua kênh Youtube Tuấn Vỹ, cô cũng đã được kết nối với hai gia đình ở Việt Nam.Trả lời RFI Tiếng Việt hồi tháng 04/2025, cô giải thích : “Bây giờ mọi người thực ra không còn phải giấu giếm khi đi tìm người thân nữa. Không còn cái kiểu luật im lặng (omerta) bao trùm lên mọi thứ nữa, có thể nói là mọi người đã cởi mở hơn rồi. Vậy nên tôi đã biết đến chương trình của kênh Tuấn Vỹ này. Tôi đã yêu cầu được tham gia, thế là chúng tôi đã thực hiện một buổi gọi video trực tiếp từ Pháp. Tôi đã gửi bức ảnh duy nhất mà tôi có về bản thân mình hồi ở Việt Nam. Tuy nhiên, do chưa đủ « duyên », theo lời của ông Trịnh Xuân Công, (nghệ danh Tuấn Vỹ) chủ nhân kênh Tuấn Vỹ - Kết nối yêu thương, các kết quả xét nghiệm ADN của cô không trùng khớp với những gia đình được kết nối. Từ kênh Youtube về ca nhạc đến hành trình "kết nối yêu thương" Kênh Youtube của Tuấn Vỹ, với hơn 2 triệu lượt theo dõi, cho biết, thời gian gần đây, nhiều người ở hải ngoại đã liên hệ với kênh để tìm lại người thân. Anh Tuấn Vỹ giải thích : « Có thể là do sự lan tỏa qua những thành quả mà chương trình đã đạt được, càng ngày càng lan tỏa ra nhiều và nhiều con em Việt Kiều biết được những cái nền tảng tìm kiếm như vậy để mà đăng ký tìm kiếm. Họ đa phần là con nuôi, những người con mà trước đây đã được gia đình cho làm con nuôi ở các nước đó ». Được thành lập từ năm 2019, với mục đích ban đầu là để chia sẻ những sản phẩm âm nhạc, kênh Tuấn Vỹ “vô tình” trở thành người kết nối, hỗ trợ tìm người thân, khi đăng video chia sẻ về một hoàn cảnh khó khăn, về một người đàn ông, đã thất lạc gia đình từ 15 năm qua. Với sự hỗ trợ của cộng đồng mạng, người đàn ông này đã tìm lại được người thân. Từ “cơ duyên” ấy, hàng ngàn hồ sơ bắt đầu đổ về, biến Tuấn Vỹ trở thành người kết nối « bất đắc dĩ » nhưng đầy tâm huyết. Hoạt động độc lập, anh Tuấn Vỹ cho biết tự mình tiếp nhận hồ sơ, quay phim, chỉnh sửa video.Mỗi ngày, kênh của anh nhận được khoảng 10 hồ sơ xin trợ giúp tìm người thân. Anh nói thêm :“Khi chúng tôi ghi nhận những trường hợp muốn tìm người thân và cập nhật lên cộng đồng. Nếu ai biết được người đang được tìm kiếm thì người ta sẽ báo lại cho Tuấn Vỹ, có thể là bác xe ôm, hay người hàng xóm hoặc là chính người thân của họ, (…) Đôi khi cứ mong mình là thần thánh, thần thông quảng đại để có thể giúp đỡ được tất cả mọi người, nhưng mà rất đáng tiếc là ‘duyên’ của gia đình nào thì gia đình đó kết nối được chứ cũng không phải là ai kết nối cũng thành công cả. » Để khuyến khích sự nhi
Ngày 12/12/2025, văn phòng tổng thống Hàn Quốc cho biết đã hồi hương 107 công dân từ Cam Bốt kể từ tháng 10/2025 vì bị tình nghi liên quan đến các mạng lưới lừa đảo trực tuyến. Trong khi đó, công luận Hàn Quốc vẫn chưa quên được hình ảnh 64 công dân đầu tiên bị còng tay, áp giải khỏi máy bay thuê bao xuất phát từ Cam Bốt trở về Seoul sáng 18/10. Vụ hồi hương hàng loạt này diễn ra chỉ vài tháng sau khi một sinh viên Hàn Quốc được phát hiện tử vong ở khu vực núi Bokor, Cam Bốt, buộc thứ trưởng Ngoại Giao Hàn Quốc phải bay khẩn sang Phnom Penh. Cùng thời điểm, Mỹ và Anh đồng loạt áp đặt trừng phạt đối với các tập đoàn và các tội phạm đang hoạt động tại Cam Bốt với cáo buộc dính líu đến mạng lưới tội phạm xuyên quốc gia. Sự việc không chỉ là khủng hoảng bảo hộ công dân, mà còn là hồi chuông cảnh báo về quy mô quốc tế của các tổ chức lừa đảo đang hoành hành tại Đông Nam Á. Những người bị dẫn độ này là nạn nhân hay tội phạm ? Họ là ai ? Tại sao chính phủ Hàn Quốc lại chậm trễ trong việc bảo vệ công dân ? Thông tín viên Trần Công tại Seoul cho biết thêm : Thứ trưởng Ngoại Giao Hàn Quốc đã phải sang Phnom Penh ngày 16/10/2025, bày tỏ quan ngại với chính phủ Cam Bốt sau những vụ công dân Hàn Quốc bị hành hung đến chết tại đất nước Đông Nam Á này, đồng thời đề nghị hợp tác hai bên để chấm dứt tình trạng công dân Hàn Quốc bị lừa đảo tại Cam Bốt. Những người Hàn bị lừa sang Cam Bốt là ai ? Trần Công : Phần lớn người Hàn bị lừa sang Cam Bốt trong các đường dây lừa đảo trực tuyến là người trẻ tuổi, thất nghiệp hoặc đang tìm việc làm ở nước ngoài. Họ bị dụ dỗ qua mạng xã hội với lời hứa “việc nhẹ, lương cao” trong lĩnh vực marketing, đầu tư tiền ảo, hoặc chăm sóc khách hàng quốc tế, được bao vé máy bay và ăn ở miễn phí. Kênh liên lạc chính thường là Telegram, các thông tin như vé máy bay, địa điểm ăn ở đều được trao đổi trên kênh này. Cá biệt có một số nạn nhân bị dụ dỗ sang Cam Bốt vì mối tình trên mạng và hẹn gặp nhau tại Cam Bốt. Khi đến Cam Bốt, họ bị tịch thu hộ chiếu, điện thoại và bị giam trong các khu phức hợp do tổ chức tội phạm điều hành, chủ yếu là những nhóm người Trung Quốc, Hàn Quốc gốc Hoa hoặc Cam Bốt gốc Hoa. Một số nạn nhân bị ép làm việc trong các hệ thống lừa đảo qua mạng, giả danh công tố viên, hoặc điều hành sàn đầu tư ảo. Còn những người không hợp tác thì bị đánh đập, bán cho nhóm khác hoặc buộc lao động nặng nhọc. Riêng đối với phụ nữ, họ cũng bị ép sản xuất các nội dung người lớn để dụ dỗ xin tiền và lừa đảo trên mạng. Tại sao lại có nhiều người Hàn Quốc bị lừa ? Tình trạng người Hàn bị lừa sang Cam Bốt xuất phát từ sự kết hợp giữa khủng hoảng việc làm trong nước và hoạt động chiêu dụ tinh vi của các tổ chức tội phạm quốc tế. Sau đại dịch, nhiều thanh niên Hàn Quốc rơi vào cảnh thất nghiệp hoặc nợ nần, dễ tin vào quảng cáo “việc nhẹ, lương cao tại nước ngoài”. Các băng nhóm tội phạm, phần lớn do người Trung Quốc cầm đầu, lập công ty giả trên mạng xã hội, đăng tuyển nhân viên cho “dự án đầu tư, marketing, tiền ảo, dịch vụ khách hàng toàn cầu”. Họ cung cấp vé máy bay và visa du lịch, khiến nạn nhân tin rằng đây là công việc hợp pháp. Một số khác thì lại bị chính đồng hương tiếp cận với mục đích tuyển phiên dịch, buôn bán hàng thanh lý tại Cam Bốt, nhưng khi tới nơi thì bị bán cho các đối tượng lừa đảo ngay lập tức. Tại sao chính quyền Hàn Quốc để tình trạng này diễn ra quá lâu và mới chỉ can thiệp gần đây ? Việc xử lý chậm trễ các vụ người Hàn bị lừa và giam giữ tại Cam Bốt bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân chính trị, hành chính và cả yếu tố khách quan từ phía Cam Bốt, kéo dài suốt hai nhiệm kỳ tổng thống. Dưới thời chính phủ Yoon Suk Yeol (2022-2025), trọng tâm chính sách đối ngoại nghiêng về Mỹ và Nhật Bản, khiến các vấn đề nhân đạo tại Đông Nam Á bị xem nhẹ. Bộ Ngoại Giao Hàn Quốc hai lần đề nghị tăng thêm cảnh sát thường trú tại Đại sứ quán Hàn Quốc ở Phnom Penh, nhưng bộ Hành Chính và An Ninh trong nước từ chối với lý do “hạn chế nhân sự”. Đây cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến số vụ bắt cóc và giam giữ người Hàn tại Cam Bốt tăng gấp 10 lần chỉ trong một năm. Sau khi tổng thống Lee Jae Myung nhậm chức giữa năm 2025, Hàn Quốc mới bắt đầu tái triển khai lực lượng, nâng cảnh báo du lịch và mở điều tra đặc biệt về mạng lưới buôn người. Tuy nhiên, khoảng trống chính sách và sự chồng chéo giữa các bộ ngành trong giai đoạn chuyển giao quyền lực đã khiến hàng trăm vụ việc bị đình trệ. Bên cạnh đó, Cam Bốt bị cáo buộc là môi trường dung túng cho tội phạm có tổ chức. Nhiều khu phức hợp như Prince Complex, Mango, Dara Sakor... nằm dưới sự bảo kê của các doanh nhân và quan chức thân cận với chính quyền, khiến việc điều tra quốc tế gặp nhiều cản trở. Cảnh sát Hàn Quốc không được phép trực tiếp điều tra tại Cam Bốt, còn phía Cam Bốt thường trì hoãn phản hồi, che giấu thông tin hoặc thả nghi phạm có quan hệ chính trị. Đỉnh điểm của vụ việc là một công dân Hàn Quốc đã bị hành hung đến chết tại Cam Bốt vào tháng 08/2025. Sau đó, thứ trưởng bộ Ngoại Giao Hàn Quốc Kim Jin Ah dẫn đầu phái đoàn liên bộ (bao gồm bộ Ngoại Giao, Cơ quan Cảnh sát Quốc gia, bộ Tư Pháp và Cơ quan Tình báo Quốc gia) thăm và làm việc tại Cam Bốt từ ngày 15-16/10/2025. Trong chuyến thăm, bà Kim đã gặp thủ tướng Cam Bốt Hun Manet, bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình trạng công dân Hàn Quốc bị lừa đảo, giam giữ và sát hại, đồng thời yêu cầu tăng cường hợp tác điều tra, hồi hương nạn nhân và trấn áp tội phạm mạng. Hai bên thống nhất thành lập “Tổ công tác chung Hàn Quốc - Cam Bốt” (Joint Task Force - TF) để phối hợp phản ứng nhanh tại hiện trường. Ngoài ra, bà Kim đề nghị chia sẻ hồ sơ pháp y, kết quả điều tra vụ công dân Hàn Quốc tử vong ở Kampot, hỗ trợ hoàn tất thủ tục pháp lý, hỏa táng và hồi hương thi hài, cũng như bảo đảm an toàn cho người Hàn đang sinh sống tại Cam Bốt. Vụ việc hiện được quan tâm như thế nào và có đánh động được công luận ở Hàn Quốc không ? Sau vụ 64 người Hàn bị hồi hương từ Cam Bốt ngày 18/10/2025, dư luận Hàn Quốc đang đặc biệt quan tâm đến quy mô thật sự của mạng lưới lừa đảo và buôn người tại Đông Nam Á. Các bản tin trên KBS, MBC và Yonhap đều cho rằng đây là “cuộc hồi hương nghi phạm lớn nhất trong lịch sử”, đồng thời đặt nghi vấn về sự tắc trách của chính phủ tiền nhiệm. Tổng thống Lee Jae Myung đã ra chỉ thị trực tiếp cho bộ Ngoại Giao và Cảnh sát Quốc gia “mở điều tra toàn diện về người Hàn bị giam giữ, mất tích và tử vong tại Cam Bốt”. Một tổ công tác đặc biệt gồm cảnh sát, công tố và chuyên gia tài chính đã được thành lập để truy vết dòng tiền của các tổ chức lừa đảo xuyên biên giới. Tại Quốc Hội, nhiều nghị sĩ yêu cầu điều trần về trách nhiệm của bộ Hành Chính và An ninh trong thời chính phủ Yoon Suk Yeol, khi cơ quan này từng từ chối tăng nhân lực cảnh sát tại Phnom Penh dù tội phạm tăng mạnh. Trên mạng xã hội Hàn Quốc, từ khóa “giải cứu Cam Bốt” và “64 người hồi hương” liên tục đứng đầu xu hướng tìm kiếm. Nhiều người kêu gọi chính phủ tăng cường bảo hộ công dân và trừng trị nghiêm khắc những kẻ tiếp tay cho tội phạm quốc tế, xem đây là “bài học xương máu về khủng hoảng công dân ở nước ngoài”. Những người bị cáo buộc là “nhà tuyển dụng”, “tội phạm” bị xét xử như thế nào ở Hàn Quốc ? Sau vụ 64 người Hàn Quốc bị hồi hương từ Cam Bốt ngày 18/10/2025, toàn bộ những người này đều bị coi là nghi phạm hình sự, chứ không chỉ đơn thuần là người được đưa về nước. Do máy bay thuê bao KE9689 mang quốc kỳ Hàn Quốc được xem là lãnh thổ Hàn Quốc, cảnh sát đã thi hành lệnh bắt giữ ngay khi máy bay cất cánh. Theo Yonhap, mỗi nghi phạm bị 2 cảnh sát áp giải ngay trên máy bay. Khi hạ cánh tại sân bay Incheon, toàn bộ 64 người bị còng tay, chia thành nhóm và đưa về 5 đồn cảnh sát trung ương để thẩm vấn theo Luật Hình sự và Luật đặc biệt về tội phạm mạng - tài chính. Theo Cơ quan Cảnh sát Quốc gia (NPA), các nghi phạm được phân loại thành ba nhóm : Nạn nhân bị cưỡng bức - được xem là nạn nhân của tội buôn người nếu có bằng chứng bị giam giữ, tra tấn hoặc tịch thu hộ chiếu; nhóm người này được bảo vệ, hỗ trợ tâm lý và không bị truy tố ; Đồng phạm hoặc “cố vấn” - những người chủ động tham gia, quản lý người khác hoặc hưởng lợi từ tiền lừa đảo; có thể bị phạt tù 10-20 năm và tịch thu tài sản; hiện đang bị giam tại Seoul, Nambu và Suwon ; Người tự đầu thú hoặc hợp tác phá án - 5 người tự ra trình diện được khoan hồng và giảm án nếu cung cấp thông tin hữu ích về mạng lưới tội phạm. Cảnh sát đang so khớp dữ liệu IP, tài khoản ngân hàng, và tin nhắn Telegram với hồ sơ của Interpol và cảnh sát Cam Bốt để xác định mức độ tham gia. Những ai có bằng chứng thao tác trực tiếp trong hoạt động lừa đảo (scam) sẽ bị truy tố hình sự, trong khi người bị cưỡng bức sẽ được xử lý theo Luật Bảo vệ nạn nhân buôn người. Bộ Tư Pháp Hàn Quốc đang xem xét mở rộng quyền xét xử ngoại lãnh thổ, cho phép truy tố tội phạm Hàn Quốc ở nước ngoài như phạm tội trong nước. Đây là một bước đi nhằm khép lại “vùng xám pháp lý” kéo dài nhiều năm qua.
Với những khu phố sầm uất và những tòa nhà chọc trời, Jakarta là một thành phố sôi động nhưng đang dần biến mất. Việc khai thác nước ngầm quá mức đã gây ra tình trạng sụt lún đất ở mức báo động: từ 8 đến 20 cm mỗi năm. Ở một số khu vực, mặt đất nằm dưới mực nước biển đến 4 mét. Hậu quả ngày càng khó lường: lũ lụt ngày càng trầm trọng, cơ sở hạ tầng bị hư hại và các dòng sông không còn chảy tự do ra biển. Vào năm 2014, nữ nhiếp ảnh gia người Hà Lan Cynthia Boll tình cờ đọc được thông tin về dự án xây dựng một bức tường chắn sóng khổng lồ ở Vịnh Jakarta. Đó chính là khởi đầu của một hành trình mà sau này sẽ dẫn đến "Thành phố đang chìm", một dự án nhiếp ảnh dài hạn về một trong những mối đe dọa đối với nhiều đô thị trên thế giới: tình trạng sụt lún đất. Năm 2022, Cynthia Boll đã hợp tác với nhà báo kiêm nhà làm phim tài liệu Stephanie Bakker để khám phá sâu hơn về dự án này, cả về mặt hình ảnh lẫn báo chí. Họ chia sẻ những trải nghiệm của cư dân thành phố khi đối mặt với cả hiện tượng sụt lún đất và biến đổi khí hậu. Mục tiêu của họ không chỉ là nêu bật những rủi ro mà còn khám phá cách mà mỗi cá nhân thích nghi, chống chọi hoặc suy nghĩ lại về môi trường của họ, cũng như những bài học mà trải nghiệm của họ có thể mang lại cho thế giới. Phóng sự ảnh của Cynthia Boll tựa đề “Cuộc di dời thủ đô Indonesia” ( "La migration de la capitale indonésienne" ) đã được giới thiệu tại Liên hoan ảnh báo chí quốc tế Visa pour l’image tại thành phố Perpignan miền nam nước Pháp vào đầu tháng 09/2025. Trả lời RFI Việt ngữ tại Perpignan, Cynthia Boll cho biết: “Tình trạng sụt lún không chỉ là thách thức đối với Jakarta, mà có tới 20% thành phố trên toàn thế giới bị tình trạng này, tức là ảnh hưởng đến rất nhiều người, đến cả hàng triệu người. Jakarta đáng chú ý vì họ có kế hoạch di dời thủ đô để giải quyết vấn đề ngập nước, quá tải dân số và tắc nghẽn giao thông. Họ có làm được như vậy không, đó là một quá trình rất đáng theo dõi. Lần đầu tiên tôi đến Jakarta là vào năm 2014 và kể từ đó tôi đã quay lại thành phố này hàng năm, thậm chí đôi khi là hai lần một năm, tức là trong một thời gian dài. Điều đáng nói là ở miền bắc, mỗi lần đến tôi đều thấy có sự thay đổi. Dự án này thể hiện góc nhìn của những người đang sống ở đó, tùy theo là một nữ sinh, một ngư dân hay một kỹ sư. Tôi nói chuyện với họ để lắng nghe suy nghĩ của họ.” Cynthia Boll đã lặn lội ( theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen ) đến khu vực Muara Angke, phía bắc Jakarta, để chụp các bức ảnh tại nơi thường xuyên bị ngập lụt nghiêm trọng do thủy triều, khi nước biển tràn qua đê và chảy vào các vùng trũng thấp. Hiện tượng này, mà người dân địa phương gọi là "rob", gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của họ. Trong bức ảnh, một số người dân đang đi trên đường phố bị ngập quá nữa người, nhưng vẫn nở nụ cười cam chịu trước ống kính của nữ nhiếp ảnh gia người Hà Lan. Cynthia Boll nêu lên những quan sát của cô trong những lần đi thực tế đến các khu vực thường xuyên bị ngập nước ở Jakarta: ”Thật thú vị khi thấy mọi người thích nghi như thế nào với tình hình, với mỗi loại lũ lụt khác nhau, chẳng hạn như lũ lụt do mưa làm nước sông dâng cao. Ở miền bắc, người dân cũng phải hứng chịu nước từ biển khi thủy triều lên. Ai cũng lo chuyển đồ đạc có giá trị lên tầng một để bảo vệ chúng. Những giấy tờ quan trọng thì họ bọc kín lại. Nói chung, họ có một cơ chế đối phó và đã quen với điều đó. Nhưng họ cũng nói rằng lũ lụt đang trở nên thường xuyên hơn và tồi tệ hơn. Chẳng hạn như trong bức ảnh này, chúng ta thấy người dân trong xóm đang nâng một chiếc xe máy lên một chỗ cao hơn, vì nhà của một người đang bị ngập và nước ngày càng dâng cao.” Nói chung, tình trạng ngập lụt thường xuyên gây rất nhiều xáo trộn cho sinh hoạt của người dân Jakarta, nhất là ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là đối với trẻ em, nô đùa trong nước bị ô nhiễm, như ghi nhận của nhiếp ảnh gia Cynthia Boll: “Nhìn vào bức ảnh này, bạn sẽ thấy một người phụ nữ cùng chồng đang bán rau trên một chiếc xe đẩy và họ đi qua khu vực đó để bán trái cây và rau củ. Đường phố ngập lụt, họ vẫn đi bán, nhưng việc buôn bán trở nên khó khăn hơn. Trong hình này, đường phố trở thành giống như là một chợ nổi. Ấy là chưa kể khi lũ lụt xảy ra, giá nước sạch cũng tăng cao, giá cả mọi thứ đều tăng. Trong hình kia, bọn trẻ chơi đùa dưới nước và đối với chúng, đó là một sân chơi. Gia đình này sống ngay cạnh biển, thậm chí cách nhà họ chưa đầy 50 mét, khi thủy triều lên, nước tràn qua đê, khiến khu vực này thấp hơn mực nước biển. Vì vậy, toàn bộ nước tràn vào đường phố, và khi thủy triều xuống thấp hơn, nước lại tràn ra ngoài. Tình trạng này xảy ra vài lần mỗi hai tháng. Có rất nhiều vấn đề về sức khỏe cộng đồng đối với người dân nơi đây. Khi thủy triều xuống, nước sẽ đọng lại đôi khi trong nhiều ngày, dẫn đến các bệnh lây truyền qua nước. Vào những thời điểm mưa nhiều hơn và lũ lụt nghiêm trọng hơn, ta có thể thấy điều đó qua các buổi khám sức khỏe cho trẻ em, với số trẻ bị bệnh hơn cao hơn nhiều so với trước đây, do lũ lụt và bệnh tật.” Đối mặt với viễn cảnh Jakarta tiếp tục chìm, chính phủ đã chọn một giải pháp triệt để: xây dựng một thủ đô mới từ con số không. Ngày 18/01/2022, Quốc Hội Indonesia đã thông qua luật dời thủ đô từ Jakarta sang đảo Borneo. Công trình xây dựng đã bắt đầu ngay từ năm đó. Nusantara, thủ đô tương lai của Indonesia, nằm ở tỉnh Đông Kalimantan, được kỳ vọng trở thành di sản để đời đối với tổng thống sắp mãn nhiệm Joko Widodo. Ông muốn một trung tâm mới cho chính phủ, nơi sẽ không còn tình trạng quá tải và ngập lụt như thủ đô Jakarta hiện nay. Nusantara, một dự án tốn kém 32 tỷ đô la, theo dự kiến sẽ là một thành phố thông minh, bền vững, sử dụng 100% năng lượng tái tạo và đạt mức trung hòa carbon vào năm 2045. Được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của hai triệu người, dự án này được kỳ vọng sẽ giảm áp lực lên Jakarta. Nhiếp ảnh gia Cynthia Boll đã nhiều lần đến Nusantara để ghi lại những hình ảnh về tiến độ xây dựng thủ đô mới, nơi mà nước mưa sẽ được tích trữ và dòng chảy của nước sẽ được quản lý ở cấp độ địa phương, tạo thành một thành phố "thấm nước". Một bức ảnh của nữ nhiếp ảnh gia Hà Lan chụp một phòng điều khiển đã được xây dựng xong, sẵn sàng cho việc quản lý nước sạch, nước thải và báo động lũ lụt ở Nusantara. Nhưng việc xây dựng một thành phố mới không phải là đơn giản. Những vấn đề nhạy cảm về chính trị, đầu tư hạn chế và sự chậm trễ trong xây dựng đã phủ bóng đen bất định lên tiến độ thực hiện. Vẫn còn nhiều nghi vấn về việc di dời công chức, ban đầu được lên kế hoạch vào năm 2024. Cynthia Boll cũng bày tỏ sự hoài nghi về tính khả thi của dự án, nhất là dưới chính quyền của tổng thống mới Prabowo Subianto, nhậm chức từ tháng 10/2024: “Tôi bắt đầu theo dõi dự án này từ khi họ được cho là sẽ di dời người dân. Điều đó vẫn chưa xảy ra. Việc di dời thủ đô là một dự án đầy tham vọng và tốn kém. Bây giờ Indonesia đã có một tổng thống mới. Liệu ông có ưu tiên dự án này trong chương trình hành động của ông hay không, đây vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Không ai biết điều gì sẽ xảy ra nếu thành phố này trở thành thủ đô mới, hoặc không biết sẽ có người đến đó ở hay không. Mọi thứ đều không rõ ràng và không chắc chắn.” Những con đường rộng rãi, vắng vẻ của Nusantara nay vẫn tương phản rõ rệt với những con phố đông đúc của Jakarta. Liệu Nusantara có thể trở thành một thủ đô thịnh vượng? Hay nó sẽ chỉ là hình ảnh phác họa cho một tương lai không bao giờ thành hiện thực?
Tại đất nước được cho là khép kín nhất thế giới, nơi mọi hoạt động tiếp cận thông tin, mọi phương tiện truyền thông chính thức đều bị chế độ kiểm soát chặt chẽ nhưng lại vẫn có những vụ hành quyết công khai những người trẻ “mắc tội” xem các nội dung đến từ nước ngoài. Điều đó đã khiến không ít người tự hỏi rốt cuộc những thông tin này đã lọt qua được mạng lưới kiểm soát của chính quyền và đến được với những người dân Bắc Triều Tiên ra sao. Hành quyết công khai Hồi cuối tháng Sáu, bộ Thống Nhất Hàn Quốc ra một báo cáo cho biết chế độ Kim Jong Un đã tiến hành các vụ xử tử công khai theo “luật chống tư tưởng phản động” được ban hành năm 2020. Theo Le Monde, báo cáo dựa trên lời khai của 649 người tị nạn Bắc Triều Tiên đã trốn khỏi đất nước trong những năm gần đây, cho thấy nỗi lo ngại của chế độ Bình Nhưỡng trước những nội dung mang lại hình ảnh tích cực cho “kẻ thù phương Nam”. Trong báo cáo, tất cả những người tị nạn đều phát biểu ẩn danh. Một người cho biết đã chứng kiến vào năm 2022 cảnh hành quyết công khai một công nhân nông nghiệp 22 tuổi trong một mỏ thuộc tỉnh Hwanghae, nằm ở phía tây nam Bắc Triều Tiên. Vị thẩm phán khi tuyên án đã nói: “Anh ta bị bắt vì nghe bảy mươi bài hát và ba bộ phim của lũ tay sai bù nhìn (ám chỉ người Hàn Quốc). Trong quá trình thẩm vấn, phát hiện ra rằng anh ta đã phân phát những nội dung này cho bảy người khác.” Một nhân chứng khác thì cho biết ba người quen của bà đã bị xử bắn công khai trong năm 2023 vì họ đã xem phim truyền hình Hàn Quốc. Bà nói thêm rằng chế độ đã gọi họ là “những kẻ phản quốc.” Cha mẹ cũng bị buộc phải ký vào bản cam kết với nội dung: “Tôi đảm bảo rằng con tôi không xem các nội dung video không trong sáng tại nhà.” Không chỉ xem những bộ phim đến từ phương Nam, bất cứ ai ăn mặc hoặc nói chuyện theo “phong cách bù nhìn”, (tức phong cách Hàn Quốc), cũng đều bị gọi là “phản động”. Một số lời khai khác còn cho biết các thanh tra rà soát kỹ lưỡng danh bạ trong điện thoại di động để bảo đảm là tên được lưu theo cách gọi của Bắc Triều Tiên, chẳng hạn như “Cha”, thay vì theo cách gọi của Hàn Quốc như “Bố”. Điều này đặt ra một câu hỏi, rốt cuộc vì sao giới trẻ Bắc Triều Tiên vẫn có thể tiếp cận được với những thứ đến từ nước ngoài ? Những thông tin, bộ phim hay ấn phẩm từ Hàn Quốc đã lọt vào đất nước khép kín nhất thế giới như thế nào ? Mời quý vị cùng theo chân thông tín viên RFI Célio Fioretti đến gặp những người từng trốn thoát thành công khỏi chế độ Bình Nhưỡng và lắng nghe câu chuyện của họ. Câu chuyện về những người truyền tin Dù không có kết nối Internet toàn cầu và việc ra vào lãnh thổ được kiểm soát nghiêm ngặt nhưng vẫn có những thông tin lọt được qua lưới kiểm soát. Điều này là nhờ công việc của một số người, trong đó có Park Jong Ho, bản thân ông cũng là một người tị nạn Bắc Triều Tiên, nay đã trở thành người truyền tin. Ở bờ biển hoang sơ của đảo Gangwado, nơi có thể nhìn thấy bờ biển phía bắc chỉ cách vài cây số, Park Jong Ho và nhóm của ông thả xuống biển những chai nhựa bên trong chứa gạo và USB. Khi được hỏi mục đích của việc làm này là gì, ông Park cho hay : “Chúng tôi dùng những chai nhựa như thế này, khoảng một lít hoặc hơn. Chúng tôi cho gạo vào, vì Bắc Triều Tiên thiếu lương thực nghiêm trọng. Trong thời Covid, chúng tôi còn cho thêm khẩu trang và thuốc men. Rồi chúng tôi bỏ thêm USB và thẻ SD. Trong đó có phim, phim truyền hình Hàn Quốc, và cả thông tin về Bắc Triều Tiên – những điều mà chế độ cố gắng che giấu, như tình trạng nghèo đói, suy dinh dưỡng hay bệnh tật. Sau đó, chúng tôi thả chai xuống nước, dòng hải lưu sẽ đưa chúng đến bờ biển Bắc Triều Tiên.” Ông Park giải thích tiếp : “Khi còn ở Bắc Triều Tiên, công việc của tôi là gây nhiễu sóng radio để chặn mọi tín hiệu từ bên ngoài. Tôi bảo đảm với bạn rằng rất khó bắt được đài nước ngoài. Nhưng có đến một phần ba người dân Bắc Triều Tiên có điện thoại di động hoặc máy tính. Dù không kết nối Internet, họ vẫn có thể đọc được những gì chúng tôi gửi qua USB. Và điều đó thì chế độ không thể lần ra được.” Khi được hỏi về hiệu quả của phương pháp này và rằng liệu nhóm của ông đã từng nhận được phản hồi từ người Bắc Triều Tiên nào tìm thấy những chai này chưa, ông cho biết : “Có. Có một câu chuyện khá thú vị. Một người tị nạn kể với tôi rằng anh ta từng tìm thấy một chai nhựa trên bờ biển, bên trong có USB của chúng tôi. Anh ta đã xem những gì trong đó và nói rằng điều đó đã thôi thúc anh cùng gia đình trốn đi. Nhưng vì sợ cảnh sát lục soát và phát hiện USB từ nước ngoài, anh ta định nuốt chiếc USB để giấu cảnh sát. Anh ta còn nói: “Lần sau, làm ơn hãy dùng USB nhỏ hơn, cái này nuốt khó quá.” “Chợ đen”, cánh cửa mở ra thế giới Đương nhiên những chiếc chai nhỏ mang theo lương thực và thông tin về đất nước phía Nam không phải là con được duy nhất giúp người dân Bắc Triều Tiên tiếp cận với thế giới bên ngoài. Trong nạn đói những năm 1990, nhiều người Bắc Triều Tiên đã sang Trung Quốc. Khi ở đó, họ có thể mang hàng hóa về. Chính từ đó mà nạn buôn lậu qua biên giới Trung – Triều bắt đầu phát triển. Những hàng hóa từ Trung Quốc này sau đó được bày bán tại các Jangmadang, tức là các chợ tự phát. Nhưng khi nói đến “chợ”, cần phân biệt nhiều loại. Có những chợ chính thức, được chế độ cho phép, nhưng cũng có rất nhiều chợ tư nhân, do các cá nhân điều hành, hoạt động ngoài tầm kiểm soát của chính quyền Bình Nhưỡng. Cô Anna Song, chuyên gia nghiên cứu dữ liệu về Bắc Triều Tiên, cho biết : “Hầu như có đủ mọi thứ tại các khu chợ này, giống như những gì ta có thể thấy ở một khu chợ chính thức. Nhưng điều người ta thường nhắc đến nhiều là việc trao đổi thông tin cũng diễn ra tại những khu chợ này. Ở những khu chợ phi chính thức, trong các ngõ nhỏ, dưới mái tôn của những nhà kho, hoặc ngay tại nhà riêng – cả một thế hệ người Bắc Triều Tiên đã lớn lên cùng với hệ thống “tự xoay sở” này. Chính nó đã giúp họ có được công cụ để suy nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ ý thức hệ mà chế độ áp đặt.” Từ dân thường đến những người thân cận với chế độ Để tìm hiểu sâu hơn về cách người Bắc Triều Tiên tiếp cận với thế giới thông qua các khu chợ tự phát này, thông tín viên của RFI đã đến gặp Oh Gang Myung, một thanh niên từng đào thoát khỏi chế độ Bình Nhưỡng cùng với cha mẹ mình và hiện anh đang là một chủ doanh nghiệp về công nghệ thông tin ở Hàn Quốc. Anh Oh cho biết đã tiếp cận với các chợ đen vì đã phải trải qua một tuổi thơ nghèo khó.Anh nói : “Cha mẹ tôi làm việc ở mỏ. Đó là vào những năm 90, thời kỳ nạn đói. Tôi đã chứng kiến hàng xóm chết vì đói. Vì vậy phải kiếm chút tiền ở chợ đen. Gia đình tôi bắt đầu nấu rượu và lén mang đi bán ở các chợ đen.” Chính từ đây cánh cửa nhìn ra thế giới đã hiện ra trước mắt anh. Việc phát tán những thông tin này không chỉ dừng lại trong tầng lớp dân thường, qua các hoạt động trao đổi ở chợ đen, mà còn diễn ra trong chính giới tinh hoa, thân cận với chế độ. Cô Kang Ji Yeon, một nữ doanh nhân trẻ hiện đang làm việc ở Hàn Quốc, xuất thân từ một gia đình giàu có, thân cận với quyền lực ở Bắc Triều Tiên. Cô cho biết bản thân lớn lên với các phim ảnh và ấn phẩm giải trí của Hàn Quốc trước khi đào thoát. Cô Kang nói : “Một người bạn của cha tôi làm việc ở sở cảnh sát. Ông ấy tịch thu các USB hay tạp chí nước ngoài mà người dân sở hữu bất hợp pháp. Nhưng sau đó, ông lại chia sẻ chúng với chúng tôi. Nhờ vậy mà tôi đã xem được rất nhiều phim truyền hình Hàn Quốc. Tôi thấy người Hàn Quốc có cách ăn mặc thật đẹp và phong cách. Chính điều đó đã truyền cảm hứng để tôi khởi nghiệp với thương hiệu thời trang riêng.” Không ít người trẻ Bắc Triều Tiên đào thoát khỏi đất nước đã thành công trong công việc và cuộc sống mới ở Hàn Quốc, dù họ phải trải qua không ít khó khăn và sự cạnh tranh với những người trẻ tại đất nước phía Nam. Tuy nhiên, kể từ đại dịch Covid-19, chủ tịch Kim Jong Un đã siết chặt kiểm soát biên giới. Nếu trong những năm 2010, mỗi năm có hơn 1.000 người Bắc Triều Tiên vượt biên sang miền Nam, thì hiện nay con số này dưới 100 người. Điều đó đã khiến nhiều người tự hỏi liệu thế hệ trẻ này có phải là thế hệ cuối cùng còn có cơ hội trốn khỏi Bắc Triều Tiên, thoát ra khỏi những hoạt động tuyên truyền của chế độ và hoà nhập với thế giới bên ngoài.
Sau khi thử nghiệm thành công ở Áo, Thụy Sĩ, Đức, lần đầu tiên một tòa nhà không sử dụng hệ thống sưởi hoặc điều hòa được xây dựng tại Pháp, tại khu phố Confluence ở thành phố miền trung Lyon. Công trình kiến trúc, thích ứng với biến đổi khí hậu, cho phép duy trì nhiệt độ trong khoảng 22 đến 26 độ C quanh năm, dự trù khánh thành vào tháng 12/2025. Công trình được đặt tên là Essentiel 22-26, ám chỉ đến nhiệt độ được duy trì bên trong tòa nhà đã được khởi công xây dựng từ cuối năm 2024, do văn phòng kiến trúc Baumschlager Eberle của Đức thiết kế. Với 6 tầng, tòa nhà được đặt ở khu phố thương mại tại Lyon, gồm 23 căn hộ, được bán với giá cả phải chăng, khoảng 3000 euro/ m2, thuộc sở hữu của Foncière Solidaire du Grand Lyon. Đây được xem là tòa chung cư vận dụng lý thuyết sinh khí hậu đầu tiên tại Pháp, bảo đảm tiện nghi mùa hè và mùa đông cũng như chất lượng không khí trong nhà bằng các giải pháp kiến trúc thuần túy. Tức là tạo những cấu trúc cách nhiệt và giữ nhiệt thụ động, để tự tạo ra hệ thống làm mát và thông gió, giữ nhiệt một cách tự nhiên, thay vì sử dụng các thiết bị cơ học. Để hiểu rõ về nguyên lý hoạt động của công trình kiến trúc này. RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn kiến trúc sư Anne Speicher, thuộc văn phòng kiến trúc Baumschlager Eberle, phụ trách thiết kế tòa nhà 22-26 này. Xin cảm ơn bà Anne Speicher. Trước tiên, bà có thể cho biết những nguyên lý cơ bản trong việc thiết kế ra tòa nhà đầu tiên ở Pháp ? Thiết kế của chúng tôi tập trung giải quyết 2 câu hỏi quan trọng : Làm sao để giảm thiểu triệt để tiêu thụ năng lượng cho người ở ? Làm sao để tăng sự tiện nghi đồng thời giảm phát thải carbon ? Để làm được điều đó, công trình này dựa trên 3 nguyên tắc chính. Đầu tiên là tính quán nhiệt (inertie). Chúng tôi sử dụng các vật liệu có khả năng giữ nhiệt, hấp thụ nhiệt và giải phóng nhiệt, cũng như độ ẩm và khí lạnh. Ví dụ như kết cáu của sàn nhà, vốn chiếm 70 % khả năng hấp thụ nhiệt lượng của tòa nhà, và các tường bao quanh;, dày 72 cm, gồm hai lớp gạch, và được hoàn thiện bằng vữa vôi bên ngoài và một số vị trí sử dụng kính ba lớp. Nguyên tắc thứ hai là tính thông gió tự nhiên và thứ ba là hệ thống điều khiển thông minh. Một hệ thống điều khiển sẽ giám sát và duy trì tính cân bằng của tòa nhà, dựa trên các thông số về chất lượng không khí (nồng độ CO2), độ ẩm và nhiệt độ. Các mô phỏng và thử nghiệm cho kết quả khả quan, đó là mức tiêu thụ điện ước tính khoảng 2kw/h cho mỗi m2/ mỗi năm.Đây cũng là tòa nhà duy nhất tại Lyon không vượt quá 28 độ C vào màu hè nhờ khả năng điều hòa tự nhiên. Tòa nhà được đặt tại khu phố Confluence, liệu vị trí này có đặc điểm gì cần phải chú ý khi xây dựng ? Khu Confluence có mật độ dân cư cao, gần đường cao tốc và do đó có nhiều tiếng ồn và ô nhiễm, đồng thời khu nằm trong khu vực có hoạt động địa chấn. Tất cả các yếu tố này đã được tính đến trong thiết kế. Cấu trúc tường dày và vật liệu nặng giúp giảm tiếng ồn hiệu quả hơn do so với các cấu trúc gỗ. Các khu nhà ở được bố trí lùi sâu vào trong, còn khu văn phòng, hay các trường học thì nằm ở phía ngoài để chắn tiếng ồn và bụi. Các yếu tố như hướng của công trình, hướng sáng có được tính đến như thế nào ? Công trình có mặt tiền (façade) khá sâu và có kính ốp ở mặt trong, từ 60-72 cm, tạo thành một « mái hắt » tự nhiên và tạo bóng. Các không gian sinh hoạt chính được bố trí ở phía trong, phía sau các khoảng hiên lõm (loggia), tạo chiều sâu thẩm mỹ, vừa giúp cản nắng trực tiếp. Tại Lyon Confluence, chúng tôi chọn giải pháp che nắng bằng rèm ngoài nhẹ, gần như bằng vải. Loại rèm này cho phép không khí đi qua, tạo nên sự cân bằng giữa ánh sáng dễ chịu và thông gió tự nhiên mà vẫn giữ được tầm nhìn thoáng. Hệ thống thông thoáng khí tự nhiên hoạt động như thế nào ? Tất cả các cửa sổ đều có phần không trong suốt, được gọi là phần cửa mở tiện nghi (ouvrant de confort), được điều khiển bằng động cơ, kết nối với hệ thống cảm biến đo nồng độ CO2, độ ẩm không khí và nhiệt độ không gian ở, được bố trí trong các căn hộ. Khi nồng độ CO2 tăng, hệ thống sẽ tự đổng mở ô cửa này. Tất cả dữ liệu đó được truyền về hệ thống quản lý kỹ thuật tòa nhà (GTB) – một hệ thống điều khiển trung tâm vận hành theo thuật toán mà nhóm kiến trúc sư tự xây dựng. Cứ mỗi hai phút, dữ liệu được cập nhật và phân tích. Khi hệ thống nhận thấy nồng độ CO₂ tăng cao, nó sẽ tự động kích hoạt các cửa mở tiện nghi, cho phép thông gió chéo giữa các căn hộ, vốn đều được thiết kế xuyên suốt hai hướng, giúp luồng không khí lưu thông dễ dàng. Tuy nhiên, cư dân vẫn có thể can thiệp thủ công, tự tắt mở hệ thống theo ý họ. Nếu cửa được mở trong thời gian dài, nhất là vào các đợt nắng nóng, hệ thống sẽ cảnh báo người dùng, qua ứng dụng hoặc email (hiện vẫn đang nghiên cứu). Ví dụ, « nếu nhiệt độ ngoài trời lên tơi 38 độ C liên tiếp trong ba ngày, thì nên đóng cửa sổ lại ». Tính quán nhiệt của tòa nhà cao, giống như một hang động hoặc một không gian thánh đường cổ, luôn mát mẻ vào mùa hè. Do đó, một vài cửa sổ mở ra trong thời gian ngắn, cũng không ảnh hưởng đáng kể. Bà có thể nói rõ hơn về cấu tạo tường, độ dày và loại vật liệu sử dụng không? Đó có phải là những vật liệu đặc thù không? Kết cấu chính của công trình là khung bê tông cốt thép dạng cột - dầm, cho phép bố trí không gian linh hoạt như bãi đỗ xe, với rất ít tường chịu lực bên trong. Nhờ vậy, tòa nhà có thể dễ dàng thay đổi công năng hoặc bố trí nội thất trong tương lai mà không cần can thiệp lớn vào kết cấu. Phần tường được xây hai lớp gạch, với mạch vữa so le nhau, giúp hạn chế đáng kể sự truyền nhiệt. Bên ngoài được trát vữa vôi. Đây là một vật liệu tự nhiên, có nguồn gốc sinh học (bio-sourcé), trong đó có pha bột vỏ hàu, vừa giúp giảm đáng kể lượng phát thải carbon, vừa điều hòa độ ẩm bên trong công trình. Lớp vôi kép này góp phần duy trì cân bằng thủy - nhiệt (hydrochromie : khả năng của một vật liệu thay đổi màu sắc khi tiếp xúc với nước hoặc độ ẩm) cho toàn bộ khối nhà. Đối với cấu trúc ngang, vẫn là bê tông, nhưng là bê tông phát thải thấp, tận dụng khối lượng và độ trễ nhiệt (inertie thermique) của vật liệu. Không có trần giả, cho phép sàn bê tông hấp thụ và giải phóng nhiệt trực tiếp. Liệu công trình này có thể được nhân rộng trong tương lai ở Pháp hay không ? Ở Áo, Đức, và Thụy Sĩ, các công trình tương tự đã được triển khai cho nhiều loại hình, như văn phòng, trường học… Văn phòng kiến trúc của chúng tôi cũng đang thực hiện một dự án tương tự cho SNCF ở Bordeaux. Tuy nhiên, tại Pháp, có những đòn bẩy nhưng cũng có những rào cản. Hiện luật của Pháp chưa cho phéo xây dựng nhà ở không có hệ thống sưởi, và mỗi căn hộ phải có ít nhất một bộ tản nhiệt (radiateur), cũng như hệ thống thông gió. Dự án ở Lyon được cấp phép đặc biệt là để thử nghiệm. Liệu người tiêu dùng có phải là một thách thức của công trình này ? Ngoài rào cản pháp lý, thách thức lớn vẫn nằm ở nhận thức của người dùng. Nhiều người muốn tự kiểm soát nhiệt độ nhà ở theo ý muốn. Tại Lyon, các căn hộ của dự án được bán hết trong một tuần. Họ hài lòng về tính tiện lợi của tòa nhà, tự điều chỉnh mọi thứ, như một thiết bị gia dụng thông minh, giúp tiết kiệm năng lượng. Các cuộc khảo sát tại những công trình đã được bàn giao ở những nước khác mà chúng tôi thực hiện cho thấy cư dân đánh giá cao chất lượng không khí trong nhà. Vữa vôi tự nhiên, hấp thụ CO2, duy trì độ ẩm và không gây khô da, khô mũi như khi sử dụng máy điều hòa thông thường. Một số bác sĩ tại Áo còn ghi nhận tỷ lệ bệnh đường hô hấp giảm trong các tòa nhà kiểu này. Liệu chi phí xây dựng có bị đội giá khi kết hợp các yếu tố về môi trường ? Trong dự án tại Bordeaux SNCF, kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí đầu tư không chệnh lệch hơn so với các công trình truyền thống. Còn tại dự án ở Confluence ở Lyon, chi phí đã tăng 12% so với dự tính ban đầu. Tuy nhiên, đó là những yêu cầu bổ sung để đáp ứng các quy chuẩn hiện hành. Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã khẳng định hoàn toàn có thể tối ưu, để đạt chi phí cạnh tranh. Trong tương lai, nhiệt độ được dự báo tiếp tục tăng lên, trong trường hợp này, liệu các thiết kế tòa nhà có còn phù hợp? Hiện các công trình thuộc kiểu 22-26, đều được thiết kế dựa trên dữ liệu khí hậu giả định cho năm 2050 và không phải nhiệt độ hiện nay. Tại Bordeaux, chúng tôi đã xét đến kịch bản 2100, để đảm bảo công trình có khả năng thích ứng lâu dài. Chúng tôi bổ sung một số quạt đối lưu để tăng cảm giác mát mà không cần điều hòa, hoặc các tấm sàn bê có khả năng dẫn và tích trữ nhiệt (dalle active), tức là cho phép dòng nhiệt lạnh lưu thông trong sàn mà không cần đầu tư vào hệ thống thông gió cơ học phức tạp. Ngoài ra, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, điều thực sự bảo đảm tuổi thọ lâu dài của công trình chính là vẻ đẹp của nó. Chúng ta thường ít nhắc đến yếu tố thẩm mỹ. Chúng tôi muốn là không chỉ người cư dân sống trong tòa nhà phải tự hào, đây là điều chắc chắn, mà còn cả những người đi qua hàng ngày, những cư dân xung quanh. Họ cũng phải hài lòng về mặt thị giác, cảm thấy tòa nhà hài hòa và đẹp đẽ trong môi trường đô thị.
Đồng bằng sông Cửu Long (châu thổ sông Mekong), nằm ở vùng cực nam Việt Nam, cũng là vùng sản xuất nông nghiệp then chốt của đất nước, nhất là lúa gạo, trái cây và thủy sản. Thế nhưng, trong những năm gần đây, đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với tình trạng xâm nhập mặn ngày càng phức tạp, không chỉ tác động đến đời sống con người và sinh thái, mà còn ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, khiến nhà nông phải tìm cách chuyển đổi để thích nghi với tình hình. Nhưng đâu là những nguyên nhân và thực trạng mặn ở đồng bằng sông Cửu Long ? Để hiểu thêm tình hình, RFI có cuộc trao đổi với tiến sĩ Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Quản lý tài nguyên thiên nhiên, đại học Cần Thơ và Quỹ bảo tồn đồng bằng sông Cửu Long. RFI tiếng Việt : Đâu là nguyên nhân gây ra mặn đối với cây trồng ở đồng bằng sông Cửu Long ? Tiến sĩ Dương Văn Ni : Về mặn đối với cây trồng ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là đối với sản xuất lúa, người ta chia làm hai loại mặn. Thứ nhất là mặn do nước biển tràn vào. Cái mặn này thường xuất hiện trong mùa khô, khi mà nước ngọt từ sông Cửu Long hoặc lượng nước mưa không đủ để đẩy nước mặn, thì mặn xâm nhập từ biển vào. Loại mặn thứ hai là mặn từ trong đất : chúng ta hình dung là phù sa của sông Mekong đi ra ngoài biển biển thì biến dần thành phù sa mặn. Khi phù sa này quay bồi tụ thì hình thành đất mặn. Đó là đất đó đã có sẵn muối trong đó rồi. Nói nôm na, chúng ta phân biệt làm hai loại mặn, mặn do nước biển và mặn có sẵn từ trong đất. RFI tiếng Việt : Người xưa đã thích ứng với chuyện mặn này như thế nào ? Tiến sĩ Dương Văn Ni : Đối với người xưa, khi đến định cư ở đồng bằng sông Cửu Long này, vùng Duyên Hải sát với phía biển, người ta chia chuyện sử dụng nước làm bốn loại. Thứ nhất là loại nước để ăn uống, đa phần người ta dựa vào nước mưa. Dễ thấy nhất khi xuống những vùng như thế này là thấy là người dân trữ nước mưa trong lu để dọc theo nhà. Mình có thể đếm số lu là có thể đoán biết là trong nhà đó có mấy người. Cái nước thứ hai là nước sinh hoạt, ví dụ để người ta tắm giặt … Phổ biến nhất là khi xây nhà, người ta đào cái ao kế bên nhà để trữ nước ngọt, thường gọi là ao rửa ăn. Và trong một vài trường hợp thì người ta đào những cái ao này xa trong ruộng, gọi là những cái đìa, hoặc là người ta đào những cái ao lớn để cho cả cộng đồng sử dụng, như những cái ao chùa hoặc là những cái ao ở những nơi tập thể. Hiện nay một số nơi còn biệt danh đó, ví như ao Bà Hom ở Trà Vinh. Đó là những cái ao rất lớn để giữ nước ngọt cho cả cộng đồng xài. Loại nước thứ ba gọi là nước sản xuất. Người ta dựa vào chất lượng nước và quyết định loại hình sản xuất. Ví dụ như nơi nào mà nước nó quá mặn thì người ta sử dụng để sản xuất muối. Còn nơi nào mà nước mặn trung bình hoặc là mặn vừa thì người ta để nuôi tôm, nuôi cua. Còn nơi nào mà nước không mặn thì người ta mới trồng lúa hoặc người ta kết hợp với nuôi cá đồng. Cái cuối cùng là nước sinh thái, người ta giữ để cho cây cối xanh tươi, để cho cá tép có chỗ sống, và để cho ghe xuồng có thể đi lại được trên kinh rạch, làm cho không khí mát mẻ. Tôi muốn lưu ý là người xưa cũng đã từng ngăn mặn. Nhưng mà người ta chỉ ngăn mặn từ ở dưới sông tràn lên trên ruộng thôi, chứ không ai ngăn mặn trên những con sông hay con rạch, bởi vì ông bà xưa đã từng dặn là có 2 điều rất là tội lỗi, không nên làm : đó là ngăn sông và cấm chợ. RFI tiếng Việt : Tình hình mặn năm 2025 ra sao và theo ông xu thế tương lai thế nào ? Tiến sĩ Dương Văn Ni : Nói về tình hình mặn hiện nay đó thì cái mặn xâm nhập từ biển vào, phần lớn được kiểm soát bởi các công trình như là đê ngăn mặn hoặc là cống đập ngăn mặn. Nhưng mà thực sự thì cái mặn mà không kiểm soát được là cái mặn từ trong đất đi ra, bởi vì do điều kiện địa chất hình thành vùng đất của mình, tầng đất ở bên dưới đã nhiễm mặn rồi. Thành thử khi mà thiếu cái nguồn nước ngọt bổ sung để rửa mặn hay là ém mặn từ bên trên thì cái mặn từ các cái tầng dưới sẽ mau dẫn lên và làm cho mặn trên mặt đất. Xu hướng mặn từ trong đất xì ra càng ngày càng tăng, bởi vì biến đổi khí hậu làm cho lượng nước ngọt càng ngày càng giảm. Về điều này, nhìn chung là theo xu hướng hiện nay cũng như là trong tương lai, diện tích của đất bị ảnh hưởng bởi mặn chỉ có tăng thôi chứ không có giảm. RFI tiếng Việt : Tình hình cụ thể năm nay so với, ví dụ như năm 2023 hay 2024, cái cái mặn này có tăng lên nhiều không ? Tiến sĩ Dương Văn Ni : Thật ra thì cái mặn đã có sẵn trong nước và trong đất. Nó là tự nhiên. Vấn đề khi là đánh giá là năm nay mặn nhiều hơn năm rồi hay là mặn ít hơn năm rồi thì chủ yếu là người ta dựa vào diện tích canh tác bị thiệt hại. Mà ở đây cụ thể là diện tích canh tác lúa. Cái đỉnh mà gọi là bị xâm nhập mặn trầm trọng nhất là năm 2015 và 2016, mặn xâm nhập rất là sâu vào trong đất liền và ảnh hưởng rất nhiều đến diện tích trồng lúa. Có 2 nguyên nhân. Nguyên nhân thứ nhất là mặn xâm nhập sớm, người ta trở tay không kịp. Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là người ta đã lấn, người ta đã đưa cây trồng vật nuôi không phù hợp với nước mặn, mở rộng diện tích ra gần biển quá nhiều trong những năm trước. Và như vậy khi mặn xâm nhập thì sẽ gây ra diện tích thiệt hại càng lớn. Và theo hướng đó thì những năm sau 2016 đến nay, cũng có những năm như 2020, 2022 mặn cũng khá nhiều nhưng mà thiệt hại, chủ yếu là thiệt hại trên diện tích canh tác lúa, không tăng bởi vì người dân đã có kinh nghiệm. Có nghĩa là những diện tích này không còn phù hợp để cho trồng lúa nữa và người ta giảm diện tích lúa cũng như là giảm mùa và vụ xuống. Thay vì hồi xưa trồng 2-3 vụ thì bây giờ người ta chỉ trồng một vụ thôi, do đó né được cái mặn. Hay nói nôm na là người ta có kinh nghiệm để tránh mặn. RFI tiếng Việt : Đâu là những nguyên nhân chính làm cho mặn có thể trở nên trầm trọng hơn? Liệu biến đổi khí hậu có góp phần vào nạn này không ? Tiến sĩ Dương Văn Ni : Nói về nguyên nhân làm cho mặn có thể trầm trọng hơn thì chúng ta có thể liệt kê ra 4 nhóm nguyên nhân chính. Thế nhưng, nguyên nhân đầu tiên vẫn là kiểu sử dụng đất của người nông dân, có nghĩa là người nông dân đã chọn cây trồng vật nuôi đó có tính tới chuyện cây trồng vật nuôi đó có chịu mặn được hay không ? Và quy trình quản lý cây trồng vật nuôi đó có giúp ngăn chặn được tác hại của mặn hay không? Cái thứ hai là chuyện vận hành hệ thống công trình như là đê điều cống đập. Hiện nay cách vận hành đó còn manh mún và chưa đồng bộ, thành thử thí dụ một nơi này thì đóng cống để mà ngăn nước mặn, nhưng mà nơi kia thì lại mở cống, thành thử mặn nó sẽ xâm nhập phía sau, phía trước. Đó là vấn đề thứ hai. Vấn đề thứ ba là nguồn nước ngọt từ sông Mekong. Chúng ta biết là nguồn nước ngọt ở thượng nguồn bây giờ đang bị khai phá rất là nhiều cho sản xuất, nên đôi khi trong mùa nắng thì mình thiếu nguồn nước ngọt để đẩy nước mặn xâm nhập vào đồng bằng đi ra ngoài xa. Và cuối cùng là biến đổi khí hậu, ở đây cụ thể là sự phân bố thất thường lượng nước mưa. Nếu lượng mưa phân bố thất thường, thì tại những vùng chủ yếu rửa mặn từ nước mưa, thì người ta không có đủ nước để rửa cho đất, những nơi đó là ảnh hưởng mặn càng ngày càng tăng nghiêm trọng hơn. RFI tiếng Việt : Mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu có phải là một nguyên nhân đẩy nước mặn vào sâu trong đồng bằng sông Cửu Long hơn ? Tiến sĩ Dương Văn Ni : Thật ra nếu nói về chuyện mực nước biển dâng, thì tác động không nhiều bằng mà chuyện lún sụt mặt đất ở trong đất liền, bởi vì vận tốc sụt lún mặt đất ở trong đất liền hiện nay trung cũng khoảng chừng 1-2cm/năm, đặc biệt là có những vùng nhiều hơn, trong khi mực nước biển dâng chỉ có không phẩy mấy cm trong vòng 2-3 năm. Nên thực ra mực nước biển dâng có góp phần gây xâm nhập mặn, nhưng đó là một tiến trình lâu dài, chứ không xuất hiện từng năm, mà vận tốc tăng cũng rất chậm, trong khi sụt lún mặt đất của chúng ta trầm trọng hơn vì tốc độ nhanh hơn, nên làm nước mặn xâm nhập vô đất liền nhiều hơn. RFI tiếng Việt : Vậy sụt lún mặt đất có phải phần nào cũng là do việc người dân hút mạch nước ngầm lên, ví dụ để sử dụng phục vụ tưới tiêu sản xuất ? Tiến sĩ Dương Văn Ni : Sụt lún mặt đất thì chúng ta phải xét trên trên nhiều góc độ. Thứ nhất là chúng ta phải hiểu là đồng bằng của chúng ta hình thành được là do quá trình bồi lấn phù sa nhiều hơn là quá trình xói lở phù sa, nên mới tạo ra được mặt đất. Nếu quá trình bồi lấn phù sa đó nhỏ hơn quá trình sạt lở phù sa thì mặt đất của chúng ta tự nó cũng đã thấp xuống mỗi năm. Tôi cho rằng chuyện thiếu hụt phù sa bù đất cho những vùng đất hiện nay là yếu tố chính, bởi vì nhiều lý do liên quan tới kiểu sử dụng đất của người dân. Ví dụ như hồi trước có nhiều vùng qua mùa nước lũ người ta còn mở đê để lấy nước, phù sa còn bồi lấn trên đồng. Còn hiện nay, người ta quản lý nước chặt chẽ để canh tác suốt năm, phù sa không có cơ hội đi vào đồng ruộng, nên đồng ruộng không được bồi lấn tự nhiên lên, do đó mặt đất càng ngày càng sụt xuống. Cái thứ hai là chuyện trưởng thành của loại đất. Đất ở đồng bằng của chúng ta nó thuộc về đất non trẻ và đối với một đất non trẻ này thì tự nó khi mà nó săn chắc lại thì nó co ngót lại và cũng tạo ra một độ sụt lún tự nhiên. Và nguyên nhân thứ ba thì chắc chắn là do bây giờ người ta lấy quá nhiều nước ngầm. Ngày xưa người ta chỉ lấy để làm nước sinh hoạt và ăn uống trong giai đoạn thiếu nước thôi, còn ngày nay người ta lấy nước ngầm để phục vụ cho sản xuất nữa, thành thử lượng nước ngầm khai thác mỗi nơi phục vụ cho sản xuất rất lớn, gấp mấy chục lần lượng nước cần thiết để sinh hoạt. Đây là cũng là nguyên nhân làm cho mặt đất sụt lún rất nhanh. RFI tiếng Việt : Trường hợp mặn của đồng bằng sông Cửu Long thì có phải là cá biệt trên thế giới hay không ? Hay cũng có một số khu vực trên thế giới cũng có tình trạng giống như đồng bằng sông Cửu Long ? Quỹ bảo tồn đồng bằng sông Cửu Long có thể học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với những khu vực đó không ? Tiến sĩ Dương Văn Ni : Thật sự mà nói tất cả đồng bằng trên thế giới này đều có những thách thức tương tự như đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng mà đồng bằng sông Cửu Long thì được xếp một trong 3 đồng bằng chịu tổn thương nhiề
Vụ trộm táo bạo hôm 19/10/2025 tại Louvre, một trong những biểu tượng văn hóa của Pháp tại Paris, bảo tàng nổi tiếng nhất thế giới, được xem là « vụ trộm thế kỷ » gây chấn động công luận trong và ngoài nước Pháp. Đây không chỉ là một mất mát cho giới bảo tàng của Pháp, với những bộ sưu tập hàng đầu thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi về an ninh tại các bảo tàng, nhà thờ, công trình văn hóa … Bộ trưởng Văn Hóa Pháp Rachida Dati cũng thừa nhận rằng bảo tàng Louvre không phải là trường hợp cá biệt, « đã tồn tại những lỗ hổng an ninh và chúng cần được giải quyết ». Quả thực, vấn đề bảo vệ an ninh, tài sản tại các bảo tàng chưa bao giờ lại là chủ đề gây tranh cãi nhiều đến vậy. Trong khi dư luận dậy sóng, đặt lại các câu hỏi về biện pháp bảo vệ an ninh của bảo tàng Louvre nói riêng và cảnh sát Paris nói chung, hàng trăm chuyên gia tích cực điều tra về vụ trộm táo bạo cướp đi 88 triệu euro báu vật của Pháp, thì vào ngày thứ Ba, 28/10, Cục Thông tin, Tình báo và Phân tích Chiến lược về Tội phạm có tổ chức (Sirasco) của Pháp ghi nhận sự gia tăng các vụ trộm đồ tạo tác (các vật phẩm được con người tạo ra, thường mang giá trị khảo cổ) và tác phẩm nghệ thuật của các bảo tàng trong thời gian gần đây. Trung bình, mỗi năm có khoảng 20 vụ trộm cắp tại hơn 1.200 bảo tàng trên toàn nước Pháp. Nhưng theo AFP, báo cáo của Sirasco đã vẽ nên một bức tranh đáng lo ngại, nêu rõ là « các bảo tàng, nhà thờ và cá nhân tại Pháp ngày càng trở thành mục tiêu của tội phạm nhắm vào những báu vật và tác phẩm nghệ thuật quan trọng mà họ sở hữu ». Cục Cảnh sát Tư pháp Quốc gia (DNPJ) lưu ý là nhiều vụ trộm di sản hoặc hiện vật văn hóa khác đã liên tục xảy ra trong những tuần gần đây. 7 vụ trộm nghiêm trọng chỉ trong vòng 2 tháng Ví dụ, vào ngày 20/10, khi cả nước Pháp còn đang kinh ngạc về vụ trộm ở Louvre, thì bảo tàng Langres ở tỉnh Haute-Marne, vùng Grand Est, miền đông bắc, cũng bị trộm đột nhập, nhắm vào các đồng tiền vàng và bạc có từ thế kỷ 18. Trước đó, vào đầu tháng 9, một hiện vật là đồ sứ Trung Quốc, được xếp hạng « bảo vật quốc gia », đã bị đánh cắp khỏi bảo tàng Dubouché ở Limoges. Thiệt hại ước tính lên tới hơn 6,5 triệu euro. Vào ngày 21/10, một công dân Trung Quốc đã bị bắt tại sân bay Barcelona, Tây Ban Nha, với 1 kg vàng nấu chảy : người này bị tình nghi đã tham gia vào vụ trộm gần 6 kilogram vàng tự nhiên (chưa qua tinh chế) tại bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở Paris hồi tháng 09. Hôm 12/10, bảo tàng về tổng thống Pháp Jacques Chirac (nhiệm kỳ 1995-2007) ở Sarran, Corrèze, cũng trở thành mục tiêu. Những kẻ phạm tội nhắm vào các quà tặng ngoại giao mà ông Chirac đã được các nước tặng trên cương vị tổng thống, trong đó có đồng hồ và trang sức. Jean-Baptiste-Félicité, người đứng đầu Văn phòng Trung ương về Chống Buôn bán Tài sản Văn hóa (OCBC), xác nhận trong phiên điều trần trước Ủy ban Văn hóa của Thượng viện Pháp ngày 29/10/2025 : « Chúng tôi thấy có sự gia tăng các vụ nghiêm trọng trong hai tháng qua, tức là tháng 09 và 10. Chúng tôi ghi nhận là có ít nhất 7 bảo tàng đã bị nhắm tới trong những vụ mà các thủ phạm có sử dụng bạo lực, thậm chí là dùng vũ khí ». Theo nhà chức trách Pháp, kẻ trộm hoặc nhắm vào các tác phẩm nghệ thuật vì giá trị nội tại của chúng : Đây thường là các vụ trộm được tiến hành kiểu theo đơn đặt hàng, nhưng cũng có thể là ăn trộm rồi bán cho các mạng lưới chuyên tẩu tán hàng ăn cắp ; hoặc kẻ trộm nhắm vào kim loại hoặc đá quý, những món hàng có thể chia tách ra từng phần nhỏ hoặc được nung chảy ra để bán lại mà không sợ bị nhà chức trách phát hiện nguồn gốc là sản phẩm bị đánh cắp. Trong bối cảnh bất ổn định chính trị toàn cầu, vàng được coi là « nơi trú ẩn an toàn », khối lượng vàng mua vào và giá vàng đều tăng chóng mặt trong thời gian qua. Cục Thông tin, Tình báo và Phân tích Chiến lược về Tội phạm có tổ chức (Sirasco) lưu ý rằng các hiện vật làm bằng vàng là mục tiêu đặc biệt bị kẻ trộm nhắm tới. Các đồ vật bằng bạc cũng thu hút tội phạm. Về phương pháp hoạt động, các nhóm tội phạm đôi khi sử dụng « các chiến thuật bạo lực » và « có thể thuê người thông qua các dịch vụ nhắn tin được mã hóa » hoặc qua các mạng xã hội. Để tăng cường an ninh tại bảo tàng Louvre, sau « vụ trộm thế kỷ » kéo dài 7 phút, chủ tịch kiêm giám đốc bảo tàng, Laurence Des Cars, đã yêu cầu đặt một đồn cảnh sát bên trong bảo tàng, nhưng cả bộ trưởng Nội Vụ Pháp, Laurent Nuñez, nguyên cảnh sát trưởng Paris, và tân cảnh sát trưởng Paris, Patrice Faure, đều bác bỏ. Hôm 29/10, trước Ủy ban Văn Hóa của Thượng Viện, cảnh sát trưởng Paris, Patrice Faure phát biểu : « Tôi kiên quyết phản đối, vì hai lý do : nếu chúng tôi chấp thuận yêu cầu này, tất cả các bảo tàng khác đều sẽ yêu cầu chúng tôi đặt đồn cảnh sát ở đó. (…) Tôi không nghĩ việc đặt một đồn cảnh sát bên trong (bảo tàng) sẽ là giải pháp lâu dài cho những khó khăn mà bảo tàng Louvre đang gặp phải (…) Và tôi nghĩ việc đó rõ ràng là sẽ vấp phải một số khó khăn, đặc biệt là bởi vì, nhìn chung thì kẻ trộm sẽ không ở lại nơi chúng đã đột nhập mà sẽ cố gắng thoát ra ngoài và mang theo các món đồ đã lấy trộm ». Chính vì vậy, cảnh sát trưởng Paris nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự hiện diện của cảnh sát xung quanh bảo tàng Louvre, bởi trong năm 2025, cảnh sát đã tiến hành can thiệp gần 1100 lần. Bộ trưởng Nội Vụ cũng đã ra chỉ thị cho các tỉnh trưởng tăng cường hệ thống an ninh quanh các cơ sở văn hóa nếu cần. Trong khi đó, Jean-Baptiste Félicité, Văn phòng Trung ương về Chống Buôn bán Tài sản Văn hóa (OCBC), cảnh báo cần tránh khả năng xảy ra « hiệu ứng Đường Maginot » (effet ligne de Maginot), ý nói tới một sự bảo vệ tưởng chừng vững chắc nhưng thực ra lại là vô hiệu, vì chỉ tập trung vào một mối nguy cũ, trong khi kẻ thù hoặc vấn đề thật sự đến từ nơi khác, nói cách khác là một cảm giác an toàn giả tạo do dựa vào một hệ thống bảo vệ lỗi thời. Trộm cắp không chỉ là mối de dọa duy nhất Trả lời chất vấn của Ủy ban Văn hóa của Thượng Viện, ông Jean-François Hébert, tổng cục trưởng Di sản và Kiến trúc thuộc bộ Văn Hóa, giới thiệu khái quát các mối đe dọa mà các bảo tàng Pháp phải đối mặt trong những năm gần đây: « Chúng ta (nước Pháp) thực sự sở hữu những bộ sưu tập phong phú nhất. Ý và nhiều nước châu Âu khác cũng có những bộ sưu tập rất phong phú, nhưng chúng ta chắc chắn nằm trong số những nước có những bộ sưu tập phong phú nhất thế giới. Và những bộ sưu tập này có thể được trông thấy trên khắp đất nước, nhất tại các bảo tàng. (…) Có 1.220 bảo tàng ở Pháp được công nhận là « Musée de France », danh hiệu « bảo tàng Pháp » dành cho các cơ sở đáp ứng một số tiêu chí mà tôi xin phép không đề cập chi tiết ở đây. 61 bảo tàng trong số này thuộc về Nhà nước, mà chúng tôi gọi là các bảo tàng quốc gia. Hầu hết các bảo tàng còn lại, gần 1.200 bảo tàng, thì do chính quyền địa phương quản lý. Và tất cả các bảo tàng, dù là bảo tàng quốc gia hay bảo tàng do chính quyền địa phương quản lý, thì đều có trách nhiệm, không chỉ lưu giữ, bảo tồn, làm giàu hay nghiên cứu, tìm hiểu về các bộ sưu tập của mình, mà còn phải giới thiệu các bộ sưu tập này đến với công chúng, đến càng nhiều người thì càng tốt. Bảo vệ các bộ sưu tập công khỏi những mối đe dọa mà chúng phải đối mặt không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều nhận thức được điều đó, nhất là bởi vì các mối đe dọa rất đa dạng. Có thể nói đến hỏa hoạn, chúng ta cũng đừng quên nói đến lũ lụt, các hành vi phá hoại, hay là trộm cắp. Tôi muốn nhắc lại về những hành động đã được truyền thông nói đến rầm rộ, những hành động của những người thường được gọi chung là các nhà hoạt động vì khí hậu. Mọi người có thể quên, nhưng chuyện mới xảy ra cách nay chưa quá lâu, chỉ mới 2 năm trước thôi. Những người này đã cố tình xịt một loạt chất lỏng lên một số kiệt tác trong các bảo tàng của chúng ta để lôi kéo công luận chú ý đến cuộc đấu tranh của họ. Riêng về vấn đề trộm cắp, trong trường hợp này, nó không chỉ đơn thuần là làm hư hại các tác phẩm nghệ thuật, và mọi người đều đồng ý rằng mối đe dọa đang không ngừng gia tăng kể từ năm 2015 trở đi, khi bắt đầu có nhiều vụ khủng bố diễn ra. Ngoài ra, còn có các cuộc biểu tình đầy bạo lực diễn ra ngay trước cổng các bảo tàng, đã có rất nhiều áp lực đè nặng lên mọi người. Và giờ đây, chúng ta đã thấy rõ ràng là chính các hiện vật, chính các bộ sưu tập, là mục tiêu bị nhắm tới ». Đây cũng là dịp để báo chí Pháp điểm lại những vụ trộm lớn nhắm vào các bảo tàng danh tiếng của Pháp trong quá khứ. Ví dụ theo trang CNEWS, vào ngày 20/05/2010, 5 kiệt tác của các danh họa Pablo Picasso, Henri Matisse, Georges Braque, Amedeo Modigliani và Fernand Léger, với tổng trị giá lên tới khoảng 100 triệu euro, được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở Paris, đã bị lấy đi ngay giữa ban ngày. Kẻ trộm, một người Croatia-Bosnia có tên là Vjeran Tomic, đã lợi dụng một lỗ hổng bảo mật : các cảm biến chuyển động đã ngừng hoạt động trong 2 tháng. Bị bắt gần một năm rưỡi sau đó, đến năm 2017, « Người Nhện » đã bị kết án 8 năm tù. Mặc dù không có tác phẩm nghệ thuật nào được tìm thấy, nhưng câu chuyện về vụ trộm 5 kiệt tác tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở Paris này đã truyền cảm hứng cho bộ phim Pháp dài tập « Les règles de l’art » - Các quy tắc về nghệ thuật, của Dominique Baumard, được phát hành trong năm nay. Chính bảo tàng Louvre và kiệt tác nổi tiếng nhất « La Joconde » - Nàng Mona Lisa - hồi năm 1911 cũng từng là nạn nhân của một vụ đánh cắp gây chấn động. Vincenzo Peruggia, một người thợ kính người Ý, tham gia vào việc phục chế tranh ở bảo tàng, đã đánh cắp bức tranh vì điều ông ta gọi là lòng yêu nước, để trả lại « La Joconde » cho nước Ý. May mắn là bảo tàng Louvre đã thu hồi lại được tuyệt phẩm của Leonard De Vinci. Lần này cơ may có lặp lại với bảo tàng Louvre sau « vụ trộm có tổ chức » hôm 19/10 hay không ? Các cuộc điều tra vẫn đang tích cực diễn ra, nhưng trước mắt, nhiều chuyên gia và nhà chức trách nhận định khó có thể thu hồi lại được « nguyên vẹn » những báu vật « vô giá về lịch sử » của Pháp. Trong một bài đăng trên Diễn đàn của báo Le Monde hôm 27/10, 57 người đứng đầu các bảo tàng lớn của Pháp



