DiscoverTriết học và Tư duy phản biện
Triết học và Tư duy phản biện
Claim Ownership

Triết học và Tư duy phản biện

Author: Đạt Vũ

Subscribed: 11Played: 34
Share

Description

Rèn luyện tư duy Phản biện thông qua các câu hỏi, vấn đề triết học kinh điển
33 Episodes
Reverse
Bài trước, ta đã tìm hiểu một cách tổng quát về phương pháp của khoa học. Nhưng có những thứ nhìn thì giống khoa học, nhưng lại không tuân theo một quy trình của khoa học theo cách mà giúp ta tự tin hơn trong những phát biểu tri thức. Những thứ này được gọi là giả khoa học (pseudoscience).Ví dụ về giả khoa học có thể kể đến danh sách dài như: vi lượng đồng căn, chiêm tinh học, phân tích chữ viết tay, cảm xạ nước, nghiên cứu hộp sọ…Giả khoa học thường có 3 đặc tính có thể phân biệt được sau đây:Dựa trên những bằng chứng từ kinh nghiệm cá nhân hơn là dựa trên những bằng chứng có thể tái phát triển.Thiếu những bộ khung giải thích (học thuyết)Không thể kiểm sai đượcNgoài ra, có thể kể thêm đến các đặc tính như: chỉ ủng hộ một quan điểm đặc thù nào đó, không sẵn sàng để làm thí nghiệm kiểm thử, sử dụng những từ ngữ cực kì mơ hồ khiến ta khó chỉ ra đâu là các yếu tố nhân quả (ví dụ  ‘năng lượng âm’ hay ‘ý thức lượng tử’), không sẵn sàng thảo luận với cộng đồng khoa học rộng lớn hơn.Một cách tổng quát hơn, khoa học khác với giả khoa học ở chỗ khoa học có sự phát triển hoặc giúp các lĩnh vực khác phát triển. Ví dụ, những kiến thức khoa học về cấu trúc nguyên tử đã giúp tạo ra nhiều loại vật liệu mới. Vi lượng đồng căn, chiêm tinh học hay nhiều kiến thức giả khoa học khác không cho thấy sự tiến triển nào kể từ khi nó ra đời. Sự phát triển của chúng là một đường kẻ ngang.Vẫn có rất nhiều người tin vào các kiến thức giả khoa học, điều đó chứng tỏ giả khoa học có hợp lý (rational). Tuy nhiên, sự hợp lý đó không phải kiểu hợp lý mà chúng ta được học trong khóa học này – đó là sử dụng các lập luận diễn dịch và quy nạp. Giả khoa học vẫn hợp lý theo cách riêng của nó, và đó là thứ tuyệt vời để khuấy động tính tò mò của chúng ta.Bạn có thể tưởng tượng được điều gì xảy ra nếu người ta làm khoa học bằng mọi cách, bất chấp các rào cản về đạo đức. Mời các bạn theo dõi video sau:Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Phương pháp của khoa họcTrong phần 4 của khóa học, chúng ta đã thấy được những lợi ích của việc cùng nhau xác minh các tri thức. Tổng kết lại, ta đã nói về: việc cải thiện độ chính xác khi khái quát hóa, khả năng phát hiện lỗi, tính tái sử dụng và độ tin cậy, bộ khung giải thích và thiên kiến nhận thức.Trong mỗi các trường hợp này, ta thấy rằng việc hợp tác có thể giúp mỗi người tự tin hơn về những gì mình biết. Mặc dù ta không thể giải quyết được triệt để vấn đề được đặt ra bởi chủ nghĩa hoài nghi hay biết chắc 100%, nhưng ít nhất chúng ta cũng cải thiện được điều gì đó trong lý luận của mình.Chúng ta đã phát triển được nhiều cách thức để hệ thống hóa khía cạnh xã hội của việc xác minh tri thức. Một trong số những cách phổ biến nhất, và có lẽ là thành công nhất đó là khoa học.Những phương pháp của khoa học đã phát triển để giúp đối phó với những vấn đề mà mỗi cá nhân không thể tự giải quyết được, và chúng tối ưu nhiều cách trong đó chúng ta có thể cùng nhau tạo ra và xác minh tri thức. Cải thiện việc khái quát hóa. Các nhà khoa học là những người được đào tạo kĩ lưỡng trong việc quan sát, đo đạc và ghi chép. Họ thực hiện điều này bằng những cách thức chuyên biệt cao, như chú trọng vào giá trị định lượng giúp việc phát hiện ra các xu hướng và đưa ra các phát biểu dựa trên khái quát hóa quy nạp trở nên thuyết phục hơn.Phát hiện lỗi. Các nhà khoa học giao tiếp thông qua việc lập luận. Họ đưa ra các tiền đề hay kết luận bằng cách sử dụng các bằng chứng của chính họ hoặc của người khác. Các bài báo khoa học thường báo cáo những gì được phát hiện, được phát hiện ra sao, và có thể tiếp tục suy ra các kết luận gì từ những phát hiện này. Những bài báo này được nhận xét chéo giữa các nhà khoa học với nhau để đảm bảo những lập luận được đưa ra là những lập luận hợp lý. Thông thường, các nhà khoa học làm việc này trước khi mỗi bài báo khoa học được xuất bản. Tái phát triển và độ tin cậy. Một trong những đặc điểm cốt lõi của khoa học là những phát hiện khoa học mới đều được đăng tải công khai trên các tập san khoa học. Điều này cho phép các nhà khoa học khác có thể xác minh bất kì một phát biểu nào. Nó cũng cho phép họ kiểm tra các phương pháp đã được sử dụng có sản sinh ra các bằng chứng đáng tin cậy hay không. Trong khi đó, các bằng chứng xuất phát từ những kinh nghiệm cá nhân ở những môi trường không kiểm soát được – thường không được chấp nhận là bằng chứng vì chúng không thể tái phát triển được.Bộ khung giả thích. Khoa học nổi tiếng trong việc đưa ra các bộ khung giải thích quan hệ nhân quả. Những bộ khung này được gọi là các học thuyết, và là mô hình của vũ trụ, hay các phần của nó, thứ mà cố gắng giải thích tại sao một hệ quả / hiện tượng cụ thể lại xảy ra. Chúng cũng giúp các nhà khoa học đưa ra các dự đoán dựa trên các học thuyết của họ, tức là chúng có thể được điều chỉnh để phù hợp với những bằng chứng mới.Thiên kiến nhận thứcThiên kiến (thành kiến) nhận thức là những thiên kiến mà mỗi cá nhân mắc phải trong tư duy. Chúng không dễ dàng xuất hiện trong cả một nhóm người – mặc dù mỗi cá nhân trong một nhóm thì rất dễ mắc phải chúng. Khi các nhà khoa học đánh giá những công trình nghiên cứu của người khác, họ phải rất cẩn thận để tránh những thiên kiến này (mặc dù không phải lúc nào họ cũng thành công).Khoa học là một ví dụ về cách tiếp cận có thệ thống trong việc cải thiện tư duy phản biện. Nó có nghĩa là giúp nhau cùng tạo ra và xác minh tri thức. Nhưng điều đó không có nghĩa là khoa học luôn luôn đúng. Trong lịch sử, khoa học đã không ít lần đưa ra những  phát biểu sai nhưng lại được chấp nhận rộng rãi. Nhưng việc tìm hiểu thế giới cho đến nay vẫn là công lao của các nhà khoa học. Nó không phải là một hệ thống hoàn hảo, nhưng nó có một tiến trình thực hiện cụ thể – đây cũng chính là điều phân biệt nó với thứ được gọi là giả khoa học.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Chúng ta vẫn thường có nhiều hoài nghi về các phát biểu tri thức. Và đó là khi chúng ta giả định rằng bộ não của chúng ta hoạt động bình thường. Nhưng trên thực tế, chúng ta hay mắc phải những lỗi mang tính hệ thống trong tư duy. Những lỗi này rất khó để nhận ra chứ chưa nói đến việc sửa chữa chúng. Những lỗi như thế này được gọi là thiên kiến nhận thức (coginitive bias). Chúng có thể kiến chúng ta đưa ra những kết luận quá sớm hoặc sai lầm.Một trong các thiên kiến chúng ta hay gặp nhất là thiên kiến xác nhận (confirmation bias). Đó là khi chúng ta chỉ để tâm đến những thông tin khớp với hoặc ủng hộ những niềm tin sẵn có của ta mà xem nhẹ hoặc phớt lờ đi những thông tin không khớp / mâu thuẫn với những niềm tin này.Ví dụ, tôi tin rằng là các học sinh lớp X lười học. Vì vậy, tôi thường chú ý hơn đến các trường hợp học sinh không làm bài tập hay mải nói chuyện riêng trong giờ học mà ngó lơ, không thật sự chú ý đến những học sinh tập trung và chăm chỉ làm bài tập.Đây là lĩnh vực kiến thức rất thú vị, bạn nên tìm đọc 2 cuốn sách là Tư duy nhanh và chậm và Phi lí trí để hiểu sâu hơn.Ngụy biện logicNgụy biện là các lỗi mắc phải khi lý luận (ví dụ ngụy biện thành phần và tổng thể), trái ngược với việc măc lỗi liên quan đến bản chất thực tế của sự vật hiện tượng (factual mistakes). Nếu trong một căn phòng thực tế có 21 người nhưng tôi chỉ đếm thấy có 20 người thì đó là tôi mắc lỗi factual mistakes. Nếu gió làm đổ lọ hoa đang đặt trên bàn đúng lúc con mèo vừa nhảy lên nhưng tôi lại đổ lỗi cho con mèo vì làm vỡ lọ hoa (với lập luận rằng lọ hoa đổ ngay sau khi con mèo nhảy lên) thì tôi đang mắc một lỗi ngụy biện (fallacy).Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Khi tư duy hay lý luận về điều gì đó, chúng ta sử dụng các khái niệm. Chúng ta gọi con dao là con dao và cái bút là cái bút, và cố gắng không nhầm lẫn giữa 2 khái niệm này. Nếu ta gọi con dao là cái bút hay ngược lại, chúng ta đã mắc lỗi và nên sẵn sàng sửa chữa. Khi áp dụng những khái niệm và các thuật ngữ của một loại ngôn ngữ tự nhiên, dường như chúng ta đang tuân theo những quy tắc nhất định. Những quy tắc đó thuộc kiểu quy tắc cấu thành hay không cấu thành? Và như thế nào là tuân thủ một quy tắc mới được?Những quy tắc chi phối việc sử dụng các khái niệm hoặc các thuật ngữ ngôn ngữ học có liên quan tới một thứ gọi là ngữ nghĩa (meaning). Nếu biết quy tắc tôi đang tuân thủ khi gọi thứ gì đó là con dao, tôi có thể được cho là hiểu từ “con dao” nghĩa là gì. Khi đã biết nghĩa của một thuật ngữ, tôi có thể phân biệt thứ này với thứ khác. Nếu tôi biết nghĩa tương ứng của hai từ “con dao” và “cái bút”, tôi biết những điều kiện gì phải được đáp ứng để một thứ được gọi là con dao và những điều kiện gì phải được đáp ứng để một thứ được gọi là cái bút và đâu là sự khác biệt quan trọng giữa hai tập hợp điều kiện này. Nếu biết hai thuật ngữ đồng nghĩa với nhau như “mướp đắng” và “khổ qua”, tôi biết những điều kiện để áp dụng những thuật ngữ này là hoàn toàn giống nhau. Nếu những điều kiện để áp dụng một trong hai khái niệm hay thuật ngữ này không được đáp ứng, thì khái niệm hay thuật ngữ còn lại cũng không nên được áp dụng. Làm như vậy sẽ mắc lỗi hoặc đó là một cách sử dụng từ theo nghĩa bóng. Chưa cần quan tâm đến nghĩa bóng của một từ là gì, như thế nào là thuân thủ một quy tắc chi phối nghĩa đen của một khái niệm hay thuật ngữ trong một loại ngôn ngữ tự nhiên?Đa phần các triết gia và nhà ngôn ngữ học cho rằng các quy tắc chi phối việc áp dụng các khái niệm thuộc loại quy tắc cấu thành. Tức là, chính vì quy tắc “con dao nghĩa là con dao” mà từ “con dao” chỉ được áp dụng cho tất cả những vật thể là thuộc loại dao và gọi một cái bút là con dao sẽ được tính là một lỗi. (Chúng ta đang giả định một ngữ cảnh mà người nói nghĩa đen chứ không phải nghĩa bóng).Đây không thể là quy tắc không cấu thành bởi vì không có vật thể nào có thể được gọi là con dao trước khi có sự xuất hiện của quy tắc con dao.Ngoài sự tồn tại của quy tắc, điều gì quyết định chính âm thanh cũng là một phần của một ngôn ngữ. Điều gì đảm bảo việc tôi thốt ra 2 tiếng “con dao” là có nghĩa mà không phải là một âm thanh bình thường phát ra từ cơ thể như tiếng hắt xì hơi hay tiếng thở dài? Có một vấn đề gọi là loạn ngôn. Nếu hai tiếng “con dao” được thốt ra nhằm ám chỉ một loạt các vật thể như cái bút, bàn chải, cây gậy, cái xẻng, túi xách hay thậm chí là cả ồ hố của bạn – thì chúng ta sẽ không cách nào biết được đâu là trường hợp sử dụng đúng từ “con dao”, đâu là sai. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào tất cả những thứ có thể khiến bạn thốt ra tiếng “con dao”, thì nghĩa của thuật ngữ này sẽ bị loạn trên diện rộng. Nó sẽ có nghĩa là ‘cái bút, bàn chải, cây gậy, cái xẻng, ồ hố hay bất kì thứ gì khác, nếu như các điều kiện đủ đặc thù khiến bạn sử dụng từ ‘con dao’.Nếu tôi không thể chỉ ra sự khác nhau giữa một con dao và một cái bút, thì khi tôi mắc lỗi khi gọi một con dao là cái bút, đó không phải vì bất kì thứ gì mang tính nội bộ (internal) đối với tôi hay cách dùng thuật ngữ “con dao” của tôi. Ngay cả khi tôi chưa một lần trong đời thất bại trong việc phân biệt một cái bút với con dao hay con dao với ồ hố của bạn, thì đó vẫn không phải lỗi của tôi. Đặc tính quan trọng của một quy tắc đó là nó áp dụng cho bất kì một số lượng vô hạn các trường hợp – do đó, ‘con dao’ chỉ tất cả các con dao ở mọi thể loại, bao gồm cả những con dao chưa tồn tại hoặc đã tồn tại và không bao giờ tồn tại – nhưng chúng ta sống có hạn nên chỉ có thể sử dụng từ ‘con dao’ trong hữu hạn các trường hợp mà thôi. Do đó, nếu ta sống lâu hơn, ta luôn luôn có thể tìm ra một cách sử dụng phù hợp của từ “con dao” đối với các vật thể như cái bút, hay cây gậy … thay vì một từ chỉ có một nghĩa. Link tại đây
Khi tư duy về quy tắc (rules), các triết gia phân biệt giữa quy tắc cấu thành (constitutive rules) và quy tắc không cấu thành (non-constitutive rules) hay quy định (regulative rules). Quy tắc cấu thành là những quy tắc quyết định sự tồn tại của bản thân một loại hình hoạt động nhất định nào đó. Nếu không có quy tắc chơi cờ vua, thì bộ môn cờ vua không tồn tại. Một người có thể di chuyển một vật thể nào đó giống như một chiếc đầu ngựa qua những ô vuông đen trắng nhưng đó không phải là một nước đi trong môn cờ vua nếu như không có quy tắc cờ vua. Quy tắc không cấu thành thì ngược lại, điều chỉnh những hoạt động đã tồn tại từ trước. Ví dụ điển hình là các quy tắc xã giao như: chào hỏi nhau thế nào, xếp hàng ra sao, ăn uống trên bàn ăn thế nào cho lịch sự. Những hoạt động như chào hỏi, xếp hàng và ăn uống vẫn có thể tồn tại nếu không có quy tắc điều chỉnh.Thế còn quy tắc của việc tư duy tốt thuộc loại nào, cấu thành hay không cấu thành?Một số triết gia cho rằng câu trả lời là quy tắc cấu thành. Họ giải thích rằng, để được coi là có lý trí / biết suy nghĩ hợp lý (rational), một người phải biết tuân thủ những quy tắc hợp lệ của việc suy luận như modus ponens – A và [nếu A thì B], thì B – và modus tollens – không phải B và [nếu A, thì B], thì không phải A… Nếu ai đó không tuân theo những quy tắc như thế này, thì hoặc là người đó không chơi trò chơi lý trí (game of rationality), hoặc là cố gắng chơi nhưng lại thất bại trong việc tuân thủ quy tắc. Nhưng việc tuân thủ các quy tắc suy luận có đủ để quyết định rằng ai đó có đi một nước đi hợp lệ trong trò chơi lý trí hay không?Hãy theo dõi cuộc trò chuyện sau đây giữa Tý và Tèo. Tý đưa ra lập luận như sau đối với Tèo:[A] Hai cạnh của hình tam giác này cùng bằng với đoạn thẳng EF[B] Những thứ gì cùng bằng với một thứ trung gian khác thì bằng nhau.[Z] Hai cạnh của hình tam giác này bằng nhau.Dường như rất rõ ràng [Z] được suy ra khi có [A] và [B] nhưng Tèo từ chối chấp nhận lập luận này và nói chẳng có chỗ nào chỉ ra rằng [Z] phải được suy ra từ [A] và [B]. Rất khó chịu với sự ngang bướng của Tèo, Tý liền thêm vào tiền đề [C]:[C] – Nếu [A] và [B] đúng, thì [Z] phải đúngNhưng lại một lần nữa, Tèo từ chối chấp nhận [Z] và lập luận rằng chẳng có nơi nào bảo rằng phải suy ra [Z] từ [A], [B] và [C].Chưa nản lòng, Tý tiếp tục đưa thêm lập luận [D]:[D] –  Nếu [A], [B] và [C] đúng thì [Z] phải đúngNhưng có thể đoán trước, Tèo lại không hài lòng và yêu cầu một tiền đề nữa để chỉ rõ rằng [Z] được rút ra từ [A], [B], [C] và [D]. Và câu chuyện cứ thế tiếp tục.Bạn có thể thấy rằng câu chuyện này sẽ kéo dài vô tận và Tý không thể nào làm hài lòng được Tèo.Tình huống trên nhằm chỉ cho chúng ta thấy quy tắc của suy luận không phải là thứ gì đó giống như câu điều kiện (mệnh đề C, D trong tình huống trên). Quay lại với sự phân biệt giữa phát biểu mệnh lệnh và phát biểu thuần mô tả ở bài 28, câu điều kiện là một phát biểu thuần mô tả để phản ánh sự thật về sự phụ thuộc của [Z] vào [A] và [B]. Vì mang tính thuần mô tả, nên câu điều kiện không cho chúng ta biết được điều chúng ta phải làm, trong khi đó, quy tắc lập luận diễn dịch dường như chỉ cho chúng ta phải suy ra [Z] từ cơ sở [A] và [B]. Nó mang tính mệnh lệnh. Nó cho ta biết phải hành động như thế nào, đó là rút ra kết luận [Z] bởi vì mệnh đề phủ định của [B] (not B) không thể đúng nếu như [A] đúng. Đến đó là đủ để biện minh cho suy luận của chúng ta và dừng sự hồi quy lại. Chúng ta có thể nghĩ được rất nhiều câu điều kiện như [C] và [D] nữa trong tình huống nêu trên, nhưng những phát biểu thuần mô tả thế này không cần thiết để biện minh cho sự suy luận của chúng ta.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Con người là những sinh vật có khả năng kể chuyện một cách tài ba. Chúng ta có thể dùng mọi cách để liên kết các thông tin mình có được để hiểu hơn về thế giới xung quanh ta, cả thế giới tự nhiên lẫn thế giới nhân văn.Dưới đây là một ví dụ. Hãy nhìn vào những nhóm từ này:Dòng sông – Con thuyền – Cô gáiCây bút – Mặt bànĐiện thoại – Bao thuốc lá – Người đàn ôngChậu nước – Con vịt – Đứa trẻ – Tiếng trống Thật khó để không liên kết nghĩa của các từ này này lại với nhau. Bộ óc của chúng ta ngay lập tức tìm ra cách để sâu chuỗi các từ này lại để tạo thành một câu chuyện, hay ý nghĩa nào đó phù hợp với những kinh nghiệm/tri thức của ta về thế giới. Bất kể bạn làm gì khi nhìn thấy những nhóm từ này, bạn sẽ gần như không thể chỉ nhìn chúng như những từ ngữ đơn lẻ. (Chẳng hạn, bạn có thể liên kết các nhóm từ trên hành các hình ảnh như: một cô gái trèo thuyền trên dòng sông, một cây bút đặt trên mặt bàn, người đàn ông vừa hút thuốc vừa sử dụng điện thoại, một đứa trẻ đang chơi đùa trong châu nước cùng với một con vịt đồ chơi có thể phát ra tiếng kêu như tiếng trống).Điều này cũng đúng khi chúng ta nhìn nhận các vật thể và sự kiện. Và điều này càng thú vị khi chúng ta bàn về các mối quan hệ nhân quả. Quan sát ảnh bên dưới, rất dễ giả định rằng những chữ sau đây được viết bởi ai đó sử dụng chiếc bút ở bên cạnh. Chúng ta không thể chắc chắn, nhưng đó là một giả định hợp lý.Tương tự nếu chúng ta nhìn vào 2 vật thể này. Rất dễ giả định rằng, tờ giấy bị cắt bởi chiếc kéo ngay bên cạnh.Nhưng sẽ thế nào nếu như ta biết thêm được một số vật thể ở xung quanh? Một trong những thành kiến của chúng ta là nghĩ rằng tất cả những gì tồn tại chỉ có bấy nhiêu đó như ta nhìn thấy, vì thế chúng ta dựng lên câu chuyện của mình chỉ dựa trên thông tin đầy thiếu sót đó. Khi có thêm càng nhiều dữ liệu, ta có thể đưa ra càng nhiều những lời giải thích tốt hơn. Sau đó, ta có thể cùng nhau tạo ra và kiểm định những bộ khung giải thích (explanatory framework) này, gọi chúng là các học thuyết (theories). Học thuyết nào mà cách giải thích của nó càng tương thích với những gì chúng ta đã biết từ trước về thế giới thì học thuyết đó càng có ích. Nếu như độ tương thích của hai học thuyết là như nhau, thông thường, các nhà khoa học sẽ chọn cái nào có cách giải thích đơn giản hơn. Việc loại bỏ bớt những sự phức tạp không cần thiết còn được biết đến với tên gọi Nguyên lý dao cạo Ockham.Mời các bạn xem những hình minh họa dưới đây để hiểu hơn về quá trình hình thành, kiểm định, chọn lọc và sử dụng các học thuyết khoa học:Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Ở bài 25, ta đã nhắc đến việc suy nghĩ hợp lý cần ít nhất là tuân theo những tiêu chuẩn hay quy tắc của việc tư duy tốt, và một người phải chịu trách nhiệm khi suy nghĩ hay hành động của họ không đi theo những tiêu chuẩn hay quy tắc (norms or rules) này. Nhưng như thế nào là một quy tắc và như thế nào là tuân thủ (hoặc cố gắng tuân thủ) một quy tắc?Câu hỏi này khó mà trả lời đầy đủ nhưng ít nhất ta có thể chỉ ra những khó khăn mà các triết gia gặp phải khi đề cập đến chúng. Những phát biểu về quy tắc cần mang tính mệnh lệnh (prescriptive): chúng chỉ ra chúng ta nên làm gì hoặc không nên làm gì (ought to do something or ought not to do something).Ví dụ: chúng ta không nên vượt đèn đỏ (we ought not to across against the red light), chúng ta nên tránh mắc lỗi ngụy biện bù nhìn rơm khi lý luận, chúng ta không nên gọi con chó là con mèo (hay ít nhất, đừng kì vọng nó sẽ là một con mèo), chúng ta nên công nhận kết quả là 6 nếu như lấy 2 nhân với 3, chúng ta nên sẵn sàng sửa đổi và giúp ai đó sửa lỗi.Những phát biểu này khác với những phát biểu thuần mô tả (descriptive). Ví dụ: ánh đèn màu đỏ (the light is red), con lừa là một loài động vật, 2 là một con số, người phụ nữ ở phòng kế bên bị khuyết tật. Nhưng chính xác là điều gì giúp ta phân biệt giữa các phát biểu mệnh lệnh và các phát biểu thuần mô tả? Những phát biểu mệnh lệnh bắt nguồn từ đâu?David Hume cho rằng những phát biểu mệnh lệnh như thế này không thể xuất phát từ những phát biểu thuần mô tả vì những phát biểu mệnh lệnh cho thấy những mối liên hệ mới không hề hiện hữu trong bất kì các tiền đề mô tả được nắm bắt nào.Hãy tưởng tượng lại tình huống trong bài 26, lúc bạn đang dừng đèn đỏ ở ngã tư. Có rất nhiều thứ mang tính thuần mô tả như: đèn giao thông phát sáng màu đỏ, ánh sáng này truyền trong không khí rồi tác động lên võng mạc, nhãn cầu, các dây thần kinh cảm quang dưới mắt của bạn. Tuy nhiên, không có bất kì điều gì trong số này kéo theo kết luận rằng chúng ta không nên vượt đèn đỏ, ngay cả khi bạn nghĩ thầm trong đầu rằng “Mình không nên vượt đèn đỏ”. Điều gì tạo nên tính mệnh lệnh (oughtiness) trong những phát biểu mệnh lệnh kia?Điều Hume muốn nhắc chúng ta rằng những phát biểu mệnh lệnh không thể được suy ra từ những phát biểu thuần mô tả. Đây là một chủ đề được bàn cãi gay gắt cả trong giới học giả của Hume và trong những cuộc tranh luận về bản chất tự nhiên của các giá trị pháp lý và đạo đức. Thực sự, những tiêu chuẩn và giá trị đạo đức có những nền tảng tự nhiên nào hay không vẫn là một câu hỏi mở. Có rất nhiều cách hiểu quan điểm ‘no-ought-from-an-is’ của Hume nhưng chúng ta sẽ không đi sâu trong bài viết này và cũng không kì vọng sẽ tìm ra câu trả lời rõ ràng cho một câu hỏi phức tạp như bản chất của các giá trị đạo đức. Nhưng nếu như Hume đúng, việc tuân thủ một quy tắc phụ thuộc vào việc chúng ta cảm thấy hoặc suy nghĩ thế nào, thì điều gì sẽ xảy ra đối với những quy tắc của việc tư duy tốt? Chúng cũng có cơ sở là cảm giác hoặc tình cảm (sentiment)? Nếu tôi không cảm thấy giống như bạn, thì có nghĩa lý gì khi kết luận ai đó lý luận tốt hơn những người khác, hay không ai trong chúng ta đúng? Có tồn tại một tập hợp lý lẽ (space of reasons) nào đúng cho tất cả?Bản thân Hume nghĩ rằng ông ta có thể giải quyết được vấn đề này. Ông phân biệt giữa đam mê (passions), thứ có xu hướng nảy sinh từ kinh nghiệm mà liên quan trực tiếp tới những niềm vui hạn hẹp và cụ thể, với cảm giác đạo đức (moral sentiments), thứ nảy sinh từ năng lực cảm thông tự nhiên của chúng ta. Bởi vì một thái độ cảm thông (sympathetic response) liên quan đến việc nhìn nhận một tình huống từ quan điểm của người khác và trải nghiệm một trạng thái cảm xúc tương tự đối với người đó, nó khiến chúng ta có được một cái nhìn phổ quát. Nó khiến chúng ta xem xét các sự việc theo một cách khách quan từ nhiều quan điểm khác nhau. Và độ thông cảm này càng giảm đi khi khoảng cách giữa 2 người càng lớn.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Ở những bài học trước, chúng ta đã nhận thấy tri thức có nhiều vấn đề hơn chúng ta thường nghĩ. Không những khó để cắt nghĩa tri thức là gì, mà còn rất nhiều lý do để nghi ngờ những gì mà chúng ta nghĩ rằng mình biết về thế giới xung quanh.Chúng ta đã cố tìm những nền tảng cho tri thức của chúng ta bằng cách hướng về kinh nghiệm và cả những suy nghĩ nội tâm, nhưng vẫn có nhiều thứ phải hoài nghi. Bên cạnh đó, như chúng ta đã học, việc sử dụng lý luận quy nạp cũng không thể bảo đảm những gì chúng ta biết về thế giới khách quan là hoàn toàn chắc chắn.Trong những bài tiếp theo đây, chúng ta sẽ khám phá cách tri thức có thể được xác minh (verified) bởi cộng đồng như thế nào. Đó là việc có nhiều người cùng nhau làm việc thay vì từng cá nhân để giúp các phát biểu tri thức chắc chắn hơn.Việc cùng nhau xác minh ở đây không phải là xác minh những phát biểu mang tính chủ quan như “Món ăn ưa thích của chúng ta là kem” mà là những phát biểu ít tính chủ quan hơn, ví dụ: triều đại nhà Nguyễn có trước triều đại nhà Lê, hoặc chu kì giao động của con lắc phụ thuộc vào độ dài của nó. Dưới đây là một ví dụ đơn giản:Hãy nhìn bức ảnh trên. Nếu như tôi nói với bạn rằng, tôi cảm thấy những đường kẻ ngang trong bức hình trên không song song với nhau, thì không có gì phải bàn cãi vì đó là cảm giác chủ quan của tôi. Nhưng nếu tôi muốn khẳng định một cách phổ quát: những đường kẻ ngang (trong bức hình này) không song song với nhau, thì tôi có thể hỏi cảm nhận của những người khác. Nếu như có ai đó có cảm nhận giống tôi, tôi có thể tự tin hơn về phát biểu của mình. Nói một cách tổng quát, nếu ai đó có một trải nghiệm tương tự như những gì tôi đã trải nghiệm thì rất có thể đó chính là thực tại đang ẩn dấu bên trong.Việc xây dựng sự hiểu biết dựa trên những kinh nghiệm chủ quan tương tự nhau được gọi là INTERSUBJECTIVITY. Đây không phải là điều mới mẻ gì. Trong suốt lịch sử phát triển, loài người đã liên tục cách thức này để phát triển. Những người đi sau sử dụng những kiến thức đã được xác nhận (confirmed) bởi những người đi trước, rồi lại tiếp tục phát triển, cải tiến nó. Quy trình cứ thế lặp lại. Ví dụ, nếu ai đó phát hiện ra một loai thứ ăn nào đó có độc, hoặc một loại gỗ tốt để đóng bàn ghế thì điều này có thể được xác nhận bởi những người khác rồi sau đó mọi người có thể tham khảo sử dụng thông tin này.Một ví dụ nữa là cách sản xuất kim loai (luyện kim). Cách thức thực hiện được chia sẻ từ người nọ sang người kia, người sau xác minh, kiểm tra sai sót, rồi cải tiến quy trình và tiếp tục đến người tiếp theo.Bạn có thể áp dụng điều này để cải thiện khả năng tư duy phản biện của mình như thế nào? Dưới đây là những gợi ý dành cho bạn:Thử xem lập luận mình đưa ra có thuyết phục được người khác hay không. Nếu lập luận của bạn liên tục thất bại trong chuyện này, bạn nên xem lại lập luận của mình và không nên hành động dựa trên kết luận rút ra từ đó. Đồng thời, bạn cũng có thể nhờ người đó chỉ ra lỗi sai trong lập luận của mình.Nên tham khảo ý kiến của những chuyên gia. Chuyên gia là những người am hiểu kiến thức về một lĩnh vực nhất định nào đó. Nếu như có điều gì đó bạn không chắc chắn, sẽ rất đáng tin cậy nếu như bạn tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên gia trong lĩnh vực đó. Bạn cũng có thể hỏi người chuyên gia đó xem họ thường tra cứu thông tin ở đâu để mình làm theo. Ngược lại, nếu như một cá nhân hay tổ chức nào đó liên tục đưa ra những thông tin, khẳng định sai lệch thì bạn không nên dựa vào những thông tin mà họ đưa ra nữa mà hãy tự tìm thông tin và rút ra kết luận cho riêng mình.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Bạn đến một ngã tư có đèn tín hiệu. Đèn xanh chưa sáng nhưng lúc đó bạn thấy đường phố không một bóng người. Bạn nảy ra ý định vượt đèn đỏ và tự nhủ “chỉ một lần này thôi, mọi ngày mình không như vậy.”Nhưng bạn cảm thấy có một bàn tay vô hình kéo bạn lại. Câu nói “ĐỪNG VƯỢT ĐÈN ĐỎ!” lóe lên trong tâm thức khiến bạn chùn chân. Tất cả điều này có nghĩa là gì? Tại sao một thứ vô hình lại có một sức ảnh hưởng như vậy đến suy nghĩ và hành vi của chúng ta?Bên cạnh câu hỏi về việc một người có thể có quyền hoặc được biện minh khi phá vỡ một quy tắc nào đó, còn có những câu hỏi triết học thú vị và không dính dáng gì đến việc con người áp dụng quy luật như: thế nào là tuân thủ một quy luật . Câu hỏi thứ nhất thuộc khía cạnh đạo đức, vượt quá khuôn khổ nội dung của khóa học này. Vì vậy, chúng ta hãy bàn đến câu hỏi cuối cùng trước.Trong suốt lịch sử triết học, khả năng suy nghĩ hợp lý / lý trí (rationality) thường được cho rằng là khả năng riêng có của loài người. Tất cả các khả năng khác như: sử dụng các giác quan, tiêu hóa, sinh sản thì tất cả các loài vật khác đều có. Tuy nhiên, chỉ có con người là có thể BẬT CƯỜI, khả năng chỉ có được khi biết suy nghĩ hợp lý. Nếu bạn không thể hiểu được vì sao một mẩu chuyện cười lại gây cười, thì theo quan điểm này, bạn không phải con người!Hai khái niệm – khả năng suy nghĩ hợp lý và khả năng bật cười – có mối liên hệ thật sự thế nào là một câu hỏi hay (và mở). Nhưng nếu chúng ta chấp nhận rằng, chúng ta là một loại sinh vật sống theo các quy luật của tự nhiên hay quy luật của tư duy tốt, thì chính việc những câu truyện có mạch logic đi chệch khỏi hướng mà chúng ta kì vọng khiến chúng ta bật cười. Ví dụ, mỗi lần tôi gặp một chuyện gì đó không may, bạn thân của tôi lại động viên theo kiểu hài hước như sau: “Thoải mái lên, trong cái rủi có cái xui ấy mà!”Khóa học này được gọi là META vì một lý do. Chúng ta đã chứng kiến tầm quan trọng của việc tư duy về tư duy, điều gì tạo nên một lập luận tốt và việc suy nghĩ có thể bị lệch lạc bởi ngụy biện, thành kiến nhận thức, những quyết định vội vàng mang tính trực giác. Để trở thành một người biết suy nghĩ hợp lý, một trong những kĩ năng mà ta cần là khả năng ngẫm lại và xem xét kĩ lưỡng những suy nghĩ của chính mình. Mình đã nghĩ về vấn đề đó đủ rõ ràng chưa? Mình đã nghĩ đến những sự giải thích nào khác chưa? Những quyết định mình rút ra có được dựa trên các bằng chứng hoặc lý do xác đáng? Mình nên tìm kiếm thêm thông tin ở đâu để trả lời những câu hỏi của mình? Mình đã thử tìm những bằng chứng chống lại giả thiết của mình hay chưa?Khi chúng ta tự hỏi bản thân những câu hỏi thế này, chúng ta đang ở trong “space of reasons” (theo thuật ngữ của Wildred Sellar). Để có tư duy tốt, bạn cần học cách tuân thủ ít nhất 3 tiêu chuẩn cơ bản sau đây:Tiêu chuẩn về tính hợp lý: hình thành niềm tin dựa trên các bằng chứng xác đáng (ví dụ: dữ kiện có thực, lập luận tốt)Tiêu chuẩn về sự nhất quán: tư duy của bạn cần nhất quán với nhau, tránh kiểu hôm nay nghĩ một kiểu, hôm sau lại nghĩ kiểu khác.Nguyên tắc Charity: luôn luôn cố gắng hiểu lập luận của người khác một cách rõ ràng nhất có thể trước khi phản biện lại. (Thất bại trong việc này, bạn đã mắc phải lỗi ngụy biện bù nhìn rơm).Sống một cuộc sống với lý trí là luôn luôn khắc ghi những tiêu chuẩn này. Quay trở lại ví dụ về ngã tư ở phần đầu. Tôi hoàn toàn có thể qua ngã tư bằng cách vượt đèn đỏ, nhưng những hành động thế này có thể là một phần của cuộc sống có lý trí? Để trả lời, hãy đặt hành động của mình vào một bài test với những câu hỏi như sau:Tôi có thể biện minh những hành động thế này với người khác? Tôi có thể đề xuất hành động này như một tiêu chí hành động mang tính tổng quát – nghĩa là, bất kì ai cũng nên hành động như vậy nếu gặp tình huống như thế? Nếu không vượt qua được bài test như trên, thì những hành động này của tôi là thiếu lý trí. Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Khi cố gắng giải thích mối quan hệ nhân quả, David Hume đã tiếp cận vấn đề theo hướng các sự kiện có sự nối tiếp nhau về mặt thời gian. Nhưng theo một số triết gia, các tiếp cận này gây ra nhiều vấn đề hơn là giải quyết được nó.Đây là một số ý kiến đi ngược lại với quan điểm của HumeMột số nguyên nhân tỏ ra không được thường xuyên (regular) hoặc không hoàn hảo. Chúng ta thường nghĩ rằng hút thuốc lá gây ung thư phổi nhưng không phải ai hút thuốc cũng bị ung thư phổi và không phải ai bị ung thư phổi cũng hút thuốc.Một số sự lặp lại dường như không phải là nguyên nhân. Mỗi lần một người hút thuốc, họ phải quẹt diêm (hoặc bật lửa), nhưng thật kì cục khi cho rằng việc đốt diêm là lý do gây ung thư.Một số sự liên tục rất khó để phân tách thứ tự trước sau về mặt thời gian. Chẳng hạn như áp suất không khí tăng và mức thủy ngân trong chiếc phong vũ biểu dâng lên, xuất hiện dường như đồng thời, và chúng ta vẫn nghĩ rằng sự kiện đầu tiên có mức tác động lớn hơn tới sự kiện thứ hai. Nhưng điều gì khiến Hume rút ra những kết luận thế này? Nếu không chỉ rõ được cái nào xảy ra trước cái nào, tại sao ta kết luận áp suất không khí khiến mức thủy ngân của phong vũ biểu tăng lên thay vì ngược lại, thủy ngân dâng lên khiến áp lực không khí tăng theo?Những quan điểm trái chiều với Hume được phân chia thành hai nhóm: Diff và Biff. Nhóm Diff quan tâm tới việc giải thích quan hệ nhân quả dựa trên chính khái niệm nhân quả mà con người thường sử dụng (còn được gọi là nhóm anti-foundational theories). Nhóm Biff thì lại dựa trên ý tưởng cho rằng, quan hệ nhân quả là một quá trình vật lý, có sự tương tác giữa các sự vật hiện tượng (còn được gọi là nhóm foundational theories). Cả hai đều tiếp cận theo hướng các sự kiện có sự nối tiếp nhau về mặt thời gian như thuyết của Hume.Thuyết Diff định nghĩa quan hệ nhân quả theo hướng cái gì khiến cái gì thay đổi. B phụ thuộc về mặt nhân (causally dependent) quả vào A nếu và chỉ nếu A mà đúng thì B sẽ đúng (if and only if were A to be the case, then B would be the case). David Lewis (1973) đề xuất rằng, cách tốt nhất để hiểu cách tiếp cận của thuyết Diff là tư duy theo hướng phản sự kiện (counterfactual dependence). Theo hướng này, A gây ra B (A causes B) nếu và chỉ nếu: A xảy ra thì B xảy ra và nếu A không xảy ra thì B cũng không xảy ra.Mọt điểm quan trọng cần lưu ý trong ý tưởng của Lewis là, nếu gọi hoàn cảnh/thế giới/môi trường (worlds) mà ở đó nếu A đúng thì B đúng là thế giới 1 và gọi hoàn cảnh/thế giới/môi trường (worlds) mà ở đó nếu A sai thì B sai là thế giới 2, thì thế giới 2 phải là hoàn cảnh/thế giới/môi trường tương tự/gần nhất/giống nhất với thế giới 1 nếu như muốn gọi A là nguyên nhân gây ra B. (Lewis construes difference making in terms, therefore, of what actually happens together with what happens in “nearby” (i.e., very similar) possible worlds. If and only if the possible worlds in which A is true and B is true are more similar to our world than the possible worlds in which A is true and B isn’t, then it is true that in our world A causes B.)Có nhiều thách thức được đặt ra đối với cách tiếp cận phản sự kiện của Lewis. Một trong số đó, là vấn đề ưu tiên (preemption) được nêu ra bởi Ned Hall (2004).Giả sử có hai nhóc đang chuẩn bị ném đá vào một cửa sổ. Suzy ném một viên và viên đá đó đập vào cửa, làm vỡ nó tan. Billy không ném nhưng cậu này cũng đã sẵn sàng mọi tư thế để ném nếu như Suzy không hành động.Giả sử bây giờ Suzy không ném, Billy sẽ ném và ném đủ mạnh để làm vỡ cửa sổ. Cách tiếp cận phản sự kiện gặp khó khăn ở đây bởi vì nếu suy luận theo hướng này sẽ trái ngược với trực giác của ta, đó là việc Suzy ném đá không phải là nguyên nhân gây vỡ cửa kính.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Hãy xem xét những tình huống thực tiễn sau đây:Một thằng nhóc ném một viên đá, viên đá đập vào cửa sổ và kính cửa sổ vỡ.Một đầu bếp thái hành và chảy nước mắtMột người làm vườn quên tưới nước cho cây, cái cây đó chết héo.Một cầu thủ bóng đá lỡ chạm tay vào bóng trong vòng 16m 50. Đội của anh nhận một quả phạt đền và bị thua chung cuộc với tỉ số 0-1 (bàn thắng được ghi từ quả phạt đền này).Đèn giao thông chuyển màu xanh, tài xế nhấc chân khỏi phanh, đạp ga, chiếc xe di chuyển về phía trước.Tất cả các tình huống này tuy rất khác nhau nhưng đều có một điểm chung: chúng ta có xu hướng hiểu chúng như những tình huống liên quan đến mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả (cause and effect).Chúng ta quan tâm đến quan hệ nhân quả bởi vì nó liên quan mật thiết đến những lời giải thích trong cuộc sống hàng ngày và việc đưa ra dự đoán. Mối liên hệ nhân quả giữa các sự vật hiện tượng chính là những gì mà các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu y học đang cố gắng khám phá.Khi chúng ta đưa ra các chính sách công hay điều luật nào đó, chúng ta đang giả định rằng những chính sách này sẽ có những tác động nhất định. Và bởi vì, để xác định được trách nhiệm, đạo đức hay nghĩa vụ pháp lý thì điều đầu tiên và trước hết phải chỉ rõ được ai gây ra cái gì đối với ai.Do đó, mối quan hệ nhân quả là một vấn đề trọng tâm trong quá trình khám phá tri thức của loài người. Triết gia David Hume đã chỉ ra, quan hệ nhân quả là một mối quan hệ không thể quan sát được. Chúng ta không quan sát được việc thứ này khiến thứ kia xảy ra như thế nào mà chỉ quan sát được sự lặp lại đều đặn giữa hai sự vật hiện tượng. Theo Hume, chính sự lặp lại này là đối tượng khiến tâm trí chúng ta suy ra mối quan hệ nhân quả. Chúng ta cho rằng, những mối quan hệ này là cần thiết (necessary), tức là nếu sự kiện mà chúng ta gọi là nguyên nhân tồn tại, thì sự kiện mà chúng ta gọi là kết quả phải xuất hiện theo sau. Nhưng hãy thử hỏi Hume, làm sao biết trong tự nhiên có những mối quan hệ nhân quả nào? Hume trả lời, những mối quan hệ chỉ là những thứ chúng ta tự đặt ra khi hình thành lên các học thuyết. Chúng ta không có bất kì 1 bằng chứng trực tiếp nào để khẳng định về mối quan hệ đó.Hume thậm chí còn phân tích sâu hơn để giải thích điều này. Ông cho rằng, mối quan hệ này không thể được biện minh (justified) bằng phương pháp diễn dịch hoặc quy nạp.Chúng ta thấy thanh sắt đỏ rực lên khi chúng ta nung nóng nó và kết luận rằng việc nhiệt độ cao khiến nó chuyển màu đỏ.Nhưng chẳng có một chút mâu thuẫn nào về mặt logic nếu như giả định rằng, một lần nào đó, nung nóng thanh sắt nhưng nó không đổi màu. Do đó, phát biểu nhân quả không có gì chắc chắn về mặt diễn dịch hoặc đúng về mặt ngữ nghĩa.Nhưng những phát biểu về nhân quả cũng không thể biện minh được theo cách quy nạp vì những lý do được nêu ra ở bài trước. Để biện minh theo lối quy nạp cho sự đúng đắn của mối quan hệ nhân quả, ta sẽ phải dựa vào giả định rằng thiên nhiên luôn vận hành ổn định, nhưng chính giả định này lại cần phải dựa trên một số phát biểu nhân quả nhất định. Do đó, chúng ta không thể hy vọng có thể biện minh cho những kết luận của chúng ta về mối quan hệ nhân quả bằng lý luận quy nạp.Ví dụ, kết luận nhiệt độ cao khiến thanh sắt chuyển màu đỏ vượt ra ngoài tầm quan sát của chúng ta bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc cho rằng nung nóng một thanh sắt (ở những điều kiện giống nhau) luôn luôn và cần thiết khiến nó nở ra, điều này ngầm giả định có sự vận hành ổn định của thiên nhiên. Nhưng như đã nói ở bài trước, giả định thiên nhiên vận hành ổn định cũng không thể chứng minh hay giải thích bằng quy nạp hay diễn dịch. Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Việc nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp quy nạp, cụ thể là khái quát hóa.Khái quát hóa có nhiều hình thức khác nhau, nhưng tựu chung lại nó có dạng như sau:Từ quan sát các trường hợp đơn lẻ đi đến kết luận chung. Ví dụ, mỗi con quạ mà tôi từng bắt gặp đều màu đen, do đó tất cả các con quạ đều màu đen.Từ quan sát tổng thể, đi đến kết luận từng trường hợp đơn lẻ. Tất cả những con quạ tôi từng thấy cho đến giờ đều màu đen, do đó, con quạ tiếp theo tôi gặp sẽ màu đenTừ các trường hợp đơn lẻ đến các trường hợp đơn lẻ, ví dụ: ông bà của những con quạ này màu đen, bố mẹ chúng cũng màu đen nên những con quạ này cũng màu đenĐây là lập luận bạn có thể đưa ra để ủng hộ cho việc sử dụng lập luận quy nạp:P1: Lý luận quy nạp đã tỏ ra hiệu quả trong quá khứP2: Các quy luật tự nhiên luôn ổn định, tương lai sẽ lặp lại quá khứ C: Quy nạp cung cấp một cơ sở lý luận tốt để rút ra các kết luận về tương lai Tất cả những trường hợp này đều có một sự giả định ngầm rằng, tự nhiên vận hành với một mức độ ổn định cao, tức là tương lai lặp lại giống quá khứ (nếu như có cùng những điều kiện nhất định, ví dụ: hôm qua mặt trời mọc đằng Đông, hôm nay cũng vậy, ngày mai vẫn thế). Thật khó tưởng tượng chúng ta có thể làm gì mà không có quy nạp. Chính quá trình hình thành và kiểm định giả thuyết cũng cần quy nạp. Mỗi lần một dược sĩ thử nghiệm một loại thuốc nào đó, quy nạp cũng góp mặt. Quy nạp cũng không thể thiếu được khi dự đoán kết quả từ các thí nghiệm và khi xây dựng một kho bằng chứng (bank of evidence).Diễn dịch (deduction) có vai trò của nó trong khoa học, nhưng theo Charles Sanders Peirce (1839–1914) , phương pháp này không có tính “khuếch đại kiến thức” theo cách mà phương pháp quy nạp làm được. Diễn dịch chỉ làm lộ ra sự thật đã tồn tại từ trước của các tiền đề. Còn quy nạp, ví dụ nếu ta kết luận điều đúng với một mẫu cũng đúng với cả tổng thể, thì chúng ta đã mở rộng kiến thức của mình.Một điều cần cẩn trọng khi dùng phương pháp quy nạp lỗi ngụy biện khái quát hóa vội vã. Các nhà khoa học cần đảm bảo mẫu nghiên cứu của họ đủ lớn và mang tính đại diện để không bỏ qua hoặc loại trừ bất kì thông tin liên quan nào khi đưa ra kết luận về tổng thể.Do đó, quy nạp là một một phần máu tủy của tư duy khoa học.Tuy nhiên, David Hume (1711–76) đã chỉ ra rằng, quy nạp dường như không thể biện minh(justify) được. Theo ông, nguyên lý (principle) nằm bên dưới phương pháp quy nạp – thiên nhiên luôn vận hành ổn định – không thể được mô tả theo kiểu diễn dịch hay quy nạp. Mọi thứ có thể đổi thay nhưng không tới mức thay đổi các quy luật của tự nhiên. Các vật nặng không thể đột ngột bay lên cao, thủy triều không thể cứ tiếp tục dâng cao mãi. Vì thế, nó không thể biện minh được bằng phương pháp diễn dịch. Nó không đúng về mặt định nghĩa cũng không thể quy giản về một khẳng định luôn đúng nào đó (ví dụ khẳng định: không có gì vừa đúng vừa sai) rằng tương lai sẽ vận hành tương tự như những lần trước đó trong quá khứ.Nhưng nguyên lý này cũng không thể biện minh được bằng quy nạp. Nếu ta cố gắng bảo vệ sự thật của nguyên lý này bằng việc sử dụng lý luận quy nạp – nếu ta nói lý luận quy nạp là hợp lệ bởi vì, trong quá khứ, lý luận quy nạp đã cho ta những kết quả đúng – thì chúng ta đang lập luận lòng vòng. Chúng ta chỉ có thể dựa vào chính nguyên lý của quy nạp để làm nền tảng sự thật cho chính nó mà thôi !Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Bên cạnh những người tin vào khoa học, tin rằng khoa học có thể giúp tìm ra sự thật về những thực thể không quan sát được thì cũng có những người tỏ thái độ hoài nghi đối với khoa học. Những người này được gọi là anti-realist và quan điểm của họ được gọi là anti-realism.Những nghi ngờ mà những người anti-realist đưa ra chủ yếu tập trung vào khía cạnh dữ liệu của các học thuyết khoa học. Những nghi ngờ này phát xuất từ Duhem (1906) và sau đó là Quine (1953) khi họ quan sát thấy rằng những học thuyết cạnh tranh nhau (competing theories) thường chỉ đồng thuận với nhau ở những dữ liệu quan sát được, nhưng lại khác nhau khi đề cập đến những thực thể không quan sát được. Lấy ví dụ về việc thả đá rơi xuống đất. Có 2 học thuyết giải thích hiện tượng này: Aristotle nói là các vật có bản tính giống nhau thì hút nhau. Học thuyết của Newton lại giải thích bằng trọng lực. Cả bản tính và trọng lực đều vô hình. Và bằng chứng thì có thể ủng hộ cho cả 2 lý thuyết. Vậy thì chỉ dựa vào bằng chứng thôi là không đủ vì đôi khi dữ kiện ủng hộ 2, 3 hay thậm chí vô số lý thuyết khác nhau.Vì vậy, việc chọn học thuyết nào tối ưu nhất cần được dựa trên những đặc tính khác của học thuyết đó (Van Fraassen 1980). Có một số đặc tính thường được cân nhắc đó là: tính đơn giản (simplicity), sự tương thích (coherence) với các học thuyết đã thành không khác, sự nhất quán nội bộ (internal consistency), …Một người có thể lập luận theo tinh thần của chủ nghĩa hiện thực khoa học rằng, những đặc tính này không phải là không có liên hệ tới sự thật. Chúng chính là những đặc tính mà bạn sẽ kì vọng ở một học thuyết đích thực. Tuy nhiên, tính tương tính, tính đơn giản … là những đặc tính mang tính phương pháp; mối quan hệ của nó với sự thật là không rõ ràng nhưng các học thuyết vẫn cần chúng. Bởi vì một học thuyết tương thích cao hay thấp đến thế nào thì vẫn có thể bị chứng minh là sai.Tính đơn giản, thường được đề cập dưới cái tên “Nguyên lý dao cạo Ockham” (Ockham’s razor). Nguyên lý này cho rằng, nếu một vấn đề khoa học được giải thích bằng ít giả thuyết nhất thì sẽ đúng đắn nhất. Đọc thêm: Định luật dao cạo OckhamChủ nghĩa phản thực (anti-realism) thường được truy ngược về thời Carnap (1950), người đã lập luận rằng, trong khi có rất nhiều bộ khung giả thuyết khoa học khác nhau cho nhiều mục đích khác nhau, nhưng không có ai khẳng định được cái nào là đúng. Vì chủ nghĩa hiện thực cũng đa dạng, nên chủ nghĩa phản thực cũng có nhiều dạng. Có hai loại thuyết phản thực:Phản thực bản thể luận từ chối sự tồn tại của một thực tại khách quan độc lập với tâm trí như là đối tượng nghiên cứu của khoa học.Phản thực nhận thức luận nói rằng chúng ta không thể nhận thức thực tại khách quan bằng khoa học.(Bất kể có thực tại đó hay không) Quan điểm của chủ nghĩa phản thực thương thích với thuyết bất khả tri theo khía cạnh tri thức luận về việc có hay không tồn tại một thực tại độc lập với tâm trí. Tuy nhiên, chủ nghĩa phản thực thường xuyên có dạng của chủ nghĩa công cụ (instrumentalism).Chủ nghĩa công cụ cho rằng những thuật ngữ mà các học thuyết khoa học cố gắng sử dụng để mô tả các thực thể không quan sát được nói một cách khắt khe thì chẳng thể hiện được gì. Ví dụ, khi tôi nói đến một thứ gì đó như từ trường, tôi không cần thiết phải đề cập tới bất kì một cái gì thực tế nào. Tuy nhiên, những thuật ngữ này có một giá trị về mặt công cụ, để dự đoán thành công những hiện tượng khác. Tôi có thể dự đoán hành vi của các mạt sắt xung quanh một thanh nam châm dựa trên khái niệm từ trường như là một công cụ về mặt khái niệm.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Có lẽ nhiều người thừa nhận rằng, những học thuyết khoa học xuất sắc nhất đã hé mở nhiều bí ẩn của thế giới vật chất. Nhưng ở rất nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử, có những học thuyết bị chứng tỏ là sai hoặc ngây thơ (naive).Bên cạnh những học thuyết khoa học tốt, có sức mạnh dự đoán (predictive power) dài lâu thì cũng có những học thuyết khoa học thật ngắn ngủi. Như vậy, chúng ta có nên nhìn khoa học dưới một thái độ tri thức cẩn trọng hơn hay không?Chủ nghĩa hiện thực khoa họcViết tắt: SR = Scientific Realism = Chủ nghĩa hiện thực khoa họcSR có nhiều hình thức khác nhau, nhưng nhìn chung đó là quan điểm cho rằng thế giới chính là những gì mà các học thuyết khoa học xuất sắc nhất mô tả. Điều này liên quan đến việc chấp nhận sự tồn tại của không chỉ các thực thể quan sát được (observable entities) mà cả những thực thể không thể quan sát được (unobservable entities) dựa trên sự giải thích (của các học thuyết) về sự tương tác (interrelate) giữa hai đối tượng này. Những người theo quan điểm này chấp nhận cách giải thích của khoa học về những việc, chẳng hạn như, các tác động của những thực thể không quan sát được có thể được phát hiện bởi con người và tại sao những sự kiện quan sát được lại có thể làm manh mối tìm ra sự tồn tại của những thực thể không quan sát được này.Do đó, những người này thừa nhận, những gì chúng ta trải nghiệm và tư duy được từ việc khám phá tự nhiên sống động và đầy đủ hơn (richer) những gì giác quan chúng ta đem lại. Không chỉ có vậy, những người theo quan điểm này thật sự cho rằng những thực thể không quan sát được này là những đối tượng có thực, độc lập với tâm trí (mind-independent), và do đó cho rằng khoa học góp phần tìm ra sự thật (mặc dù có thể họ có thể thất bại trong việc đạt được sự thật).Lập luận mà những người này đưa ra thường dựa trên sự tham chiếu đến lời giải thích hợp lý nhất (best explaination). Sự giải thích hợp lý nhất cho sự thành công trong việc dự đoán của một học thuyết và sự giải thích hợp lý nhất cho thực tế là có tồn tại những bằng chứng bổ trợ cho những gì mà học thuyết đó kết luận.Sức mạnh dự đoán của một học thuyết cũng có thể là một sự may mắn tình cờ. Ví dụ, hình ảnh mạt sắt ở gần thanh nam châm có thể được giải thích hợp lý nhất là do có từ trường xung quanh.Chúng ta có thể nói rằng từ trường tồn tại mặc dù chúng ta chỉ có thể quan sát thấy ảnh hưởng của chúng, và không thể quan sát chúng trực tiếp.SR trái ngược với chủ nghĩa công cụ (instrumentalists), quan điểm cho rằng các thuật ngữ mà các học thuyết khoa học dùng để ám chỉ các thực thể không quan sát được, thẳng thắn mà nói, chẳng chứng tỏ được điều gì và cũng không thể được dùng để chứng tỏ bất kì điều gì.Dù sao, các học thuyết khoa học lại đã đóng góp giá trị về mặt công cụ vì chúng giúp chúng ta tổ chức dữ liệu và đưa ra các dự đoán về các hiện tượng quan sát được.Thách thức mà những người theo SR phải đối mặt đó chính là khi các học thuyết mà họ đưa ra bị lật ngược hoặc chứng tỏ là sai. Lịch sử đã cho thấy, điều này không phải là hiếm gặp.Một câu hỏi được đặt ra, tại sao chúng ta vẫn nên giữ một thái độ hiện thực (realist) đối với một học thuyết khoa học kể cả khi biết rằng nó có thể bị lật ngược hoặc sai lầm. Lâp luận này được đưa ra bởi Larry Laudan năm 1981 với tên gọi “Pessimistic Meta-Induction Arguement ”. Ông cho rằng chính vì chúng ta thiếu các bằng chứng quy nạp để chứng tỏ một học thuyết là đúng nên chúng ta không thể biện minh gì hơn khi chấp nhận bất kì lời giải thích nào của các học thuyết hiện hành. (Xem lại bài lập luận quy nạp, để một kết luận quy nạp chắc đúng 100%, thì lượng dữ liệu cần thu thập phải đạt mức tuyệt đối – điều này không thể làm được trong thực tế).Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Nếu nghĩ rằng thế giới quanh ta chỉ là một giấc mộng dài, hoặc tất cả bị điều khiển bởi một con quỷ đầy ma lực, thì đó chỉ là lo xa thái quá. Hằng ngày tôi vẫn thức dậy, tắm rửa, ăn sáng, bắt xe bus, tới văn phòng và bắt đầu làm việc. Mọi công đoạn, tôi đều phải dựa vào các giác quan (senses) của mình.Đa phần những công việc như vậy đều xảy ra một cách tự nhiên, không thật sự ý thức được tại sao. (Much of the sensory information we process is not accessible to consciousness) Tôi không biết điều gì thật sự xảy ra trong đầu khi tôi đưa tay và nắm lấy tay vịn trên xe bus. Tuy nhiên, những trải nghiệm mà chúng ta ý thức được (conscious experience) lại bị chi phối bởi các trải nghiệm thông qua giác quan(sensory experience), thứ mà một mặt thì không thể tránh khỏi, nhưng một mặt thì không thể thiếu cho nhiều quá trình hoạch định và đưa ra quyết định của chúng ta.Những trải nghiệm mà chúng ta ý thức được liên tục mách bảo chúng ta rằng, thế giới vật chất quanh ta có những quy luật cơ bản phải thừa nhận, và dựa vào nó chúng ta mới có thể lập kế hoạch và sống cuộc đời của mình.Thật khó để tượng tượng rằng những tri thức của chúng ta về thế giới vật chất không xuất phát thông qua các giác quan.Nếu không tin vào các giác quan, chúng ta cũng khó mà tin vào các thành tựu khoa học (khoa học là liên tục quan sát, rồi kiểm định các giả thuyết đưa ra). Các giác quan là cửa sổ duy nhất để chúng ta nhìn ra thế giới.Hai bài học quan trọng cần nắm rõ về giác quanNhưng cho dù chúng ta có không bị lay chuyển bởi những mối hoài nghi cổ điển về việc có hay không một thế giới khách quan ngoài tâm trí, có 2 bài học quan trọng được rút ra từ việc nghiên cứu chủ nghĩa hoài nghi:Thứ nhất, giác quan chỉ tiếp nhận những gì phù hợp với nó. Thị giác giúp chúng ta phân biệt màu sắc, hình dáng. Thính giác giúp ta lắng nghe những âm thanh, khứu giác giúp chúng ta phân biệt mùi vị, xúc giác giúp ta phân biệt các bề mặt (textures)… Điều này nghe có vẻ hiển nhiên, nhưng như chúng ta vừa phân tích vấn đề về bản thể, chúng ta có xu hướng đi từ cách thức sự vật xuất hiện (trong trường hợp này là một chuỗi những biến đổi về màu sắc, hình dáng..) tới kết luận rằng tồn tại những vật thể có sở hữu những tính chất bị biến đổi này.(Để hiểu rõ hơn ý này, hãy nhớ lại ví dụ về bức tượng David trong bài Bản thể, hoặc xem thêm 2 bức ảnh dưới đây)Mặc dù 2 công trình này khác nhau về màu sắc, nhưng bạn có nghĩ đây là hai công trình khác nhau?Nếu bạn nhìn thấy một chiếc bút chì thẳng, sau đó lại nhìn thấy một chiếc bị bẻ cong do nhúng một nửa trong nước, điều gì khiến tôi giả định rằng tôi vừa thấy một chiếc bút chì duy nhất thay vì 2 cái?Bài học thứ hai, cũng chính là những gì Decartes muốn dạy chúng ta. Công việc của các giác quan không phải là để dạy chúng ta cách thế giới vận hành. Nếu có, là vì chúng phải tiến hóa vì chúng là những cánh cửa giúp chúng ta giao tiếp với thế giới bên ngoài. Chức năng đầu tiên và trước hết của chúng là chức năng sinh học. Chúng giúp chúng ta phát hiện các vật thể (cỡ trung -middle-sized) ở môi trường xung quanh, ngửi mùi vị của thức ăn tươi sống hoặc thối rữa, lắng nghe tiếng bước chân của những con vật săn mồi. Khi thực hiện những chức năng này, giác quan không nhất thiết phải cung cấp những thông tin chính xác – một hệ thống sinh học có thể bao dung cho rất nhiều những sự “sai lầm tích cực”, tức là mặc dù sai nhưng có thể cứu mạng chúng ta.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Loại suy (analogy – phép tương tự) là một công cụ mạnh mẽ của lý luận quy nạp. Khi loại suy, chúng ta tiến hành so sánh những điểm tương đồng quan trọng của 2 sự vật – hiện tượng để rút ra kết luận. Nếu áp dụng điều này trong việc lý luận, chúng ta đang dùng một thủ pháp gọi là loại suy quy nạp (inductive analogy).Đây là một ví dụ:P1 : Ngày nay, những con vật nào có răng sắc nhọn thường là loài ăn thịtRăng cá sấu, một loài bò sát ăn thịt (Ảnh minh họa.)P2 : Hộp sọ hóa thạch này có những chiếc răng sắc và nhọnC : Đây là hộp sọ của một loài động vật ăn thịtChúng ta vừa quan sát hai đặc điểm tương tự nhau, đó là răng của những loài động vật ăn thịt đang tồn tại hiện nay và răng trên một chiếc hộp sọ của một loài vật nào đó đã tuyệt chủng, rồi kết luận rằng, điều gì đúng với những động vật có hàm răng sắc nhọn hiện nay cũng đúng với loài vật đã tuyệt chủng này. Dĩ nhiên, không có gì ĐẢM BẢO ở đây cả, nhưng điều này có KHẢ NĂNG ĐÚNG CAO. Lý luận này mang tính quy nạp. Chúng ta đã chuyển đổi những kết luận từ một tình huống này sang một tình huống khác, dựa trên những đặc tính giống nhau.Một cách khái quát hơn, lập luận này có thể được viết như sau: P1 : A và B đều có chung những đặc tính X, Y và ZP2 : A có đặc tính W C : B cũng có đặc tính W Từ đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay một hệ quả đó là nếu 2 sự vật – hiện tượng sử dụng trong khi loại suy càng có nhiều đặc tính giống nhau, thì khả năng giống nhau về những đặc tính khác càng cao. Nói ngắn gọn hơn, 2 sự vật – hiện tượng càng giống nhau, sự dụng phép loại suy càng có hiệu quả. Dưới đây là một số ví dụ về loại suy mà ta thường bắt gặp trong đời sống hằng ngàyCác nguyên tử giống như những hệ mặt trời thu nhỏ, và các electron giống như những hành tinh tí hon.Giống như các hộ gia đình, các quốc gia không nên chi tiêu nhiều hơn những gì họ kiếm được.Những người sử dụng smartphone hiện nay thật giống những con zombies, họ không có nhận thức gì về thế giới xung quanh họ.Tình yêu cũng giống như ly cà phê sữa, có cả cay đắng và ngọt ngào.Mỗi một ví dụ này đều có thể được sử dụng để hình thành nên một lập luậnMột phép loại suy tồi là phép loại suy sử dụng 2 sự vật – hiện tượng khác xa nhau để so sánh.Hãy xem xét ví dụ sau đây:Án tử hình giống như một ngọn hải đăng. Nếu như hải đăng giúp các con tàu tránh khỏi những vật cản trên biển thì án tử hình giúp ngăn chặn những tội ác nguy hiểm. Chúng ta không biết có bao nhiêu con tàu đã được những ngọn hải đăng cứu sống, vì vậy chúng ta cũng không thể biết được có bao nhiêu hành phi phạm tội nguy hiểm đã được ngăn chặn bởi án tử hình.Đây có thể coi là một phép loại suy tồi bởi vì một ngọn hải đăng và án tử hình có rất ít điểm chung. (Mặc dù vậy, không phải là không thể tạo ra một lập luận thuyết phục từ 2 sự vật này)Giờ đây, đã có bằng chứng chứng minh rằng án tử hình không có chút ảnh hưởng nào đến tỉ lệtội phạm nguy hiểm.Vì vậy, nếu phép loại suy nào sử dụng 2 sự vật – hiện tượng khác xa nhau thì lập luận dựa trên phép loại suy này sẽ có độ thuyết phục rất thấp.Làm như vậy tức là chúng ta đang mắc phải lỗi ngụy biện LOẠI SUY BỪA, như kiểu lấy táo đem ra so sánh với cam vậy.Cách tốt nhất để phản biện lại những lập luận loại suy bừa thế này là rút ra những kết luận kì cục từ chính phép loại suy đó. Ví dụ:A: Tao thấy thú cưng cũng giống như những đứa trẻ con vậy, chúng ta nên cho phép chúng leo lên giường.B: Nếu như vậy, chúng ta cũng nên dạy những con thú cưng học đọc, học viết hay cho chúng tiền tiêu vặt chứ?Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Khi chúng ta đi từ những quan sát sự vật – hiện tượng đơn lẻ đến những kết luận chung cho cả nhóm sự vật – hiện tượng đó, chúng ta đang khái quát hóaVí dụ, tôi thấy những con thiên nga tôi từng gặp đều có màu trắng, tôi có thể khái quát hóa đến kết luận rằng tất cả các con thiên nga đều màu trắng. Đây là một lập luận, tôi có thể viết nó ra dưới dạng như thế này :P1 : Tôi đã từng trông thấy rất nhiều con thiên nga và tất cả chúng đều màu trắng.C : Tất cả các con thiên nga đều màu trắngHay cụ thể hơn nữa, là thế này:Con thiên nga này màu trắng. Con này cũng màu trắng. Thêm một con màu trắng. Tiếp tục một con màu trắng nữa.Kết luận: Tất cả thiên nga đều màu trắngNgay lập tức bạn có thể đặt câu hỏi, tôi cần nhìn thấy bao nhiêu con thiên nga đủ để kết luận như trên. Xét theo khía cạnh của lập luận diễn dịch, câu trả lời của tôi là ‘tất cả’. Sự BẢO ĐẢM chắc chắn của lý luận diễn dịch vướng phải một vấn đề là chi phí cực lớn trong việc thu thập tất cả các thông tin. Do vậy, chúng ta cần phải chấp nhận việc thu thập một phần thông tin trong TẤT CẢ các trường hợp để rút ra những kết luận GẦN ĐÚNG. Và đó thường là trường hợp chúng ta khái quát hóa từ một mẫu đến toàn bộ tổng thể.Đó cũng chính là những gì chúng ta làm khi thực hiện khảo sát. Những điều tra viên gặp gỡ một nhóm người ngẫu nhiên (mẫu), hỏi họ một số câu hỏi cụ thể, sau đó khái quát hóa kết quả. Ví dụ, một công ty truyền thông hỏi ngẫu nhiên 100 người dân Anh về quan điểm của họ trong việc nước Anh rời khỏi liên minh châu Âu. Nếu 20% trong số này trả lời rằng họ muốn nước Anh ở lại, công ty truyền thông kia có thể kết luận rằng 20% người dân Anh không đồng tình với Brexit và muốn nước Anh ở lại. Đây còn được gọi là khái quát hóa theo tỉ lệ.Cách tăng độ chính xác khi khái quátHãy quay trở lại ví dụ về thiên nga phía trên. Kết luận rằng tất cả các con thiên nga đều màu đen chỉ có vẻ hợp lý nhưng không chắc chắn 100%. Chúng ta có thể thay đổi điều gì để kết luận này trở nên chắc chắn hơn ?Có hai điều bạncó thể làm đó là :Tăng kích thước của mẫuTăng độ đa dạng của các cá thể trong mẫu.Tăng kích thước của mẫu thì dễ hiểu rồi. Càng thấy nhiều con thiên nga, chúng ta càng tự tin hơn vào kết luận rằng tất cả các con thiên nga đều màu đen.Còn tăng độ đa dạng của các cá thể trong mẫu là thế nào ?Sự đa dạng giữa các cá thể thiên nga có thể bao gồm những sự khác biệt về các tiêu chí như độ tuổi, giới tính, vị trí địa lý hoặc thời điểm trong năm.Nếu chúng ta bắt gặp những con thiên nga khác nhau ở một loạt các tiêu chí như trên, và tất cả chúng đều màu trắng, chúng ta sẽ tự tin hơn khi kết luận rằng tất cả các con thiên nga màu trắng.Các lỗi thường gặp khi khái quátTrong đời sống hằng ngày, có rất nhiều lập luận được đưa ra dựa trên sự khái quát hóa. Bất kì khi nào bạn nghe thấy ai đó phát biểu một điều gì đó đúng trong tất cả các trường hợp, đó là một sự khái quát hóa.Ví dụ, các phát biểu sau đây đều dựa trên sự khái quát hóa:Pitbull là một loài chó hung dữTrên đời này, không có ai cho không ai cái gìNhững người đàn ông không biết lo cho gia đình thì không phải là người đàn ông thật sựKhông có gì quý hơn độc lập tự doNhững người thành công đều học đại họcTriết gia là những con người tuyệt vờiMỗi phát biểu trên đây đều là một sự khái quát hóa. Điểm chung của tất cả các phát biểu trên là người phát biểu đều khẳng định kết luận của mình luôn đúng trong mọi trường hợp.Chúng ta có 2 cách để kiểm tra một sự khái quát hoát là tốt hay không, đó là dựa trên kích thước mẫu và độ đa dạng của các cá thể trong mẫu. Chúng ta cần đặc biệt cẩn thận khi sử dụng phép khái quáthóa nếu chúng ta muốn những phát biểu của mình được mọi người tin.Có hai lỗi chúng ta thường gặp khi khái quát hóa.Khái quát hóa vội vàng (khi kích thước mẫu quá nhỏ)Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Chúng ta đã được biết đến những lập luận có chứa các tiền đề và kết luận ở bài 1. Chúng ta cũng được biết rằng, nếu các kết luận được suy ra một cách logic từ các tiên đề thì lập luận đó là hợp lệ. Khái niệm HỢP LỆ, chỉ thật sự xuất hiện khi có một sự ĐẢM BẢO khi rút ra kết luận từ các tiên đề. Những lập luận kiểu này được gọi là lập luận diễn dịch.Hãy cùng nhau nhìn lại một ví dụ:P1: Tất cả những loài động vật có vú đều có lôngP2: Mèo là loài động vật có vú.C: Mèo có lôngChúng ta có thể thấy, nếu hai tiền đề là đúng thì việc đưa ra kết luận như trên được đảm bảo một cách chắc chắn.Nhưng không phải tất cả các lập luận đều hoạt động theo cáchnày. Hãy theo dõi lập luận sau đây:P1: Cứ mỗi lần tôi ăn trứng vịt và tỏi sống, hôm sau tôi đều đau bụng.P2: Tôi vừa ăn trứng vịt và tỏi sống (rau muống chấm mắm tỏi).C: Ngày mai, tôi sẽ bị đau bụng.Kết luận rằng ngày mai tôi sẽ bị đau bụng dường như có khả năng xảy ra tương đối cao nhưng không chắc 100%. Tôi có thể không sao cả. Nhưng không vì vậy mà chúng ta gọi kiểu lập luận này là thiếu logic, chỉ là độ chắc chắn của những kết luận trong kiểu lập luận này kém hơn so với kiểu lập luận diễn dịch.Những lập luận mà kết luận nghe có vẻ hợp lý nhưng lại không chắc chắn 100% được gọi là các lập luận quy nạp (inductive arguements).Những lập luận này được sử dụng rất nhiều trong quá trình con người khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh. Chúng ta thường đưa ra những suy luận về bản chất của sự vật hiện tượng dựa trên những kinh nghiệm chúng ta từng trải qua. Mặc dù những kinh nghiệm của chúng ta có thể đáng tin cậy trong phần lớn trường hợp, nhưng chúng không phải là một sự đảm bảo chắc chắn.Một lập luận kiểu diễn dịch mà hợp lý là lập luận có độ thuyết phục cao nhất vì kết luận luôn được đảm bảo chắc chắn bởi tính đúng đắn của các tiên đề. Lập luận quy nạp với những tiên đề đúng cũng thuyết phục, nhưng ở nhiều mức độ khác nhau.Chúng ta thường sử dụng lập luận quy nạp theo hai cách: khái quát hóa và phép tương tự.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Vấn đề bản thể có ý nghĩa đặc biệt với con người là bởi con người không chỉ là những sinh vật sống tầm thường mà còn có nhiều đặc tính về tâm lý và tâm sinh lý khó có thể định nghĩa bằng đặc điểm vật lý đơn thuần.Ta có thể xem mỗi con người là một cá nhân có một quan điểm nhất định về thế giới, có mong muốn và khát vọng, có lịch sử riêng hàm chứa trong kí ức của anh ta, đồng thời có những xu hướng hành động và phản ứng nhất định đối với người khác cũng như thế giới xung quanh. Mỗi cá nhân cũng có khả năng đưa ra các quyết định lý tính và đạo đức mà vì đó anh ta có thể được ngợi khen, bị đổ lỗi và chịu trách nhiệm tương ứng. Qủa là khó, dù không hẳn là không thể để thực sự hiểu bản chất cách chúng ta xem người khác như những cá nhân riêng biệt. Qủa là khó để giải mã xu hướng thực hành hay bất tuân đạo đức của những cá nhân đó trừ phi con người cũng giữ các đặc tính theo thời gian như đồ vật. Và do đó, mỗi cá nhân là người như thế nào và điều gì đảm bảo tính liên tục của cá nhân đó theo thời gian vẫn luôn là những câu hỏi triết học quan trọng.Những tiêu chí xác định bản thểKhi chúng ta cố gắng trả lời câu hỏi xem ta là loại người như thế nào, ta thường nghĩ về tính cách. Khi nghĩ về tính cách, ta thường nghĩ đến suy nghĩ, những niềm tin sâu sắc, ao ước, khát vọng hay việc làm trong quá khứ của ta. Tôi là loại người nào? Tôi đã làm hay đạt được những gì? Ta cố kiếm tìm bằng chứng từ những hành vi và kinh nghiệm trong quá khứ để củng cố đánh giá về tính cách, mà trong quá trình đó thì kí ức đóng một vai trò then chốt.Vì tôi nhớ mình đã nói hỗn với giáo viên và gặp rắc rối hồi lớp 5 mà tôi có ý thức về bản thân mình bao gồm những kinh nghiệm của thời lớp 5 đó. Kí ức cho tôi quyền truy cập vào 1 dạng bản thể tồn tại trước đó mà không gì khác có thể. Vai trò tiên quyết của kí ức trong việc hình thành ý thức về bản thân chúng ta qua thời gian đã khiến một số triết gia quả quyết kí ức là “tiêu chí” quyết định bản thể cá nhân theo thời gian.“Tiêu chí kí ức” về bản thể cá nhân qua thời gian được cho là do triết gia John Locke (1632-1704) khởi xướng. Tạm thời ta chưa bàn đến chính khác John Locke nghĩ gì ở đây. Locke đã từng viết rằng con người là “một sinh vật thông minh, có suy tư và lý trí, có thể tự coi mình là chính mình, một sinh vật có cùng dạng suy nghĩ ở nhiều thời điểm và địa điểm khác nhau” (Locke 1975: 335). Nói cách khác, con người là một sinh vật thông minh, có khả năng tự nhận thức được sự liên tục qua không gian và thời gian của chính mình.Thật khó để nhận thấy làm thế nào một người có thể đạt được tất cả những điều đó mà không nhờ kí ức. Về căn bản thì kí ức là một hiện tượng mang tính thời điểm nên nó dường như là một tiêu chí rất tốt để duy trì sự bền bỉ theo thời gian. Trên hết, kí ức là thứ liên kết tôi với quá khứ của mình. Bởi vì tôi chỉ nhớ được kinh nghiệm quá khứ của mình, dường như theo một cách tự nhiên thì sẽ hình thành một bản ngã bền bỉ mà những kí ức cuộc sống truy lại được.Hiện tượng kí ức sai lệch, nếu quả có thực, sẽ đặt ra câu hỏi về độ tin cậy của việc lấy kí ức làm tiêu chí cho bản thể cá nhân. Cái gọi lại “kí ức sai lệch” không thực sự là kí ức mà là những trạng thái tâm lý khác – chẳng hạn – suy nghĩ và niềm tin – hàm chứa trong đối tượng và bắt chước kí ức thật. Song dù sao đi nữa, độ tin cậy sẽ luôn là một vấn đề vì kí ức về bản chất khó mà tin cậy được. Kí ức có nhiều khả năng hàm chứa những chi tiết mơ hồ. Tuy nhiên, kí ức vẫn là bằng chứng tốt nhất mà ta có để xác định tính liên tục của cá nhân.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
Bạn còn nhớ từ giấy chứng minh thư (CMT) tiếng Anh gọi là gì chứ? Đó là: Identification Card hay ID Card. CMT là thứ giúp phân biệt mỗi cá nhân với những người khác, hay nói cách khác, nó giúp định danh bạn là ai trong số tất cả những con người trên thế giới này.Từ đó bạn có thể hình dung, vấn đề được bàn đến trong bài này, mang nghĩa là xác định cái danh tính, cái để giúp phân biệt đối tượng này với đối tượng khác.Có nhiều cách để dịch thuật ngữ này: danh tính, bản thể hoặc sự đồng nhất. Trong bài này, tôi sử dụng đan xen cả 3 cách dịch trên.Thảo luận về sự đồng nhất (identitity) là một sự thảo luận lạ lùng. Các tuyên bố có dạng A đồng nhất (identical) với B dường như ngụ ý rằng giữa A và B có một vài mối liên hệ, và từ chính mối liên hệ đó, ta suy ra A và B là những thứ tách biệt (distinct things). Nhưng điều này không thể đúng, bởi vì nếu A và B đồng nhất với nhau thì A và B không phải 2 thứ tách biệt. Nếu tôi nói rằng Batman đồng nhất với Bruce Wayne (Danh tính bí mật của Người dơi là Bruce Wayne, một tỷ phú người Mỹ, một tay chơi, một nhà công nghiệp, một nhà từ thiện và là chủ sở hữu của Wayne Enterprises), tôi không định nói có 2 thứ tách biệt là Batman và Bruce Wayne và giữa chúng có một mối liên hệ. Chỉ có một người đàn ông ở đây với một vài món đồ rất ngầu.Đôi lúc, các triết gia hay diễn tả sự đồng nhất một cách hài hước theo lối lập luận vòng tròn: Mọi vật là những gì nó là và không phải là một thứ khác( Everything is what it is and not another thing). Rõ ràng, một vật chỉ “không là một thứ khác” nếu như vật đó đã đồng nhất với chính nó. Theo một số triết gia, lập luận này không hề luẩn quẩn mà chỉ đơn giản là một dấu hiệu cho thấy sự đồng nhất sẽ không có vấn đề gì phải bàn cãi nữa vì bất kì thứ gì đều ít nhất đồng nhất với chính nó. Như đã nói, tư duy về sự đồng nhất có thể rất phức tạp. Chúng ta không thể làm ngơ vấn đề này vì nó đóng một vai trò quan trọng trong việc tư duy về những sự thay đổi tự nhiên (natural change) và mối quan hệ giữa các sự vật, bao gồm cả bản thân chúng ta và thời gian. Có phải mọi sự vật vẫn là chính nó khi thời gian trôi đi, ví dụ chiếc điện thoại bạn đang dùng ở thời điểm hiện tại, ngày hôm qua và ngày mai (nếu có thể) có phải là một, hay thế giới là một dòng chảy không ngừng, không có gì tồn tại quá một khoảnh khắc? Khi triết gia Hy Lạp Cổ Đại, Heraclitus, nhận xét rằng không ai tắm hai lần trên một dòng sông, dường như ông đã nghĩ rằng sự tồn tại của các vật thể đơn giản chỉ là một mắt xích trong một chuỗi những biến chuyển vĩ đại.Ở một cấp độ phân tích, những vấn đề phát sinh với bản thể cá nhân chỉ là một trường hợp đặc biệt trong những vấn đề bản thể nói chung: có phải mỗi người chỉ là thể xác của họ, có phải mỗi người là một thứ gì đó bất biến dù thời gian trôi khiến các bộ phận trên cơ thể có sự thay đổi là những câu hỏi có hình thức tương tự như câu hỏi liên quan đến mối quan hệ giữa một khối đá và bức tượng được tạc ra từ khối đá đó. Ở một cấp độ khác, những vấn đề phát sinh với bản thể cá nhân liên quan tới chính khái niệm “con người” và như thế nào được coi là một con người.Những đặc tính nào sau đây định hình cách chúng ta tư duy về bản thể cá nhân: con người – một sinh vật có lý trí, biết lập kế hoạch, tương tác với những những thứ xung quanh, tự chủ và biết chịu trách nhiệm đạo đức? Làm sao chúng ta có thể lập kế hoạch cho tương lai hay bắt một ai đó chịu trách nhiệm cho những gì họ đã gây ra trong quá khứ nếu như chúng ta không thể giải thích được mỗi chúng ta là một người và vẫn là chính người đó qua thời gian? Các triết gia đã bàn đến vấn đề bản thể này từ rất rất lâu, nhưng đây là một khái niệm làm nền tảng giúp chúng ta tư duy về bản thân chúng ta như là những sinh vật có lý trí và đạo đức.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
loading
Comments