Discover
Tạp chí tiêu điểm
328 Episodes
Reverse
Một năm sau khi tuyên bố « tình trạng khẩn cấp năng lượng » tại Mỹ, Donald Trump đã chiếm được quyền kiểm soát dầu hỏa Venezuela. Nhưng trong cuộc cạnh tranh giành thế thống trị năng lượng thế giới với Trung Quốc, Hoa Kỳ không dừng ở nguồn nhiên liệu hóa thạch mà nắm luôn cả năng lượng hạt nhân. Ngày 20/01/2025, trong ngày nhậm chức, nhà tỷ phú Mỹ Donald Trump đã tuyên bố : « Cuộc khủng hoảng lạm phát là do chi tiêu quá mức và giá năng lượng leo thang. Đó là lý do vì sao hôm nay, tôi cũng sẽ tuyên bố tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia. Chúng ta sẽ khoan dầu, khoan dầu, khoan dầu nữa ! » "Khẩn cấp năng lượng" : Nước Mỹ lâm nguy ? Hơn ba tuần sau, ngày 14/02/2025, nguyên thủ Mỹ ký sắc lệnh thành lập « Hội đồng Quốc gia về Thống trị Năng lượng ». Theo Nhà Trắng, hội đồng này sẽ điều phối chính sách năng lượng và đơn giản hóa thủ tục cấp phép, sản xuất và phân phối các nguồn năng lượng khác nhau. Trên đài France Culture ngày 12/01/2026, nhà nghiên cứu Thibault Michel, Trung tâm Năng lượng và Khí hậu thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), trước hết, giải thích quan điểm của chính quyền Trump về « tình trạng khẩn cấp năng lượng ». « Theo tôi, điều cần hiểu trước tiên là chính quyền Trump, ngay từ nhiệm kỳ I, thực sự đã có một cách tiếp cận, đó là sự thống trị năng lượng. Thế thống trị này vượt lên trên cả vấn đề an ninh năng lượng đơn thuần. Rõ ràng đây không chỉ là vấn đề nắm chủ quyền đối với nguồn cung năng lượng của chính mình, mà còn sử dụng năng lượng như một công cụ cả trong thương mại và địa chính trị, một công cụ để gây ảnh hưởng trên toàn thế giới. Và điều này có thể được thực hiện thông qua việc cung cấp dầu mỏ, khí đốt, năng lượng cho toàn cầu. » Và việc ban hành tình trạng khẩn cấp đã cho phép chính quyền Trump có thể hành động thường xuyên bằng sắc lệnh mà không cần thông qua Quốc Hội, đó là những gì ông Trump đã làm khi ký đến sáu hay bảy sắc lệnh ngay sau khi nhậm chức. Nhà nghiên cứu tại viện IFRI giải thích tiếp : « Sau đó còn có những sắc lệnh khác liên quan đến năng lượng hạt nhân. Rõ ràng là có lý do biện minh ở đây như ông Trump đã từng nói trong bài phát biểu hồi tháng 12/2025, xin trích, "tôi thừa hưởng một thảm họa". Vì vậy, đây là tình trạng khẩn cấp, chúng ta phải hành động. Nhưng bên cạnh đó, người ta thực sự đang thấy rõ tham vọng thống trị và tiềm năng mà cách tiếp cận khẩn cấp này mang lại. » Cũng trong ngày nhậm chức, nguyên thủ Mỹ còn nói thêm « điều chúng ta muốn làm là giữ AI, tức trí tuệ nhân tạo, ở trong nước ». Ông thông báo những khoản đầu tư trị giá 500 tỷ đô la của khu vực tư nhân để xây dựng các trung tâm dữ liệu. Đối với bộ trưởng An ninh Nội địa Doug Burgum, « Hoa Kỳ đang lao vào một cuộc đua về vũ khí trên phương diện AI với Trung Quốc. Cách thức duy nhất để giành thắng lợi là có nhiều điện năng hơn nữa ». Trung tâm dữ liệu : Những cỗ máy « háu » năng lượng Theo Le Monde Diplomatique, số ra tháng 01/2026, tại Mỹ trong giai đoạn 2022-2024, đầu tư vào các trung tâm dữ liệu ở chiếm 84% tổng vốn cam kết ở Virginia, bang tập trung nhiều trung tâm nhất. Trên toàn quốc, chi tiêu cho các trung tâm dữ liệu và các hoạt động công nghệ dường như đã giúp tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hoa Kỳ thêm 0,5 điểm trong quý 2 năm 2025. Việc đầu tư vào trung tâm dữ liệu không chỉ mang tính kinh tế, mà còn là một thách thức chiến lược. Trả lời nhà báo độc lập Eva Thiébaud, tác giả bài viết « Vì sao Hoa Kỳ tái khởi động hạt nhân dân sự ? », đăng trên báo Le Monde Diplomatique, chuyên gia về kinh tế - chính trị các giao diện kỹ thuật số Vili Lehdonvirta, đại học Aalto ở Phần Lan, phân tích : « Nhìn từ góc độ quân sự, các tập đoàn công nghệ khổng lồ và các trung tâm dữ liệu của họ hỗ trợ chính phủ bằng cách lưu trữ và xử lý, thông qua trí tuệ nhân tạo, khối lượng thông tin khổng lồ được thu thập từ camera hoặc bộ cảm biến trong vùng chiến sự, như những gì đã xảy ra với Israel và cuộc tấn công của họ ở Palestine. Và ngoài lĩnh vực quân sự, Edward Snowden đã cho chúng ta thấy các công ty công nghệ có thể đồng ý cung cấp quyền truy cập dữ liệu của họ cho chính phủ Mỹ, do đó chúng có một tầm quan trọng đối với tình báo. » Tuy nhiên, việc đầu tư vào trung tâm dữ liệu và AI tại Mỹ, ngoài những rủi ro địa chính trị như gián đoạn nguồn cung đất hiếm, đang vấp phải một trở ngại lớn ở trong nước : Tình trạng thiếu điện do thiếu mạng lưới truyền tải và đòi hỏi nhiều thời gian để cải thiện. Le Monde Diplomatique nêu ví dụ Dominion, nhà sản xuất, điều hành và phân phối điện lớn nhất tại bang Virginia, hồi tháng 07/2024, đã gởi thư thông báo với khách hàng rằng việc kết nối với các đường dây công suất lớn sẽ phải kéo dài thêm từ 12 đến 36 tháng so với trước đây, tức là phải mất từ 4 đến 7 năm. Hạt nhân : Nguồn năng lượng dồi dào Ngày 23/05/2025, tổng thống Mỹ ký sắc lệnh nhắm mở ra « một kỷ nguyên hạt nhân mới ». Ông kêu gọi triển khai 300GW điện hạt nhân bổ sung từ đây đến năm 2050. Nhà Trắng đầu tư vào 10 lò phản ứng hạt nhân đang được xây dựng từ đây đến năm 2030. Ngày 28/10/2025, Washington thông báo một đối tác chiến lược trị giá 80 tỷ đô la với tập đoàn năng lượng hạt nhân Westinghouse Electric Company, nhằm tái triển khai ngành công nghiệp hạt nhân quốc gia, có khả năng cung cấp năng lượng trước sự bùng nổ nhu cầu từ các trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Trên đài France Culture, nhà báo Eva Thiébaud, giải thích, « Ai cũng nhận thấy hiện nay chúng ta đang trải qua thời kỳ bùng nổ trí tuệ nhân tạo, với rất nhiều trung tâm dữ liệu đang được xây dựng ở Hoa Kỳ, vốn tiêu thụ và sẽ tiếp tục tiêu thụ ngày càng nhiều năng lượng, mặc dù các dự báo hiện tại đầy rẫy sự bất định. Vì vậy, các trung tâm dữ liệu này cần được cung cấp năng lượng, và để làm được điều đó, có một số giải pháp năng lượng khả dụng. Tất nhiên, có các nhà máy điện chạy bằng khí đốt và, tại sao không phải là năng lượng hạt nhân trong tương lai ? Chính vì lẽ đó mà thông báo này đã được đưa ra gần đây. » Ngoài ra, chính quyền Trump còn có thể trông cậy vào các đại tập đoàn công nghệ. Các hãng lớn như Google AI và Google DeepMind, Meta AI, Nvidia, Amazon Web Services (AWS) hay như Microsoft, vốn xem hạt nhân như là một nguồn năng lượng ổn định nhất cho các trung tâm dữ liệu, để phát triển các công nghệ hạt nhân mới như mô hình « lò phản ứng mô-đun nhỏ », một công nghệ được cho là có nhiều lợi thế, có thể cung cấp năng lượng trực tiếp cho các trung tâm dữ liệu, hạn chế phát thải khí nhà kính và tự giải phóng khỏi lưới điện. Hay như việc Trump Media, công ty mẹ của mạng xã hội Truth Social ưa thích của tổng thống Trump, thông báo liên kết với hãng Mỹ TAE chuyên về phát triển công nghệ phản ứng tổng hợp hạt nhân, mà Trung Quốc hiện đang dẫn đầu. Nhưng việc xây dựng các nhà máy hạt nhân dân sự mới không phải là điều dễ dàng, bởi vì, « các nhà máy điện hạt nhân là những dự án cực kỳ phức tạp, cần rất nhiều thời gian để triển khai, và hiện nay năng lượng hạt nhân tiêu tốn của Hoa Kỳ nhiều hơn so với việc xây dựng các nhà máy điện khí đốt », theo như nhận xét của nhà báo Eva Thiébaud. Theo nhà báo độc lập này, « đây là lý do vì sao hiện nay, bên hưởng lợi chính từ sự bùng nổ trí tuệ nhân tạo, vốn tiêu thụ nhiều năng lượng là khí đốt, và có lẽ bước tiếp theo là năng lượng hạt nhân. Nhưng quả thật, năng lượng nguyên tử rất đắt đỏ và rất khó để triển khai. Người ta phải chờ xem chính quyền Trump thực sự có đủ nguồn lực để đáp ứng tham vọng đó hay không. Điều chắc chắn là hiện nay có nhiều thông báo về các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) nhưng chúng ta cần xem liệu việc sản xuất điện bằng các lò phản ứng nhỏ với giá cạnh tranh có khả thi hay không. Hiện tại, các nhà sản xuất lớn trong ngành công nghiệp hạt nhân đang chuyển sang sử dụng các nhà máy điện hạt nhân cũ hơn chính vì chúng giúp giảm cả thời gian và chi phí sản xuất điện. » … Và cuộc đua giành ảnh hưởng về năng lượng nguyên tử Trong khi chờ đợi tìm ra công thức thần kỳ, các công ty kỹ thuật số đang dựa vào cơ sở hạ tầng hiện có để giảm chi phí và thời gian. Năm 2024, Amazon đã ký kết thỏa thuận mua bán trực tiếp với nhà điều hành nhà máy điện hạt nhân Susquehanna ở Pennsylvania. Một giải pháp khả thi khác là khởi động lại các nhà máy đã ngừng hoạt động. Bất chấp thảm họa năm 1979, khi một trong hai lò phản ứng bị tan chảy, nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island, bang Pennsylvania, thông báo khởi động trở lại sau một thời gian dài ngừng hoạt động. Tập đoàn này đã ký kết một thỏa thuận với Microsoft để đảm bảo nguồn cung điện năng cho hãng công nghệ kể từ năm 2027 trong vòng 20 năm. Dù vậy, theo giới chuyên gia, bên cạnh việc tìm cách bù đắp cho nhu cầu năng lượng ngày càng lớn trong nước, chủ trương phát triển năng lượng hạt nhân, trong dài hạn, còn nhằm mục tiêu đưa Hoa Kỳ trở lại cuộc đua bán năng lượng nguyên tử trên thế giới. Trên đài France Culture, nhà báo Eva Thiebaud giải thích : « Có sự cạnh tranh quốc tế trong việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, trong đó Hoa Kỳ đang cạnh tranh với Trung Quốc và Nga, cùng nhiều nước khác. Do đó, việc khởi động lại hay xây dựng các nhà máy điện hạt nhân có thể giúp Mỹ giành lại vị thế trong cuộc đua về buôn bán nhà máy điện hạt nhân quốc tế. Quả thật, trong những năm gần đây, WestingHouse và Hoa Kỳ không xây dựng nhiều nhà máy điện trên lãnh thổ của mình. Kể từ thảm họa Three Mile Island năm 1979, việc phát triển năng lượng hạt nhân đã bị đình trệ, bất chấp nỗ lực hồi sinh vào những năm 2010. Vì vậy, ở đây còn có mong muốn khởi động lại ngành công nghiệp hạt nhân trên lãnh thổ của mình để định lại vị thế quốc tế của đất nước. » Một năm sau những phát biểu trên và sau cuộc tấn công bất ngờ vào Caracas bắt giữ vợ chồng tổng thống Venezuela Nicolas Maduro đưa về Mỹ, tổng thống Donald Trump hôm 07/01/2026, tuyên bố : « Đất nước chúng ta phải được bao quanh bởi các quốc gia an toàn và ổn định. Và chúng ta cũng phải có năng lượng. Điều này là quan trọng ». Sự kiện này, phù hợp với việc ban hành « tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia » một năm trước và chính sách « khoan dầu, khoan dầu nữa đi », nhằm mở đường cho các hoạt động khai thác của
Cuộc can thiệp quân sự chớp nhoáng trong vài tiếng đồng hồ của các lực lượng Mỹ tại Venezuela để bắt tổng thống Nicolas Maduro đưa sang Hoa Kỳ ngày 03/01/2026 là một diễn biến bất ngờ với đông đảo công chúng. Hành động không thông qua Quốc Hội Mỹ, đứng ngoài mọi khuôn khổ luật pháp quốc tế của chính quyền Trump được nhiều nhà quan sát xem như là một cuộc tấn công vào nền móng của kiến trúc an ninh quốc tế, do chính Hoa Kỳ chủ trương. Với những ai tin tưởng tổng thống Mỹ Donald Trump là người theo chủ nghĩa biệt lập, xa lánh mọi can thiệp quân sự bên ngoài, và chỉ hành động trong trường hợp bất đắc dĩ, sẽ ngạc nhiên về chiến dịch quân sự quy mô lớn, bắt giữ tổng thống một quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, giới quan sát ghi nhận chiến lược của phe cầm quyền tại Mỹ đối với Venezuela thể hiện rõ quốc gia Nam Mỹ này đã được sử dụng như một phương tiện thực thi chủ trương « Nước Mỹ trên hết » của Donald Trump, và chủ trương « Nước Mỹ trên hết » chỉ có thể thành công nếu Washington áp đặt trở lại quyền kiểm soát với khu vực Tây Bán Cầu. Chống « khủng bố ma túy » chỉ là bình phong Vì sao Donald Trump chọn Venezuela làm mục tiêu của cuộc can thiệp quân sự chưa từng có này ? Nhà báo Gille Paris của Le Monde, trong bài « Đối với Donald Trump, chủ trương ‘‘Nước Mỹ trên hết’’ được thực thi trước hết qua trường hợp Venezuela », nêu bật việc tổng thống Mỹ ngay từ khi trở lại cầm quyền đầu năm 2025, đã chuẩn bị các điều kiện cho mục tiêu kiểm soát Venezuela : từ việc ban hành sắc lệnh tổng thống về việc xác định các tổ chức tội phạm và các băng đảng buôn lậu ma túy là « tổ chức khủng bố nước ngoài », một công cụ tư pháp chống lại chế độ Caracas, cho đến việc triển khai lực lượng quân sự quy mô lớn áp sát Venezuela nhân danh lá bài chống « khủng bố ma túy ». Các hoạt động này diễn ra song hành với nỗ lực của chính quyền Trump khẳng định quyền lực của một siêu cường có thể hành xử tùy ý, bất chấp mọi khuôn khổ, đặc biệt tại khu vực châu Mỹ Latinh, vốn được coi là « sân sau » của nước Mỹ trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng như nhiều thập niên trước đó. Kẻ mạnh có thể chà đạp mọi khuôn khổ: « Sự thật vĩnh cửu trong quan hệ quốc tế » Cuộc chiến chống « khủng bố ma túy » của chính quyền Trump được nhiều chuyên gia xem như là một bình phong để che đậy các tham vọng khác. Tháng 6/2025, trả lời phỏng vấn tạp chí The Atlantic, tổng thống Mỹ khẳng định có toàn quyền quyết định điều gì có thể đưa vào hay không đưa vào định nghĩa « Nước Mỹ trên hết ». Chiến lược an ninh quốc gia điều chỉnh, được công bố vào tháng 12/2025, ít tuần lễ trước cuộc can thiệp quân sự tại Venezuela, cho thấy rõ chủ trương của tổng thống Mỹ sẵn sàng hành động bất chấp mọi khuôn khổ pháp lý hay đạo lý: « Ảnh hưởng của các quốc gia lớn nhất, giàu nhất và mạnh nhất luôn vượt ra mọi khuôn khổ là một sự thật vĩnh cửu trong quan hệ quốc tế ». Liên quan đến khu vực Mỹ Latinh, chiến lược này nêu rõ là Mỹ phải tìm cách tiếp cận các nguồn tài nguyên và vị trí chiến lược, đồng thời đảm bảo rằng các chính phủ trong khu vực « đủ ổn định và được quản lý tốt để ngăn chặn và hạn chế tình trạng di cư ồ ạt đến Hoa Kỳ ». Theo tài liệu này, Hoa Kỳ « sẽ ngăn chặn các đối thủ ngoài khu vực có cơ hội triển khai lực lượng hoặc các khả năng đe dọa khác, hoặc sở hữu hoặc kiểm soát các tài sản chiến lược » trong khu vực, ám chỉ đến Trung Quốc, quốc gia mua dầu mỏ chính của Venezuela. Châu Mỹ Latinh nói riêng và Tây Bán Cầu nói chung đã được tái xác định là khu vực gắn liền với lợi ích sống còn của nước Mỹ dưới thời Trump. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, tổng thống Mỹ đã nhiều lần tuyên bố về chủ trương sáp nhập Canada, Groenland và kênh đào Panama. Tuy nhiên, Venezuela đã được chọn làm điểm tấn công đầu tiên. Dầu mỏ Venezuela: Duyên nợ trăm năm và tham vọng thống trị của Mỹ Nếu như chế độ độc tài của tổng thống Nicolas Maduro thường xuyên bị chính quyền Trump lên án, dầu mỏ được coi là lý do chủ yếu khiến Nhà Trắng can thiệp quân sự tại Venezuela. Ông Trump liên tục khẳng định nước Mỹ phải giành lại quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên đã bị chế độ Chavez tước đoạt. Việc lãnh đạo cánh tả Hugo Chavez lên nắm quyền vào năm 1999 đã chấm dứt giai đoạn quan hệ được coi là ổn định, kéo dài gần thế kỉ giữa chính quyền Venezuela trong các thời kỳ khác nhau và Washington. Chính quyền của tổng thống Bush con từng ủng hộ cuộc đảo chính hụt chống chế độ Chavez hồi năm 2002. Quan hệ « dầu mỏ » Mỹ - Venezuela bắt đầu từ năm 1908, sau khi tư lệnh quân đội, phó tổng thống Juan Vicente Gómez lật đổ tổng thống Cipriano Castro, với sự hỗ trợ của hải quân Mỹ, Venezuela bước vào một thời kỳ liên minh thực dụng với Washington. Gómez mở cửa hoàn toàn ngành dầu mỏ cho các tập đoàn dầu khí Mỹ, đặt nền móng cho mối « quan hệ dầu mỏ » kéo dài hàng thập kỷ. Tuần báo Le Point, trong bài phân tích mang tựa đề « De Monroe à Trump : Le Venezuela éternel laboratoire de l’empire américain » (Từ Monroe đến Trump : Venezuela luôn là địa bàn thử nghiệm cho chính sách đế quốc của nước Mỹ), ghi nhận : bất chấp quan hệ song phương căng thẳng, Venezuela vẫn tiếp tục là nhà cung cấp dầu mỏ chính của Mỹ, cho dù chính quyền Chavez mở rộng quan hệ với Cuba, Iran, Nga và Trung Quốc. Dưới thời Chavez, trao đổi thương mại Mỹ - Venezuela, với hàng hóa chính là dầu mỏ, lên tới 50 tỉ đô la vào năm 2007. Sự phụ thuộc lẫn nhau về năng lượng khiến Washington hạn chế các trừng phạt đối với chế độ Caracas. Việc chính quyền Venezuela quốc hữu hóa ngành dầu mỏ từ năm 1976 đã không phá vỡ thế cân bằng này : Venezuela tiếp tục được coi là nhà cung cấp đáng tin cậy cho Mỹ, nên Washington chấp nhận sự độc lập tương đối của Caracas trong Tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ nhất đã thi hành chiến lược « gây áp lực tối đa » với Venezuela, nhằm buộc tổng thống Maduro, cầm quyền từ năm 2013, phải có nhiều nhân nhượng. Tập đoàn Mỹ Chevron, đối tác liên doanh chính của tập đoàn dầu mỏ quốc gia Venezuela (PDVSA), là công ty duy nhất được phép vận chuyển dầu thô từ Venezuela sang Mỹ với khoảng 100.000 đến 150.000 thùng dầu mỗi ngày, ngay trong thời gian Washington phong tỏa các tuyến đường hàng hải, và ra lệnh cấm Venezuela xuất khẩu dầu. Hơn 40 lần Mỹ thay đổi chính quyền tại châu Mỹ Latinh, nhưng Venezuela là trường hợp đặc biệt Theo thống kê của nhà sử học John Coatsworth, được trang mạng Le Grand Continent dẫn lại, từ năm 1898 đến năm 1994, nước Mỹ đã can thiệp 41 lần vào khu vực châu Mỹ Latinh để thay đổi chính quyền. Tuy nhiên, cuộc can thiệp vừa qua chống tổng thống Nicolas Maduro được xem như một trường hợp đặc biệt. Việc Mỹ đưa binh sĩ can thiệp trực tiếp vào lãnh thổ một quốc gia Mỹ Latinh để bắt giữ hoặc loại bỏ người đứng đầu nhà nước đương nhiệm chỉ xảy ra hai lần. Một lần tại Grenada năm 1983, và một lần vào năm 1989 tại Panama. Hai chiến dịch này đều nhắm vào lãnh đạo các quốc gia nhỏ với ít ảnh hưởng quốc tế. Với việc bắt giữ nhà lãnh đạo Venezuela, mặc dù Washington không công nhận ông là tổng thống hợp pháp, Hoa Kỳ đã tấn công một quốc gia có tầm vóc hoàn toàn khác, cả về quy mô và tầm ảnh hưởng khu vực và quốc tế. Thách thức Nga, Trung, hạ nhục cánh tả Về các lý do Mỹ can thiệp vào Venezuela, chuyên gia về châu Mỹ Latinh Clément Thibaud, giám đốc nghiên cứu trường Cao học Khoa học Xã hội (EHESS), đưa ra một nhận định tổng quan trong cuộc trả lời phỏng vấn đài Pháp France Culture (La Doctrine Monroe expliquée): « Châu Mỹ Latinh phần nào giống như một phòng thí nghiệm cho những gì có thể xảy ra tiếp theo phần còn lại của thế giới, bởi vì Hoa Kỳ khá quen thuộc với khu vực này, họ ít gặp rủi ro hơn khi hành động. Thực tế, tôi cho rằng chúng ta không thể tìm ra một lời giải thích duy nhất cho quyết định của Trump vừa qua. Có nhiều nguyên nhân. Điều đầu tiên là tổng thống Mỹ muốn cho Nga thấy rằng ông ấy có thể làm được trong ba giờ những gì người đã không thể làm được trong ba năm ở Ukraina. Trump cũng đang cho Trung Quốc thấy rằng họ không phải là một cường quốc toàn cầu thực thụ. Trung Quốc có sự hiện diện đáng kể ở châu Mỹ Latinh, đã trở thành đối tác thương mại chính của nhiều quốc gia, nhưng họ không có sự hiện diện quân sự như Mỹ. Vì vậy, rõ ràng đây là một thông điệp rất mạnh gửi đến Trung Quốc. Sau đó, tôi cho rằng còn một yếu tố quan trọng khác, khi hiểu rõ khu vực Mỹ Latinh, đó là trong mối quan hệ phức tạp giữa Cuba và Venezuela, hai nước vốn cực kỳ gắn bó, có các thế lực cánh tả chống đế quốc, chống Mỹ. Các chế độ này từ lâu đã mất đi hào quang trong con mắt cánh tả Mỹ Latinh, nhưng vẫn là những biểu tượng rất quan trọng. Và giờ đây các biểu tượng ấy đã bị hạ nhục, bởi vụ bắt giữ này và bởi việc đối xử với ông Maduro như một tên tội phạm thông thường, một kẻ buôn ma túy ». *** Lịch sử dường như đang lặp lại. Từ cuộc xung đột lãnh thổ Essequibo với Anh Quốc năm 1895 đẩy Venezuela vào vòng tay Mỹ (xem phần đóng khung trong bài) đến chiến dịch can thiệp bắt Nicolas Maduro, Venezuela luôn là chiến trường thử nghiệm chính cho bá quyền của Mỹ ở châu Mỹ Latinh. Điều khác biệt hiện nay là hành động tàn bạo công khai chưa từng thấy, không cần che đậy. Đối với tất cả các quốc gia châu Mỹ, cảnh báo của chính quyền Trump là rất rõ: Hoặc sẵn sàng đối mặt với cơn thịnh nộ Mỹ, hoặc phải nhường bước trước học thuyết« Nước Mỹ trên hết ».
Năm 2025 sắp khép lại nhưng nước Nga tuyên bố sẽ chẳng có « hưu chiến » tại Ukraina vào mùa lễ Noel. Tại châu Á, xung đột Thái Lan và Cam Bốt tái bùng phát, gần một triệu người phải sơ tán, trong khi quan hệ Trung Quốc và Nhật Bản căng thẳng do vấn đề Đài Loan. Ở châu Mỹ Latinh, chính quyền Trump tiếp tục gia tăng áp lực với Venezuela. Còn ở Gaza, người dân Palestine chẳng biết ngày nào sẽ được bình an trở lại. Tuy nhiên, việc tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 05/12/2025 công bố Chiến lược An ninh Quốc gia mới (NSS 2025) đã làm dấy lên nhiều tranh luận tại châu Âu vào lúc các cuộc đàm phán cho hòa bình cho Ukraina đang diễn ra căng thẳng. Tài liệu đánh dấu một bước ngoặt quan trọng cho chính sách đối ngoại của Mỹ khẳng định Tây bán cầu (châu Mỹ) trở thành ưu tiên hàng đầu. Donald Trump, « cướp biển vùng Caribê » Theo Kevin Parthenay, giáo sư đại học Tours, thành viên Viện Đại học Pháp, việc công bố tài liệu này « không gây ngạc nhiên ». Văn bản chính thức hóa và tạo « sự mạch lạc » cho các hành động mà Hoa Kỳ đã và đang thực hiện tại lục địa, từ việc can thiệp vào bầu cử, gây sức ép để tái triển khai quân đội, hay đe dọa dùng vũ lực, tùy theo đặc thù của mỗi nước mà chính quyền Trump có những cách thức hành động khác nhau. Đây được coi là một « sự mở rộng » hay một dạng « cập nhật của học thuyết Monroe », được thiết lập vào thế kỷ XIX, nhằm mục đích thiết lập thế bá quyền của Mỹ trong khu vực và ngăn cản các cường quốc khác ngoài Hoa Kỳ can thiệp vào « bán cầu châu Mỹ ». Điều này cho thấy học thuyết này vẫn đứng vững với thời gian và để lại hai hệ luận. Trên đài RFI (1/12/2025), Kevin Parthenay, nhà nghiên cứu về Khoa học Chính trị, giải thích tiếp : « Hệ quả Roosevelt, được thực hiện vào đầu thế kỷ 20, đã đưa Học thuyết Monroe lên một tầm cao hơn. Học thuyết đó tuyên bố rằng các cường quốc ngoài khu vực không chỉ không được quyền can thiệp vào không gian ảnh hưởng của Mỹ, mà những ai cố gắng tiếp cận khu vực này sẽ phải đối mặt với sự trả đũa. Vì vậy, ở đây chúng ta có một hệ luận mới từ Donald Trump, người gửi một thông điệp tương tự, theo đó Hoa Kỳ hiện đang tái khẳng định quyền bá chủ của mình đối với không gian của Mỹ và do vậy, chúng ta sẽ cố gắng ngăn chặn, được sử dụng trong tài liệu, nhằm ngăn chặn bất kỳ cường quốc nước ngoài nào tìm cách can thiệp hoặc mở rộng sự hiện diện của họ trên lục địa ». Tài liệu này được cho là đã tạo nên một « sự đột phá » so với chính sách được theo đuổi dưới thời các tổng thống Barack Obama và Joe Biden, vốn chỉ « tập trung vào các khu vực khác » trên thế giới, và châu Mỹ Latinh không được coi là một khu vực chiến lược. Từ khi trở lại Nhà Trắng, Donald Trump tin rằng sự ổn định của đất nước ông phụ thuộc, ít nhất một phần, vào những gì xảy ra ở châu Mỹ Latinh. Chỉ có điều, cách thức hành động của chính quyền Trump tỏ ra có phần bạo lực, mang tính cưỡng ép như những gì diễn ra tại vùng vịnh Caribê trong những tháng gần đây, đến mức tờ El Pais Amercica không ngần ngại có bài viết với hàng tựa « Donald Trump, cướp biển vùng Caribê ! » Châu Âu – Mỹ : Quan hệ liên kết có điều kiện Chiến lược mới này là hiện thân cho học thuyết « Nước Mỹ trên hết » : Hoa Kỳ chủ trương giảm bớt một số nghĩa vụ toàn cầu, ưu tiên bảo vệ lãnh thổ quốc gia, an ninh kinh tế và tái công nghiệp hóa đất nước, cũng như quyền chủ quyền và giảm bớt sự phụ thuộc trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Sự hiện diện quân sự của Mỹ sẽ được điều chỉnh, từ bỏ - hay chí ít là giảm bớt – các cam kết quân sự tại những chiến trường « ít thiết yếu » cho an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Trong tầm nhìn này, NSS 2025 ngầm định nghĩa lại mối quan hệ Hoa Kỳ và châu Âu – không còn là một quan hệ đối tác cân bằng toàn cầu, mà là một sự liên kết có điều kiện, theo hình thức « chia sẻ gánh nặng » và nhất là châu Âu được kêu gọi đảm nhận trách nhiệm nhiều hơn đối với an ninh của chính mình. Đây là một cú sốc chính trị cho Liên Hiệp Châu Âu vào lúc các nước trong khu vực xem Nga như là một mối đe dọa an ninh ngày càng lớn trong bối cảnh chiến tranh Ukraina có những diễn tiến bất lợi cho Kiev, đang chịu nhiều sức ép từ phía Washington, hối thúc tổng thống Zelensky nên nhượng lãnh thổ để chấm dứt chiến tranh. Sự hụt hẫng này của châu Âu một phần là do những đánh giá sai lầm của khối, cho rằng Donald Trump là kẻ thù của tư duy dài hạn, được điều khiển bởi bản năng. Đối với Olivier Zajec, giảng viên trường đại học Lyon III và là nhà sáng lập Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng (IESD), trái với những nhận định trên, Donald Trump ngay từ đầu nhiệm kỳ một đã có một kế hoạch chiến lược dài hạn, liên quan đến điều mà ông gọi là « vị trí của nước Mỹ trong một hệ thống quốc tế đang được tái định hình tùy theo các phạm vi quyền lực, phạm vi gây ảnh hưởng và phạm vi chia sẻ ảnh hưởng các các cường quốc trong khuôn khổ điều mà người ta có thể gọi là các cực đối lập cấp độ một ». Trả lời chuyên mục « Les grands entretiens d'Anne Rosencher », tuần báo L’Express, chuyên gia về Lịch sử Quan hệ Quốc tế Đương đại, phân tích : « Có ba điều quan trọng đối với Hoa Kỳ khi nói đến việc bảo vệ lợi ích quốc gia : Sức mạnh quân sự, hay sức mạnh nói chung, sự thịnh vượng kinh tế và tính chính trực về đạo đức. Và trên thực tế, Trump là người đầu tiên không đề cập đến tính chính trực về đạo đức và không đưa nó vào phương trình của mình. Kim chỉ nam của ông là kim chỉ nam dài hạn : Đó là sự thịnh vượng kinh tế và sức mạnh quân sự. Và với điều đó, ông tin rằng quyền tự do hành động của mình sẽ được tối đa hóa trong một hệ thống quốc tế mới, nơi Hoa Kỳ phải đóng vai trò lãnh đạo (…) Vì vậy, trong tầm nhìn này của ông, chiến lược vĩ đại của ông, ông chèo lái, điều hướng, liên tục đổi hướng, và đôi khi chúng ta phải theo ông ấy (…) Kế hoạch của ông ấy là bảo vệ lợi ích của Mỹ ở khắp mọi nơi, với bất kỳ ai, kể cả với đồng minh hay chống lại đồng minh, và trong bất kỳ hoàn cảnh nào. » Chiến tranh Ukraina : Sẽ không có thỏa thuận hòa bình ! Thế nên, trong hồ sơ Ukraina, tuy cảm thấy mệt mỏi về cuộc chiến, nguyên thủ Mỹ cũng không muốn nhượng bộ tất cả mọi thứ cho Nga. Theo ông Trump, « phải kềm chế Nga nhưng không được đẩy lùi họ hoặc coi Nga là kẻ thù không thể hòa giải. Trump tin rằng chúng ta có thể đối thoại với tất cả mọi người bất kể sự kinh hoàng và hậu quả của chiến tranh. Và ông ấy vẫn chưa từ bỏ hy vọng biến Nga thành đối tác trong vấn đề này hay vấn đề khác trong khuôn khổ thách thức khác, đó là cuộc đối đầu với Trung Quốc », chuyên gia Olivier Zajec đánh giá. Cũng theo nhà nghiên cứu này, Donald Trump là một người ủng hộ tư tưởng tân chủ nghĩa hiện thực mang tính công kích. Mọi thứ có thể chiếm đoạt đều phải chiếm đoạt, để có thể thoát khỏi điều được gọi là « tình thế tiến thoái lưỡng nan của sự bất định ». Đối với Donald Trump, hồ sơ Ukraina còn là vấn đề « cân bằng quyền lực ». Kiev không thể thất thủ và cán cân quyền lực trên lục địa già không được phép bị phá vỡ, bởi vì Mỹ cũng không được lợi gì nếu những điều này diễn ra. Đối với Olivier Zajec, « việc để Ukraina bị thôn tính hoàn toàn sẽ làm tổn hại đến uy tín của Hoa Kỳ, bất kể một số người trong vòng thân cận của Trump nghĩ gì - những người sẵn sàng hy sinh Ukraina. Tôi tin rằng ông ấy không cùng quan điểm đó. Ông ta nhận thức được mối quan hệ giữa cán cân quyền lực và cán cân danh tiếng, một mối quan hệ thường bị bỏ qua, và đó là lý do tại sao Kiev không được phép sụp đổ. Vì vậy, mục tiêu là tạo ra thế bế tắc và tê liệt, theo kiểu Triều Tiên. Sẽ không có thỏa thuận hòa bình mà chỉ là một kiểu đình chiến và một khu vực quân sự hóa khác, lần này với chiến tuyến ngay giữa lòng châu Âu, mặc dù chúng ta tưởng rằng tất cả những điều này thực sự đã qua rồi ». Xung đột Thái Lan – Cam Bốt : Khả năng Trung Quốc can thiệp hạn chế Châu Á năm 2025 phủ một mầu sắc ảm đạm. Biển Đông tiếp tục dậy sóng vào lúc Philippines và Trung Quốc liên tiếp có những sự cố va chạm tại quần đảo Trường Sa, khu vực đang trở thành chiến trường của cuộc đọ sức chiến lược, kinh tế và chính trị, ở đó ngư dân, quân đội và thường dân sống dưới áp lực thường trực của Bắc Kinh. Nhưng « cuộc xung đột ngầm giữa Trung Quốc và Philippines » tại Trường Sa, như tựa đề bài phóng sự của Franceinfo, đã bị nhiều cuộc xung đột vũ trang khác trong vùng làm lu mờ. Ấn Độ và Pakistan, từ ngày 07-10/05/2025, có cuộc leo thang đối đầu quân sự nghiêm trọng nhất từ 20 năm qua, sau một vụ tấn công khủng bố ngày 22/04 tại vùng Kashmir Ấn Độ làm 22 người chết. Tại Đông Nam Á, nếu như nội chiến ở Miến Điện đang có những diễn tiến có lợi cho chính quyền quân sự, thì đối đầu vũ trang giữa Thái Lan và Cam Bốt, hai nước thành viên của khối ASEAN, bất ngờ bùng phát vào tháng 7/2025. Tháng 10 cùng năm, hai bên ký kết một thỏa thuận hưu chiến qua trung gian hòa giải của Malaysia, nước giữ chức chủ tịch luân phiên của khối ASEAN và tổng thống Mỹ Donald Trump. Tuy nhiên, đến tháng 11/2025 chiến sự bất ngờ bùng phát dữ dội : Thái Lan điều F-16 oanh kích nhiều khu vực bên kia biên giới Cam Bốt ! Là đồng minh thân thiết và có cả căn cứ hải quân ở Cam Bốt, liệu Bắc Kinh có sẽ đến hỗ trợ quân sự cho chính quyền Phnom Pênh hay không ? Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà nghiên cứu David Camroux, chuyên gia về Đông Nam Á, điều phối viên Đài Quan sát Ấn Độ - Thái Bình Dương nhận định : « Trung Quốc đang ở thế khó xử vì nước này cũng có những lợi ích kinh tế quan trọng hơn ở Thái Lan. Ví dụ, nhà sản xuất ô tô BYD gần đây đã mở một nhà máy ở đó. Vì vậy, giống như tất cả các quốc gia Đông Nam Á khác, Trung Quốc cũng muốn có quan hệ tốt với Thái Lan. Trên thực tế, Trung Quốc nhận thấy mình bị hạn chế phần nào khả năng can thiệp ». Trung Quốc và chiến lược « con vịt quay » đối với Nhật Bản Khu vực Đông Bắc Á cũng dậy sóng do những căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung Quốc bỗng bùng phát trong những tháng cuối năm. Viện dẫn những phát biểu được cho là « không phù hợp » của thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi hồi tháng 5/2025 liên quan đến Đài Loan, Trung Quốc đã tiến hành một chiến dịch rộng lớn, từ tung tin giả có phối hợp, phô trương sức mạnh hải quân chưa từng có tại các vùng lãnh hải của Nhật Bản,
Các nước châu Âu đang đứng trước áp lực ngày càng mạnh từ phía chính quyền Mỹ đòi phải đầu tư mạnh cho quốc phòng. Tổng thống Donald Trump đe dọa Mỹ sẽ không thực thi cam kết hậu thuẫn các thành viên nào không đáp ứng các đòi hỏi của Washington. Nhiều nhà quan sát thậm chí nêu khả năng Washington rút khỏi NATO, liên minh quân sự lâu đời, thường được coi là một trụ cột không thể thiếu của sức mạnh phương Tây. Thực hư ra sao ? 2027: Áp lực đáng sợ Đầu tháng 12/2025, truyền thông phương Tây dẫn lại các nguồn tin nắm rõ các trao đổi đang diễn ra giữa bộ Quốc Phòng Mỹ và các nhà ngoại giao châu Âu, theo đó, Washington muốn châu Âu từ nay đến năm 2027, đảm nhiệm một phần lớn lực lượng vũ trang quy ước của NATO, từ tình báo đến hệ thống phòng thủ tên lửa. Lầu Năm Góc đã tỏ ra không hài lòng về tiến độ tăng cường năng lực phòng thủ của châu Âu kể từ khi Nga tiến hành cuộc xâm lược Ukraina trên quy mô lớn đầu năm 2022. Việc chính quyền Trump đòi hỏi các nước châu Âu đảm nhiệm một vai trò lớn hơn gấp bội trong NATO đặt châu Âu trước nhiều thách thức. Tướng François Chauvancy, chuyên gia địa chính trị, trong một cuộc tọa đàm trên đài Pháp LCI đầu tháng 12/2025, giải thích về vai trò chủ đạo của Mỹ với NATO : « Khi chúng ta nói về 60.000 người Mỹ, tôi xin nhắc lại, chỉ có 60.000 người trên tổng số 1,4 triệu quân nhân ở châu Âu, thì con số quân nhân Mỹ rõ ràng là không đáng kể. Tuy nhiên, số lượng máy bay lại rất đáng kể, rồi còn có các căn cứ không quân, trong đó có căn cứ không quân lớn Rammstein. Và không thể phủ nhận là tình báo Mỹ đã mang lại cho NATO sức mạnh to lớn. Tôi nghĩ rằng nếu không có tình báo Mỹ, và đây là điểm yếu của chúng ta, chúng ta sẽ rơi vào tình thế khó khăn, nếu không cẩn thận, giống như trường hợp với Ukraina. Nếu như các vị không ngoan ngoãn, chúng tôi sẽ cắt ! Trong hai năm nữa, chúng ta sẽ không có được thông tin tình báo như với người Mỹ hiện nay. » Ngoài lực lượng vũ trang quy ước, nước Mỹ với hơn 5.000 đầu đạn hạt nhân là một sức mạnh răn đe chủ chốt của NATO, bảo vệ châu Âu trước các đe dọa của Nga. Hoa Kỳ, trụ cột khó thay thế Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (tức khối NATO) là một « liên minh chính trị và quân sự » được thành lập năm 1949, với thành viên sáng lập là 12 quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ, trong thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh, với mục tiêu ban đầu là đảm bảo an ninh tập thể chống lại đe dọa từ Liên Xô. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, NATO kết nạp thêm nhiều thành viên mới, bao gồm các quốc gia thuộc khối Đông Âu cũ. Hiện tại NATO có 32 thành viên. Nguyên tắc được coi là trung tâm của NATO đó là điều 5 của hiệp ước, quy định một cuộc tấn công chống lại một thành viên được coi là một cuộc tấn công chống lại tất cả các thành viên. NATO, với vai trò chủ đạo của Hoa Kỳ, được coi là hậu thuẫn vững chắc đối với an ninh của châu Âu. Mỹ muốn rút khỏi vị trí Tổng tư lệnh NATO: Một tín hiệu mạnh Chính quyền Trump không chỉ yêu cầu các nước châu Âu gia tăng đầu tư gấp bội cho quốc phòng NATO. Ngay từ đầu năm nay, Washingtin đã phát tín hiệu sẵn sàng chuyển giao vị trí tổng tư lệnh các lực lượng NATO tại châu Âu (SACEUR), chức vụ quân sự cao cấp nhất của liên minh, cho người châu Âu. Chức vụ lãnh đạo quân sự của NATO, theo thông lệ, luôn do một tướng Mỹ nắm giữ suốt 75 năm qua, trong lúc người châu Âu đảm nhiệm chức vụ tổng thư ký. Người đầu tiên nắm giữ chức tư lệnh NATO là tướng Mỹ Eisenhower của Hoa Kỳ, tư lệnh tối cao quân đội châu Âu trong Thế chiến II và tổng thống thứ 34 của nước Mỹ. Hơn nửa năm sau, hồi tháng 11 vừa qua, đại sứ Mỹ tại NATO, Matthew Whitaker, trong một hội nghị về an ninh tại Berlin đã bắn tiếng là Hoa Kỳ muốn Đức đảm nhiệm vai trò lãnh đạo quân sự của NATO trong tương lai (Euronews). Sau khi thông tin này được tung ra hồi tháng 3/2025, đô đốc Mỹ James Stavridis, cựu tổng tư lệnh quân đội NATO tại châu Âu (từ năm 2009 đến 2013), nhận định: quyết định này, nếu được thực thi, sẽ « là một sai lầm chính trị to lớn », « Hoa Kỳ sẽ mất đi ảnh hưởng lớn trong khối NATO, và điều này sẽ được xem là bước đầu tiên hướng tới việc Mỹ rút lui hoàn toàn khỏi Liên minh Đại Tây Dương » (thư trả lời đài Mỹ NBC News). Kịch bản Mỹ « chính thức » rút hẳn khỏi NATO rất khó xảy ra Khả năng Mỹ rút khỏi NATO ra sao ? Ông Camille Grand, cựu trợ lý tổng thư ký NATO (2016-2022), chuyên gia viện tư vấn chính trị Hội đồng Quan hệ Quốc tế châu Âu, hồi tháng 8/2025, trong bài phân tích về chủ đề « NATO có thể tồn tại mà không có Hoa Kỳ hay không », nhận định : « Tôi có thể sẽ ngay lập tức bác bỏ ý tưởng về việc Mỹ rút khỏi NATO một cách chính thức với một tuyên bố, ví dụ như 6 tháng trước khi rút. Đây sẽ là điều gần như bất khả thi. Có nhiều lý do. Trước hết, vì mọi thứ phức tạp hơn thế. Cách làm việc của Donald Trump không phải như vậy. Thứ hai là Quốc hội Mỹ đã thông qua một quy định phức tạp để giải thích khi nào Quốc Hội cần được tham vấn. Dù sao, cũng khó mà tưởng tượng Quốc hội sẽ hoàn toàn tuân theo lệnh của Trump. Quốc hội Mỹ đã yêu cầu là để rút khỏi NATO cần phải có một cuộc bỏ phiếu với điều kiện tương tự như khi phê chuẩn. Quyết định này đã được thông qua với 98 phiếu tại Thượng viện Mỹ. Vì vậy, đi ngược lại quyết định đó, ngay cả với Trump, cũng là một thách thức chính trị lớn. » Đọc thêm : Hạ Viện Mỹ thông qua ngân sách quốc phòng kỷ lục và tiếp tục duy trì quân đội ở châu Âu Quốc Hội Mỹ có vai trò đối trọng đáng kể với hành pháp về chủ đề này. Ngày 10/12, Hạ Viện Mỹ, với sự ủng hộ của lưỡng đảng, đã thông qua dự luật về chiến lược quốc phòng 2026, với nhiều điều khoản duy trì sự hiện diện của quân đội Mỹ ở châu Âu, trái ngược với những tín hiệu gần đây từ Nhà Trắng, muốn cắt giảm. Các nhà lập pháp đã bỏ phiếu với tỷ lệ 312-112 ủng hộ dự luật, hạn chế khả năng của chính quyền Trump trong việc giảm số lượng binh sĩ Mỹ tại châu Âu và Hàn Quốc, cung cấp viện trợ cho Ukraina. Cho đến nay, với lưỡng đảng Mỹ, NATO vẫn là trụ cột của sức mạnh toàn cầu của nước Mỹ. Kịch bản nhiều khả năng: Chính quyền Trump không thực thi cam kết bảo vệ đồng minh Cựu trợ lý tổng thư ký NATO Camille Grand nhấn mạnh kịch bản nhiều khả năng hơn là chính quyền Trump có thể sẽ chọn cách không thực thi các cam kết với NATO, với thẩm quyền của hành pháp: « Trên thực tế, giả thuyết mà tôi muốn phát triển là ý tưởng về một sự rút lui trên thực tế hơn là một sự rút lui chính thức. Trump đã muốn làm điều này trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông, nhưng chưa thực hiện được, cụ thể là giảm bớt lực lượng Mỹ ở châu Âu. Ta nhớ rằng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, có khoảng 280.000 lính Mỹ ở châu Âu trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Ukraina. Con số này giảm xuống còn khoảng 65.000 đến 75.000. Mỹ có thể rút các sĩ quan khỏi các vị trí quan trọng trong khối NATO. Nhưng đối với tôi, giả thuyết khả thi và đáng lo ngại nhất là một thông điệp liên quan đến Điều 5 của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Cụ thể là Mỹ không còn đứng về phía các đồng minh, vì tổng thống Mỹ đã tuyên bố như vậy. Trump đã nói trong chiến dịch tranh cử rằng sẽ không bảo vệ một quốc gia nào không chi ít nhất 2% GDP cho quốc phòng. Điều 5 của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, được xác lập năm 1949, để lại nhiều khoảng trống trong khâu triển khai thực thi nghĩa vụ đoàn kết bảo vệ đồng minh. Nước Mỹ có thể rút lui một cách lặng lẽ hoặc ồn ào thông qua các tuyên bố, nhưng không theo một cách thức có trật tự và chính thức. Mỹ sẽ làm xói mòn cam kết với liên minh NATO, mà không hoàn toàn rời bỏ một cách chính thức. » Cơ hội « hiếm có » với châu Âu Việc Mỹ thoái lui khỏi NATO có phải là điều tồi tệ với châu Âu hay không ? Trong lúc nhiều người lên tiếng chỉ trích thái độ của Mỹ, đối với tướng François Chauvancy, việc Mỹ gia tăng áp lực trong lĩnh vực này ngược lại có thể là một cơ hội tốt để châu Âu hướng đến khẳng định sự tự chủ về an ninh : « Chúng ta cần biết mình muốn gì khi mà chúng ta đã bàn về chuyện Quốc phòng châu Âu hàng tháng, thậm chí hàng năm trời. Vậy mà chúng ta lại nói rằng : Ồ, không, người Mỹ phải ở lại ! Không nên, chúng ta cần nhất quán. Chúng ta đang có một cơ hội duy nhất : Donald Trump đang bảo chúng ta hãy tự lo liệu đi ! Chúng ta có làm được không lại là chuyện khác. » Cựu trợ lý tổng thư ký NATO Camille Grand cho biết, kể từ khi Nga xâm lược Ukraina, Liên Âu đã có những nỗ lực gấp bội cho thấy Liên minh phòng thủ NATO có thể được duy trì, ngay cả khi Mỹ thoái lui: « Làm thế nào để bảo vệ châu Âu với ít sự hiện diện của Mỹ hơn, và điều gì có thể thực sự là trở ngại? Tôi đã viết một bài về chủ đề này với một số kết luận như sau. Trước hết, bảo vệ châu Âu với ít sự hiện diện của Mỹ hơn đòi hỏi phải có một Liên Hiệp Châu Âu mạnh mẽ hơn. Những gì đang xảy ra với Liên Hiệp Câu Âu rất đáng quan tâm. Cuộc khủng hoảng Ukraina đã đánh thức Liên Hiệp Châu Âu, và nhiều điều đã xảy ra, không thể tưởng tượng được, nếu không có một cuộc khủng hoảng lớn. Ví dụ, ý tưởng Liên Hiệp Châu Âu huấn luyện lính Ukraina để chiến đấu chống Nga, hoặc huy động nguồn lực riêng để mua vũ khí và trang thiết bị cho người Ukraina không hề là những chi tiết nhỏ trong quá trình chuyển đổi của Liên Hiệp Châu Âu. Nếu sự việc diễn ra theo hướng này, vai trò của Liên Hiệp Châu Âu trong các cuộc thảo luận chiến lược sẽ tự động tăng lên. Tôi nghĩ điều này sẽ xảy ra, vì dù sao đi nữa sẽ có một cuộc thảo luận sâu sắc hơn giữa Liên Hiệp Châu Âu và NATO trong những tháng tới. Nhưng ở đây, Liên Hiệp Châu Âu đã có vai trò không thể thiếu trong việc huy động các nguồn lực và phương tiện cần thiết để thực thi một số vấn đề ». Châu Âu tự chủ an ninh có lợi cho liên minh Âu – Mỹ: Khuyến cáo gần nửa thế kỷ trước Chính sách giảm bớt đầu tư để bảo đảm an ninh cho châu Âu của chính quyền Mỹ để dồn lực lượng để sang « các mặt trận » khác, đặc biệt là tại khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương để đối phó với Trung Quốc, đối thủ số một của Mỹ, là chính sách từ nhiều đời tổng thống Mỹ, đặc biệt là với Brack Obama, chứ không phải chỉ từ Donald Trump. Khuyến cáo châu Âu cần đứng ra đảm nhiệm một phần lớn lực lượng quốc phòng trong NATO là điều từng được nêu cách đây gần nửa thế kỷ. Báo chí Pháp mới đây dẫn lại m
Ngày 02/12/2025, tổng thống Nga Vladimir Putin đã tiếp đặc sứ Mỹ Steve Witkoff để thảo luận về bản kế hoạch hòa bình do tổng thống Donald Trump đề xuất, bao gồm 28 điểm được rút xuống còn 19 điểm. Sau năm giờ trao đổi, điện Kremlin cho biết chưa đạt được đồng thuận về những vùng lãnh thổ bị Nga chiếm đóng và sáp nhập. Tuy nhiên, theo đánh giá từ nhiều quan sát, bất chấp các nỗ lực ngoại giao từ nhiều phía, Nga sẽ không vội vã đúc kết thỏa thuận hòa bình vì nhiều lý do. Áp lực ngoại giao, chính trị và quân sự Trong vòng tám ngày, tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky đã hai lần đến Paris gặp gỡ đồng cấp Pháp Emmanuel Macron kể từ khi bản kế hoạch hòa bình 28 điểm do tổng thống Mỹ Donald Trump đề xuất được tiết lộ. Tổng thống Zelensky có thể kỳ vọng điều gì từ phía Pháp ? Sử gia quân sự Benoist Bihan, trong một chương trình truyền hình của báo Pháp Le Figaro, nhận định nguyên thủ Ukraina đến Pháp trước hết là để tìm kiếm một điểm tựa về ngoại giao vào lúc ông đang gặp khó khăn ít nhất trên ba phương diện : « Một mặt, ông ấy chịu áp lực quân sự từ Nga ngày càng mạnh trên chiến tuyến. Mặt khác, còn có sức ép chính trị và ngoại giao từ phía Mỹ buộc ông phải nhanh chóng ký kết một hiệp định hòa bình với những điều khoản mà vì những lý do chính trị nội bộ có lẽ khó thể chấp nhận được đối với người dân Ukraina. Hơn nữa, ông Zelensky, hiện đang bị suy yếu bởi vụ bê bối tham nhũng, dường như đang rơi vào tình huống mà những người theo đường lối cứng rắn, những người mang tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan chắc chắn sẽ từ chối một nền hòa bình được coi theo các điều kiện của Matxcơva ». Người ta « thật khó mà không thấy chút lo lắng, thậm chí hoảng loạn từ phía tổng thống Zelensky », theo quan sát của cựu đại sứ Pháp tại Washington, Gérard Araud, trên kênh truyền hình tư nhân Pháp LCI. Vào thời điểm nhiều « pháo đài » của Ukraina như Povrovsk hay Vovchansk, những thành phố chiến lược, được cho là đã thất thủ, những cam kết viện trợ quân sự cho Ukraina từ châu Âu đang bị suy yếu dần. Châu Âu : Nguồn hỗ trợ tài chính, quân sự hạn hẹp Kho vũ khí đã qua sử dụng được dùng để trang bị cho Ukraina nay đã cạn kiệt, và một phần lớn số thiết bị này đã bị phá hủy trên chiến trường. Giờ đây, điều châu Âu có thể làm cho Ukraina là viện trợ tài chính, mà việc sử dụng khối tài sản Nga bị phong tỏa tại châu Âu, hiện do cơ quan tài chính Euroclear trụ sở tại Bỉ quản lý, đang là vấn đề gây tranh cãi. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhà sử học quân sự Benoist Bihan, đây còn là điều « vạn bất đắc dĩ », vì việc sử dụng nguồn tài chính này cũng chẳng thể cải thiện được tình hình quân sự của Ukraina: « Đối với quân đội Ukraina, hàng tỷ đô la này sẽ đòi hỏi mất rất nhiều thời gian trước khi có thể được chuyển đổi thành những gì họ còn thiếu, cụ thể là vũ khí và nhất là thành những gì châu Âu không thể giúp đỡ họ, đó là cuộc khủng hoảng nhân sự. Quân đội Ukraina là một đội quân thiếu hụt cơ cấu nhân lực ». Những ngày cuối tháng 11 đầu tháng 12/2025, những nỗ lực ngoại giao từ Mỹ, Ukraina và châu Âu chưa cho thấy một tia hy vọng nào về hòa bình cho Ukraina. Sau năm giờ hội đàm giữa tổng thống Nga Vladimir Putin và đặc sứ Mỹ Steve Witkoff, điện Kremlin thông báo đôi bên chưa đạt được một thỏa hiệp nào về các vùng lãnh thổ mà Nga chiếm đóng và đòi sáp nhập. Nguy cơ chiến tranh kéo dài có thể là điều khó tránh. Và trong trường hợp này, nhà nghiên cứu về chiến lược quân sự Pháp, Benoist Bihan, trả lời Le Figaro, khẳng định Nga giờ có đủ tiềm lực để tiếp tục thực hiện chiến tranh như năm 2022. Điều này được thể hiện rõ qua khả năng của Nga duy trì liên tục các cuộc tấn công kể từ năm 2023. Kiev : Hạn chế về hỏa lực và sai lầm chiến lược Theo giải thích của Benoist Bihan, thiệt hại về nhân mạng của Nga trong năm 2025 đã giảm một nửa so với 2024, năm được cho là ác liệt nhất, và nhịp độ thiệt quân của Nga nằm trong khoảng từ 800 – 1200 quân mỗi tuần, mà đỉnh điểm có khi lên đến 1.400 quân. Cùng giai đoạn này, phía Ukraina cũng hứng chịu thiệt hại nhân mạng nặng nề. Benoist Bihan thừa nhận không thể biết được con số chính xác, nhưng đó sẽ là con số thống kê « khiếp hãi », có thể cao hơn rất nhiều so với Nga. Một mặt là do Nga đã tăng cường mạnh hỏa lực so với Ukraina khi điều động thêm không quân, các loại đạn pháo, đặc biệt là drone. Bên cạnh đó, với khoảng 140 triệu dân, Nga vẫn dễ dàng huy động thêm quân so với Ukraina chỉ có 28 triệu dân. Nước Nga của ông Putin còn có được một sự hậu thuẫn quân sự hiếm có từ Bắc Triều Tiên về đạn pháo và nhất là nhân lực, điều mà châu Âu đã không thể cung cấp. Mặt khác, đó còn là do sai lầm chiến lược của Ukraina. Khi tiến hành cuộc xâm nhập vào Kursk, vùng lãnh thổ của Nga, quân đội Ukraina hy vọng có thể chuyển hướng quân Nga trên mặt trận Donbass và mở ra một mặt trận thứ cấp, một điểm « cầm chân » quân Nga, để rồi có thể ghi điểm chính trị, nhất là đối với phương Tây, nhằm chứng tỏ rằng Kiev vẫn có khả năng tiến hành các chiến dịch tấn công và gây bất ngờ cho đối thủ. Chỉ có điều chiến dịch này đã để lại một khoảng trống chiến lược mà Nga đã tận dụng thành lợi thế chiến trường. Chuyên gia Benoist Bihan giải thích tiếp : « Nga đã nhanh chóng điều chỉnh, tái triển khai quân dự bị vì họ có sẵn, và điều đó đã trở thành một vấn đề thực sự lần này là cho phía Ukraina. Nói một cách khác, một khi họ đã xâm nhập vào lãnh thổ Nga, về mặt chính trị, việc từ bỏ những gì họ đã đạt được là rất phức tạp, và Nga đã lợi dụng điều này để sử dụng, trong vài tuần, thậm chí vài tháng, lực lượng dự bị chiến lược của quân đội Ukraina, mà họ đang thiếu để đối phó với các cuộc tấn công của Nga ». Chiến lược trì hoãn của tổng thống Nga Nhìn từ tổng quan này, nhà sử học về quân sự ghi nhận Ukraina khó thể tìm lại được thế chủ động, sự năng động như năm 2022, vào đầu cuộc chiến. Nhìn vào các chỉ số, tất cả các xu hướng đều trong « báo động đỏ ». Ukraina thiếu nghiêm trọng những người lính có kinh nghiệm để thực hiện các mục tiêu chiến lược, làm tiêu hao nguồn lực Nga, hoặc có thể ngăn chặn quân Nga, để rồi có thể dựa trên cơ sở này tiến hành các cuộc đàm phán. Đây cũng có lẽ là lý do vì sao Hoa Kỳ của Donald Trump hối thúc Ukraina ký kết hiệp định hòa bình. Khi nguyên thủ Mỹ nói rằng, « mọi thứ đang diễn ra không tốt đẹp ở Ukraina », đơn giản chỉ vì, « về mặt quân sự, thời gian càng trôi qua, vị thế đàm phán của Ukraina và các đồng minh càng yếu đi ». Chuyên gia Benoist Bihan nhận xét « Nga hiểu rất rõ điều đó và đây là lý do vì sao họ cố tình trì hoãn các cuộc đàm phán. Tôi có cảm giác ông Putin không mấy vội vã ký kết thỏa thuận hòa bình bởi vì ông ấy biết hoặc nghĩ rằng càng kéo dài, thì các điều kiện mà ông ấy có thể áp đặt sẽ càng khắt khe hơn ». Chiến tranh Ukraina, hay « chiến dịch quân sự đặc biệt » mà Nga khởi xướng, lúc ban đầu được xem là một thất bại quân sự của Nga do việc đánh giá thấp nghiêm trọng tình trạng chuẩn bị và ý chí chiến đấu của quân đội Nga, cũng như là do thái độ tự mãn về năng lực của một đội quân chưa bao giờ tiến hành một cuộc chiến quy mô lớn như thế kể từ khi Liên Xô sụp đổ, thì nay Nga cũng đã cho thấy khả năng thích ứng với thực tế chiến trường. Giao chiến với Nga, liệu Châu Âu có đủ sức ? Về phía Ukraina, nhà sử học Benoist Bihan cho rằng Kiev cũng đã phạm sai lầm xem thường khả năng hồi phục tiềm lực của Nga sau thành công bất ngờ của cuộc kháng chiến chống Nga năm 2022. Bất chấp nguồn viện trợ quân sự phương Tây, quân đội Ukraina đã phải đối đầu với quân đội Nga, vốn đã có thời gian để phục hồi và lấy lại phần nào sự tự tin. Kể từ năm 2023, Ukraina rơi vào bế tắc chiến lược. Hôm 01/12, vài giờ trước khi diễn ra cuộc gặp với phái đoàn Mỹ tại điện Kremlin, tổng thống Putin không ngần ngại dọa rằng « Nga đã sẵn sàng nếu châu Âu muốn chiến tranh và bắt đầu cuộc xung đột trước ». Nếu ngày mai sẽ xảy ra chiến tranh với Nga, liệu châu Âu có đủ lực để đối phó ? Về điểm này, chuyên gia quân sự khẳng định là « Không ». Ông giải thích : « Quân đội châu Âu không tồn tại; đó là quân đội của từng quốc gia riêng lẻ, của từng quốc gia châu Âu khác nhau. Và đó là nơi bắt đầu của sự bất định, bởi vì chúng ta có những đội quân như quân đội Pháp, tương đối dày dạn kinh nghiệm và được chuẩn bị tốt. Chúng ta có những đội quân như quân đội Đức, vẫn đang trong quá trình tái thiết và do đó sẽ mất vài năm để đạt được hiệu quả chiến đấu. Và rồi chúng ta có quân đội của các quốc gia nhỏ hơn, có ít nguồn lực hơn và ít kinh nghiệm chiến đấu hơn. Vì vậy, sẽ có sự chênh lệch về trình độ chuyên môn giữa các đội quân trong liên minh NATO. Họ có các quy trình chung, nhưng hiện nay rõ ràng họ chưa sẵn sàng để tiến hành chiến tranh, và đặc biệt là không sẵn sàng tiến hành chiến tranh trong điều kiện như ở Ukraina ! »
Trong số các thỏa thuận về thương mại và an ninh – quốc phòng mà Washington và Seoul cùng thông báo hôm 14/11/2025, hồ sơ đáng quan tâm nhất là việc Hoa Kỳ chấp nhận để Hàn Quốc đóng tầu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân cho hải quân cả hai nước. Dự án này, nếu được thực hiện, đánh dấu một bước ngoặt lớn, khẳng định hơn nữa thế thống trị của Hàn Quốc trong lĩnh vực công nghiệp hàng hải cũng như là sức mạnh hải quân nước này. « Ngành đóng tàu, lá chủ bài để Hàn Quốc đàm phán thuế quan với Mỹ », ngày 23/06/2025, trang Le Marin chuyên về kinh tế hàng hải đã đưa ra nhận định này. Seoul sở hữu một công nghiệp đóng tàu bậc nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Thậm chí nước Mỹ của Donald Trump, ngày càng bị Trung Quốc bỏ xa trong lĩnh vực hàng hải, gần đây phải đưa tàu chiến của mình đến bảo trì tại các xưởng của Hàn Quốc, một quyết định mang tính chiến lược. Truyền thống hàng hải lâu đời Thế mạnh ngành công nghiệp này đã có từ xa xưa, nhưng chúng thực sự trở thành một trong những chiến lược quan trọng của đất nước khi tổng thống Park Chung Hee (1962 – 1979) lên nắm quyền. Trong thập niên 1960, ông đã quyết định thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp nặng, bao gồm cả sản xuất thép (Hàn Quốc là nhà sản xuất thép hàng thứ tư trên thế giới), vượt qua Nhật Bản vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, vốn thống lĩnh thị trường đóng tàu trong một thời gian dài sau Đệ Nhị Thế Chiến cho đến khi bị ngành đóng tàu giá rẻ Trung Quốc cạnh tranh gay gắt. Từ Seoul, thông tín viên Trần Công nhắc lại đôi nét lịch sử phát triển ngành đóng tàu Hàn Quốc : « Từ thời Đô đốc Yi Sun Sin (1545 – 1598), kỹ nghệ đóng tàu của Triều Tiên đã góp phần quyết định giúp quân dân Hàn Quốc đánh bại hải quân Nhật Bản trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước. Chiến thuyền “Tàu Rùa” với cấu trúc bọc sắt độc đáo đã trở thành nền tảng lịch sử cho truyền thống hàng hải của quốc gia này. Bước sang thời cận đại, ngành đóng tàu Hàn Quốc chính thức hình thành từ năm 1929 với sự ra đời của các xưởng cơ khí và cơ sở đóng tàu đầu tiên. Giai đoạn Thế chiến II và thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng khiến đất nước chìm trong xung đột, nhưng nhu cầu tàu vận tải và quân sự đã tạo nền móng ban đầu cho kỹ thuật đóng tàu hiện đại. Đến cuối thập niên 1960, sau khi Hyundai bước vào lĩnh vực đóng tàu, mở ra bước ngoặt lịch sử và đặt nền móng cho sự trỗi dậy của ngành. Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và áp lực cạnh tranh giá rẻ từ Trung Quốc, ngành đóng tàu Hàn Quốc từng có giai đoạn chững lại nghiêm trọng vào những năm 2012–2016. » Tại Ulsan (đông nam Hàn Quốc), xưởng đóng tàu lớn nhất thế giới của tập đoàn Hyundai Heavy Industries (HHI), cung cấp việc làm cho khoảng 21 ngàn người lao động, mỗi năm cho xuất xưởng đến 50 loại tầu cỡ lớn bao gồm thương mại và quân sự. Năm 2024, hãng HHI ký kết đến 9 tỷ đô la hợp đồng, theo như phóng sự của kênh truyền hình Pháp France 24 ngày 29/10/2025. Một trong những mặt hàng chủ lực của Ulsan là tàu chở khí hóa lỏng, xưởng này có thể cung cấp mỗi năm từ 13-14 chiếc với ba loại tải trọng khác nhau 176, 180 và 216 ngàn tấn, theo như một phóng sự khác của Le Monde (ngày 16/09/2022). Cũng theo thông tín viên Trần Công, « ngày nay, Hàn Quốc đã vươn trở lại vị trí cường quốc số một thế giới về đóng tàu, đặc biệt ở các dòng tàu công nghệ cao như tàu chạy bằng khí hóa lỏng (LNG carrier), tàu chở dầu thô cực lớn (VLCC), tàu chạy methanol và các loại tàu thân thiện môi trường. Ba tập đoàn HD Hyundai, Hanwha Ocean và Samsung Heavy Industries dẫn đầu toàn cầu về công nghệ, tiêu chuẩn an toàn và khả năng chế tạo tàu cỡ lớn. Ngành đóng tàu hiện là trụ cột kinh tế, chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu (khoảng 7%-8%) và là biểu tượng cho năng lực kỹ thuật, công nghiệp và sáng tạo của Hàn Quốc trong kỷ nguyên mới. » Ngành đóng tầu : Một trong những trụ cột kinh tế Một nhịp độ sản xuất khiến các đối thủ châu Âu vất vả đuổi theo. Ngay vào năm 1987, xưởng đóng tàu của Thụy Điển là Kockums đã phải tuyên bố phá sản. Báo Pháp Le Marin cho biết, trước khi Donald Trump đe dọa áp thuế, xuất khẩu của Hàn Quốc đạt mức kỷ lục trong năm 2024. Các phân tích dữ liệu cho thấy, ngành đóng tàu là một trong những đầu tàu chính của kinh tế đất nước : lĩnh vực này chiếm gần 4% tổng kim ngạch xuất khẩu Hàn Quốc và trong năm 2024, đã tăng lên gần 20% so với năm 2023. Để có thể phát triển mạnh ngành công nghiệp này, Hàn Quốc đã có những chiến lược như thế nào ? Đâu là những thế mạnh của ngành công nghiệp đóng tầu Hàn Quốc ? Thông tín viên Trần Công giải thích tiếp : « Hàn Quốc sở hữu lợi thế địa lý hiếm có trong ngành đóng tàu khi gần như bốn bề giáp biển, chỉ phần phía bắc tiếp giáp Triều Tiên nên mọi hướng phát triển kinh tế đều tự nhiên hướng ra đại dương. Với bờ biển dài, nhiều vịnh sâu, khí hậu ổn định và hệ thống cảng tự nhiên thuận lợi, Hàn Quốc từ lâu đã hình thành truyền thống hàng hải và nền tảng phát triển công nghiệp biển mạnh mẽ. Vị trí nằm giữa Trung Quốc – Nhật Bản cũng tạo ra mạng lưới thương mại nhộn nhịp, thúc đẩy nhu cầu đóng tàu và dịch vụ kho bãi cảng biển (logistics). Song song với lợi thế địa lý, Hàn Quốc còn dẫn đầu thế giới về công nghệ đóng tàu, đặc biệt ở các lĩnh vực LNG carrier, VLCC, tàu chạy nhiên liệu xanh và hệ thống tự động hóa thông minh. Quan hệ chặt chẽ với Mỹ, châu Âu và các tập đoàn năng lượng toàn cầu giúp Hàn Quốc luôn tiếp cận sớm tiêu chuẩn mới, công nghệ mới và giữ vị thế đối tác chiến lược trong các dự án hải quân, hải dương. Ba tập đoàn HD Hyundai, Hanwha Ocean và Samsung Heavy Industries duy trì mạng lưới hợp tác mạnh mẽ, từ Nghiên cứu – Phát triển (R&D) đến sản xuất, tạo ra hệ thống công nghệ bậc nhất thế giới. Về chiến lược phát triển, Hàn Quốc đặt mục tiêu duy trì vị trí dẫn đầu bằng cách tập trung vào các loại tàu giá trị cao, đầu tư mạnh vào nhiên liệu sạch như LNG–amoniac–methanol, đẩy nhanh áp dụng công nghệ số trong ngành công nghiệp đóng tàu (digital shipyard), và mở rộng lĩnh vực hải dương như tàu Sản xuất, Lưu trữ và Hạ tải (FPSO), tàu khoan (drillship), tàu khai thác khí thiên nhiên hóa lỏng (FLNG). Nhà nước hỗ trợ qua chính sách tín dụng xuất khẩu, đào tạo nhân lực tay nghề cao và quy hoạch các cụm công nghiệp biển. Nhờ định hướng dài hạn này, ngành đóng tàu Hàn Quốc tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong kinh tế quốc gia và là tâm điểm của tương lai công nghiệp biển toàn cầu. » Đóng tàu nhanh, chi phí thấp và kỹ thuật tiên tiến là những lợi thế cạnh tranh mạnh của Hàn Quốc, hiện chiếm đến ¼ thị phần thế giới. Đây cũng chính là những thứ mà nước Mỹ đang thiếu. Trên bảng xếp hạng, Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm các vị trí đầu bảng, còn Hoa Kỳ hầu như vắng bóng. Báo cáo của Quốc Hội Mỹ đưa ra hồi tháng 11/2023, được tờ Wall Street Journal (23/09/2024) dẫn lại, cho thấy Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản sản xuất ra những con tàu chiếm hơn 90% trọng tải của thế giới, trong khi Mỹ chỉ đóng có 0,2%. Từ thương mại đến quân sự Việc tổng thống Mỹ Donald Trump bật đèn xanh cho phép Hàn Quốc đóng tầu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân đánh dấu một bước ngoặt lớn trong ngành công nghiệp hàng hải đất nước. Một mặt, « điều này cho thấy Washington hoàn toàn thừa nhận tầm quan trọng vị thế chiến lược của Hàn Quốc với tư cách là một cường quốc hàng hải và đồng minh đáng tin cậy ở Ấn Độ - Thái Bình Dương. Sự ủng hộ của Hoa Kỳ không chỉ mang tính chính trị, mà còn có thể mang lại sự hợp tác chặt chẽ về công nghệ, phát triển công nghiệp và lập kế hoạch tác chiến », theo như đánh giá của nhà nghiên cứu Yu Ji-hoon, cựu sĩ quan Hải quân Hàn Quốc, người đã tham gia sâu rộng vào các chương trình tàu sân bay và tàu ngầm của Hải quân, trong một chương trình của Arirang News (12/11/2025). Mặt khác, điều này cho phép Seoul thực hiện tham vọng tăng cường năng lực phòng thủ hải quân mà nhiều đời tổng thống đã theo đuổi nhưng bất thành do vấp phải sự phản đối từ Mỹ. Tuy nhiên, quyết định đóng tầu ngầm trong nước của tổng thống Lee Jae Myung cũng làm dấy lên nhiều tranh luận trong giới chuyên gia và truyền thông Hàn Quốc cũng như quốc tế, khi lo rằng tham vọng này của Seoul có nguy cơ mở ra một cuộc chạy đua vũ trang trong vùng Đông Bắc Á. Từ Seoul, thông tín viên Trần Công tường thuật : « Sau khi Tổng thống Lee Jae-myung công khai mong muốn đóng tàu ngầm hạt nhân (SSN) tại Hàn Quốc, việc tự đóng SSN trong nước đang tạo ra làn sóng ý kiến mạnh mẽ từ giới chuyên gia, khu vực và báo chí quốc tế. Giáo sư Mun Geun-sik (Hanyang University) khẳng định Hàn Quốc hoàn toàn có năng lực nội địa hóa SSN, từ thiết kế thân tàu, chế tạo lò phản ứng tới hệ thống điều khiển – điều mà Philadelphia không thể đáp ứng do thiếu toàn bộ hạ tầng tàu ngầm. Nghị sĩ Yoo Jung-ju cũng nhấn mạnh rằng Philadenphia chỉ là xưởng đóng tàu thương mại, và nếu xây dựng dây chuyền hạt nhân từ đầu sẽ mất 5 – 10 năm, nên “đóng trong nước là lựa chọn duy nhất hợp lý”. Giáo sư Peter Ward (Sejong Institute) đưa ra góc nhìn chiến lược hơn, cho rằng Hàn Quốc cần thành lập Ủy ban Mỹ – Hàn về đóng tàu ngầm để kết nối Nghiên cứu & Phát triển – sản xuất – chuỗi cung ứng nhằm rút ngắn thời gian triển khai và giải quyết các rào cản pháp lý. Trong khi đó, giáo sư Kim Yong-hun (Amherst College) nhấn mạnh trở ngại thực sự không phải công nghệ, mà là nhiên liệu hạt nhân, và dự báo Mỹ vẫn muốn giữ quyền kiểm soát phần lò phản ứng trong khuôn khổ hợp tác. Báo chí Nhật Bản đánh giá rằng Hàn Quốc đã âm thầm chuẩn bị năng lực đóng tàu ngầm hạt nhân trong nhiều thập kỷ, nhưng kế hoạch liên tục bị đình trệ vì phụ thuộc hoàn toàn vào sự chấp thuận của Mỹ trong vấn đề cung cấp uranium làm giàu. Các tờ như Sankei Shimbun và Mainichi nhận định việc Tổng thống Lee Jae-myung công khai theo đuổi SSN, cộng với sự đồng thuận mới từ Washington, đã tạo ra “cơ hội thực tế đầu tiên” để Seoul hiện thực hóa chương trình vốn bị bỏ lỡ từ những năm 1990. Tuy nhiên, truyền thông Nhật cũng cảnh báo rằng nếu Hàn Quốc sở hữu tàu ngầm hạt nhân, cục diện an ninh Đông Bắc Á sẽ biến động mạnh, đẩy Trung Quốc vào trạng thái cảnh giác cao độ và làm gia tăng cạnh tranh chiến lược trong khu vực. Bắc Triều Tiên thậm chí chỉ trích kế hoạch c
Tại Hội nghị Khí hậu lần thứ 30 của Liên Hiệp Quốc COP30 được tổ chức tại Belem Brazil giữa tháng 11/2025, vấn đề « chuyển đổi công bằng » sang nền kinh tế xanh trở thành một yêu sách phổ biến. Ngay từ những ngày đầu hội nghị COP30, khắp các hội trường, người ta có thể thấy các nhà hoạt động xã hội đeo huy hiệu mang dòng chữ « BAM ». Giai điệu BAM được các nhà hoạt động xướng lên để thu hút sự chú ý của công chúng. Dòng chữ BAM cũng có mặt khắp nơi trên đường phố, trong các cuộc tuần hành của xã hội dân sự, của các cộng đồng thổ dân, những người tranh đấu vì môi trường, khí hậu đến từ khắp nơi trên thế giới. BAM, chữ viết tắt của Cơ chế Hành động vì Chuyển đổi công bằng toàn cầu Belem (Belém Action Mechanism for a Global Just Transition), được coi là khẩu hiệu hành động của những người ủng hộ công lý khí hậu tại COP30. « Chuyển đổi công bằng » là gì ? Vậy chuyển đổi công bằng cụ thể có ý nghĩa gì ? Selma Huart, thuộc tổ chức quốc tế Oxfam chi nhánh tại Pháp, phụ trách cổ vũ chống các bất bình đẳng về khí hậu, giải thích : « Chuyển đổi công bằng nghĩa là thay đổi mô hình kinh tế hiện nay, để hướng tới rời bỏ các nhiên liệu hóa thạch, bảo vệ đa dạng sinh học, đồng thời phân bổ công bằng những nguồn lực và lợi ích có được từ quá trình chuyển đổi này. Ý tưởng chính ở đây là, nếu bạn càng có nhiều quyền lực để hành động, bạn càng nên đóng góp nhiều hơn, còn nếu bạn là người dễ bị tổn thương, bạn càng cần được bảo vệ nhiều hơn. Ví dụ như, nếu một công ty dầu mỏ lớn kiếm được hàng tỷ đô la lợi nhuận, đồng thời lại góp phần đáng kể vào việc làm Trái đất nóng lên, thì đúng là họ nên đóng góp nhiều hơn vào việc tài trợ cho quá trình chuyển đổi sinh thái. Ngược lại, nếu một người dễ bị tổn thương sống trong một tòa nhà kém hiệu quả về năng lượng và bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn bởi các hậu quả của biến đổi khí hậu, thì đúng là họ cần phải được bảo vệ. » Mở rộng ý nghĩa : Từ quyền lợi của người lao động đến công lý khí hậu… Khái niệm chuyển đổi công bằng liên quan đến sinh thái bắt nguồn từ phong trào bảo vệ người lao động Bắc Mỹ trong thập niên 1970. Giới nghiệp đoàn đòi hỏi là người lao động làm việc trong các ngành công nghiệp gây ô nhiễm phải đóng cửa, cần được đền bù, hỗ trợ. Đại diện tổ chức Oxfam France cho biết thêm về sự mở rộng ý nghĩa của « chuyển đổi công bằng » : Khái niệm chuyển đổi công bằng bắt nguồn từ phong trào nghiệp đoàn bảo vệ người lao động. Vào thời điểm đó, việc đóng cửa các mỏ, dẫn đến việc sa thải, đã khiến các nghiệp đoàn lo lắng. Giới nghiệp đoàn đã lên án quá trình chuyển đổi này là bất công và đề xuất các giải pháp để bảo đảm rằng quá trình chuyển đổi sinh thái sẽ không chống lại người lao động, mà sẽ có lợi cho họ. Giờ đây, ý tưởng này được mở rộng. Chuyển đổi công bằng không chỉ có nghĩa là bảo vệ người lao động mà còn bảo vệ người dân và vùng lãnh thổ dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Chuyển đổi công bằng trở thành một vấn đề quốc tế. » Đọc thêm - COP30 : Trung Quốc gia tăng áp lực với các nước giàu trong việc đóng góp tài chính khí hậu « Chuyển đổi công bằng » dần dần vượt xa ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của những người lao động bị sa thải. Năm 2009, tại Hội nghị Khí hậu của Liên Hiệp Quốc ở Copenhagen (COP15), Liên hiệp các nghiệp đoàn quốc tế ITUC (International Trade Union Confederation) đã đề xuất với Liên Hiệp Quốc gắn liền « chuyển đổi công bằng » với một hiệp ước có tầm vóc về khí hậu, hướng đến một nền kinh tế ít sử dụng năng lượng hóa thạch. 10 năm Hiệp định Paris: « Chuyển đổi công bằng » bị coi nhẹ trong Hành động Khí hậu Trong một thời gian dài, các hội nghị khí hậu của Liên Hiệp Quốc tập trung vào việc hướng đến giảm năng lượng hóa thạch, trung hòa về khí thải gây hiệu ứng nhà kính, mặt xã hội nói chung và các hậu quả nói riêng của chính sách khí hậu bị gạt ra bên lề. Đến năm 2015, tại hội nghị ở Paris, khi cộng đồng quốc tế đúc kết được Hiệp định về khí hậu (COP21), vấn đề « chuyển đổi công bằng » chỉ dừng ở chỗ : cộng đồng quốc tế đồng ý « xem xét các yêu cầu cấp thiết của việc chuyển đổi công bằng với người lao động và tạo ra việc làm tử tế và có chất lượng, phù hợp với các ưu tiên phát triển của đất nước » (Lời nói đầu của Hiệp định). Vấn đề « chuyển đổi công bằng » bước vào bàn đàm phán kể từ Hội nghị khí hậu tại Ba Lan năm 2018 (COP24). Tại COP27 ở Ai Cập và COP28 ở Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất, vấn đề tiếp tục được đưa ra đối thoại, nhưng không có thỏa thuận nào được đúc kết. Lời hứa suông, những chuyển đổi bất công, « chủ nghĩa thực dân khí hậu »... Theo giới bảo vệ môi trường, kể từ Hiệp định Paris 2015, mỗi lần hội nghị về khí hậu là một lần các nhà lãnh đạo lại nhắc lại điệp khúc về chuyển đổi sinh thái chỉ có thể thành công nếu đi liền với những chính sách công bằng với người lao động, với dân cư các khu vực bị ảnh hưởng do tác động môi trường, do chuyển đổi mô hình kinh tế. Nhưng tình hình đã không mấy thay đổi. Ngay trước thềm COP30, hiệp hội quốc tế ActionAid International công bố một báo cáo về chuyển đổi công bằng, cuộc chiến khí hậu và vấn đề tài chính (Climate Finance for Just Transition: How the Finance Flows / Tài chính cho chuyển đổi công bằng : Dòng tiền được đầu tư như thế nào), cho thấy chỉ có 3% viện trợ khí hậu quốc tế được dành cho các cộng đồng đang chuyển đổi. Báo cáo dựa trên các dự án giảm khí thải, do hai quỹ khí hậu đa phương lớn nhất thế giới đầu tư (với 178 dự án từ Quỹ Khí hậu Xanh do Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn và 466 dự án từ Quỹ Đầu tư Khí hậu, do Ngân hàng Thế giới và các ngân hàng phát triển khu vực thành lập). Ông Bert De Wel, điều phối viên chính sách khí hậu toàn cầu của Liên hiệp các nghiệp đoàn quốc tế ITUC, nhận định: dữ liệu cho thấy « tài chính khí hậu được quyết định bởi nhu cầu của các nhà đầu tư thay vì những người bị ảnh hưởng bởi tình trạng khẩn cấp ». Đọc thêm : Khai thác đất hiếm : Mặt trái của công nghệ chuyển đổi năng lượng Bên cạnh việc tài chính khí hậu cho « chuyển đổi công bằng » không đến với người lao động, một vấn đề nghiêm trọng khác là quá trình được quảng bá là chuyển sang nền kinh tế xanh, chuyển sang năng lượng tái tạo hướng đến giảm phát thải, trên thực tế đang gây ra những tổn thất trầm trọng về môi trường và con người, đặc biệt ở các nước phương Nam. Đơn cử một ví dụ về lithium, thường được gọi là « vàng trắng » rất cần để sản xuất bình điện cho ô tô, là nơi mà châu Mỹ Latinh chiếm gần một nửa trữ lượng thế giới, nhưng các công ty khai thác địa phương sẽ chỉ giữ lại 0,02 euro cho mỗi euro giá trị hàng hóa thành phẩm. Chưa kể đến việc môi trường bị tàn phá, sức khỏe người lao động và dân cư tại chỗ bị ảnh hưởng nặng nề. Đây là thực tại mà một số tổ chức như Oxfam lên án là quá trình « chuyển đổi bất công », chỉ phục vụ cho lợi ích của một thiểu số rất nhỏ, và gọi đó là « chủ nghĩa thực dân khí hậu (colonialisme climatique) ». Mạng lưới dân sự quốc tế thúc đẩy BAM, hơn 130 nước phương Nam hưởng ứng « Chuyển đổi công bằng » sang kinh tế xanh, điều cấp bách và là nhân tố căn bản quyết định cuộc chiến khí hậu có thành công hay không, đã rất bị coi nhẹ trong hành động khí hậu quốc tế. Trong bối cảnh giới bảo vệ môi trường, giới bảo vệ quyền lợi người lao động bị đẩy vào chân tường, dường như đã có một nỗ lực vượt bậc. Kể từ đầu năm nay, mạng lưới lớn nhất trong lĩnh vực khí hậu Climate Action Network International (CAN) đã quyết liệt vận động cho việc thông qua tại Hội nghị COP30 ở Belem, Brazil, « Cơ chế Hành động vì Chuyển đổi công bằng toàn cầu Belem » (BAM). Tại dịp hội nghị ngay trong đại ngàn Amazon, lá phổi của hành tinh, đã có không khí đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Ngày 10/11, hơn 1.000 tổ chức - nghiệp đoàn, nữ quyền, thanh niên, cộng đồng bản địa, nông dân nhỏ, luật sư môi trường, v.v. — từ 100 quốc gia, đã công bố một bức thư ngỏ « gửi tất cả các quốc gia thành viên » của Hội nghị Khí hậu Liên Hiệp Quốc, kêu gọi biến « lý tưởng chuyển đổi công bằng thành hiện thực ». Cơ chế Hành động BAM, do CAN đề xướng, là nội dung chính. Ngày 11/11, yêu sách BAM nói trên đã được nhóm G77+Trung Quốc, gồm 133 quốc gia phương Nam và Trung Quốc, ra tuyên bố ủng hộ. Thách thức số 1 : Trả lãi nợ, gọng kìm siết chặt các nước phương Nam Để biến « chuyển đổi công bằng » sang kinh tế xanh thành hiện thực, vấn đề tài chính là số một. Trả lời RFI, ông Mathieu Paris, phụ trách về vấn đề nợ của CCFD Terre solidaire, Hiệp hội hỗ trợ những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất chống lại các bất công, nêu bật vấn đề nhức nhối này : « Năm 2024, các quốc gia Nam Bán Cầu đã phải dùng hơn 900 tỷ đô la để trả lãi cho các khoản nợ. Giờ đây, chúng ta đang nói về 300 tỷ đô la tiền tài trợ cho khí hậu, nhưng một phần lớn số tiền này sẽ lại chỉ được sử dụng để trả nợ chứ không được đầu tư vào cuộc chiến khí hậu ». Chuyển đổi mô hình năng lượng là một trong ba lĩnh vực chính của cuộc chiến khí hậu. Hai lĩnh vực còn lại là đầu tư để thích nghi với biến đổi khí hậu và để đền bù các tổn thất, thiệt hại không thể vãn hồi cho các nạn nhân. Với cả hai lĩnh vực nói trên, bất công đang ngự trị. Để thích ứng với biến đối khí hậu, cần đến ít nhất 1.300 tỉ đô la/năm, tại COP29 năm ngoái, các nước phát triển mới chỉ chấp nhận chi ra 300 tỉ đô la, và đây mới chỉ là lời hứa. Quỹ đền bù tổn thất được chính thức thành lập là điều đáng hoan nghênh, nhưng cho đến nay mới chỉ có cam kết vài chục triệu đô la, trong lúc tổn thất được ghi nhận là nhiều trăm tỉ/năm, và con số sẽ còn tăng vọt do Trái đất nóng lên nhanh chóng. Không thể « chuyển đổi công bằng » nếu không từ bỏ than-dầu-khí Trong lúc tiền rất thiếu cho cuộc chiến khí hậu, tiền vẫn được tiếp tục rót ồ ạt vào các ngành năng lượng hóa thạch. Tổng thống Brazil, quốc gia chủ nhà COP30, nêu bật bất công ghê gớm này : khi dòng tiền hiện tại « không tôn trọng các nguyên tắc phát triển bền vững », « năm ngoái, 65 ngân hàng lớn nhất thế giới đã cam kết đầu tư 869 tỷ đô la cho ngành dầu khí », « việc chi cho vũ khí chống khí hậu gấp đôi số tiền chi cho cuộc chiến vì khí hậu, đang mở đường cho thảm họa khí hậu ». Chuyên gia về khí hậu người Brazil, ông Marcio Astrini, tổng giá
Quá trình chuyển đổi năng lượng đòi hỏi những công nghệ sử dụng nhiều loại đất hiếm. Tuy nhiên, ngoài những căng thẳng về địa chính trị, quy trình khai thác, chiết xuất và tinh chế đất hiếm đặt ra nhiều vấn đề cho xã hội và môi trường. Tình trạng nhiễm độc thạch tín (arsenic) tại nhiều đoạn lưu vực sông Mê Kông do khai thác đất hiếm ở Lào và Miến Điện là một ví dụ mới nhất. Theo ước tính, thị trường 17 loại nguyên tố đất hiếm chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn : Khoảng 9 tỷ đô la/năm với sản lượng hàng năm là 150 ngàn tấn. Nhưng đây lại là những thành phần quan trọng cho thị trường các ngành công nghiệp tiên tiến có giá trị lên đến bảy ngàn tỷ đô la mỗi năm. Tính đến những năm 1980, Hoa Kỳ là quốc gia thống lĩnh thị trường sản xuất đất hiếm. Nhưng từ năm 1995, Trung Quốc chiếm thế độc quyền. Một phần là do giá nhân công rẻ, trữ lượng khoáng sản cao và các quy định về môi trường mềm dẻo hơn cho phép Trung Quốc hạ giá thành sản phẩm. Ngay từ những năm 1950, người ta đã nhận thấy vai trò thiết yếu của đất hiếm cho phát triển các ngành công nghệ cao. Ngoài các lĩnh vực như điện thoại thông minh, trí tuệ nhân tạo, thậm chí cả vũ khí, chẳng hạn như tên lửa, các nguyên tố đất hiếm này được cho là đóng một vai trò then chốt cho quá trình phát triển điều được gọi là « năng lượng xanh » như tua-bin điện gió, xe điện, tấm pin năng lượng mặt trời ... nhờ vào các đặc tính của chúng như chất xúc tác, nam châm, luyện kim và đánh bóng. Và tùy theo mỗi loại đất hiếm, chúng có một ứng dụng khác nhau trong công nghiệp. Đất hiếm : Quy trình tinh chế gây ô nhiễm Khai thác khoáng sản vốn dĩ đã là một hoạt động gây ô nhiễm. Điều này cũng không là ngoại lệ đối với đất hiếm. Theo giải thích từ nhà nghiên cứu Emilie Janots, giảng viên đại học Grenoble Alpes trên trang CNRS Terre & Univers, việc lập các khu vực thăm dò và khai thác khoáng sản là gây ô nhiễm, do những hoạt động này tạo ra các vùng tích tụ chất thải, gây ra những hậu quả tai hại cho môi trường. Nguyên nhân chính là vì các đặc tính hóa học của đất hiếm, khiến hoạt động khai thác chúng gây ô nhiễm. Bởi vì, 17 loại nguyên tố đất hiếm này có đặc điểm độc đáo là chúng hiện diện trộn lẫn với nhau trong các mỏ. Và do vậy, việc khai thác, chế biến và phân tách đất hiếm là rất tốn kém về năng lượng, nước và hóa chất. Một mặt, những mỏ lớn nhất có khoảng 5% đất hiếm nhưng trong hầu hết các trường hợp, con số nay chỉ gần 1%. Điều này giải thích vì sao nhu cầu khai thác một lượng lớn đá chỉ để thu được một tỷ lệ đất hiếm ít ỏi vào cuối giai đoạn. Có thể nói phân tách đất hiếm là một quy trình đặc biệt khó, như thể « người ta muốn phân tách các sắc thái khác nhau của mầu xám. Họ dễ tách mầu trắng khỏi màu đen. Nhưng làm sao có thể tách 5% của mầu đen, 6% của mầu đen hay 7% của mầu đen ? », theo cách giải thích ẩn dụ của nhà nghiên cứu mỏ khoáng sản Rajive Ganguli, giáo sư đại học Utah, Hoa Kỳ với Le Monde. Mặt khác, 17 loại nguyên tố đất hiếm trộn lẫn vào nhau trong một mỏ khoáng sản, nhưng người ta thường chỉ cần chiết xuất từ 3-4 loại. Mỗi lần cô lập một loại đất hiếm duy nhất phải sử dụng một lượng lớn hóa chất. Một quy trình mà theo đánh giá của giáo sư đại học Utah, Rajive Ganguli là có thể gây ô nhiễm cao, do việc « người ta phải đào nhiều hố trên mặt đất và bơm vào đấy các loại hóa chất (…) Quy trình này gây ô nhiễm cho nước, các mạch nước ngầm… » Chưa kể tại một số mỏ, đất hiếm còn bị trộn lẫn với thorium, uranium, hai nguyên tố phóng xạ. Đây là nguyên nhân người ta thường tìm thấy hai nguyên tố này trong các khoáng chất chứa đất hiếm và do vậy tạo ra chất thải phóng xạ trong quá trình khai thác. Năng lượng xanh có « sạch » hay không ? Chỉ có điều, thế giới đang đặt ra mục tiêu kìm hãm mức tăng nhiệt độ hâm nóng khí hậu và do vậy, phải hạn chế việc sử dụng năng lượng hóa thạch như điện than, khí đốt, giảm phát thải khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Quá trình chuyển đổi năng lượng này đòi hỏi sử dụng nhiều công nghệ có chứa đất hiếm. Ví dụ như các thanh nam châm trong tua-bin điện gió chứa đến 70% chất neodymium. Do các đặc tính từ tính của loại kim loại này mạnh hơn nhiều so với các loại nam châm cũ nên kích thước và trọng lượng của chúng được giảm xuống, giúp tối ưu hóa hiệu suất của tua-bin gió. Tuy nhiên, việc khai thác các mỏ đất hiếm mới cũng đồng nghĩa với việc hủy hoại môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học. Điều này làm dấy lên nỗi ngờ vực : Liệu công nghệ năng lượng xanh có thực sự « sạch » ? Chẳng hạn, để đảm bảo mục tiêu chuyển đổi năng lượng của mình, Liên Hiệp Châu Âu có kế hoạch cấm bán xe mới chạy bằng động cơ xăng dầu vào năm 2035 để rồi đạt mục tiêu trung hòa khí CO2 vào năm 2050. Nhà báo Guillaume Pitron, chuyên gia về nguyên nhiên liệu, trên kênh truyền hình TV5 Monde (15/11/2023) cảnh báo để có thể hoàn thành những mục tiêu này, châu Âu cần rất nhiều thứ kim loại để sản xuất các loại phương tiện mới. Và để có thể tìm đủ các thứ kim loại đó, các nhà sản xuất và cung cấp sẽ phải đi tìm kiếm nguyên nhiên liệu tại những nước mà các quy định về môi trường lỏng lẻo hơn nhiều so với tại châu Âu. « Ví dụ, họ có thể tìm mua ở Trung Quốc, Congo, Kinshasa, tại Bolivia, những nước không có cùng quy định, tiêu chuẩn và do vậy, cái giá phải trả cho môi trường là nghiêm trọng do việc các nhà cung cấp không có cùng tiêu chuẩn, chuẩn mực về kỹ thuật chiết xuất. Vì vậy, ở đây còn có phí môi trường, phí xã hội, phí con người, những cái giá mà chính chúng ta đã không thật sự nhận thức ra, bởi vì tất cả những điều đó diễn ra ở xa chúng ta ». Khai thác đất hiếm ở Miến Điện : Ô nhiễm arsenic trên Mêkông Đây là những gì đang xảy ra cho nhiều đoạn trên lưu vực sông Mê Kông. Theo tiết lộ của trang Mongabay (27/10/2025), nhóm nghiên cứu thuộc trung tâm tư vấn Stimson Center qua phân tích các hình ảnh vệ tinh, đã xác định ít nhất có 27 mỏ đất hiếm đã được mở tại Lào từ năm 2022. Theo đó, « mười lăm trong số các mỏ này đang hoạt động trong lưu vực sông Mê Kông, nghĩa là có 12 mỏ trên sông Nam Khan và 3 mỏ trên sông Nam Ngiep, cả hai đều đổ vào sông Mê Kông, con sông dài khoảng 4.900 km, bắt nguồn từ Tây Tạng chảy qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam trước khi đổ ra Biển Đông. » Cũng theo Trung tâm Stimson, mười mỏ khai thác đất hiếm khác trên các con sông Nam hao và Nam Xan, trên lưu vực sông Ma, có nguy cơ gây ra mối đe dọa sinh thái xuyên biên giới, không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với Khu Bảo tồn Đa dạng Sinh thái Nam Xam, nằm ở biên giới Lào và Việt Nam, nơi sinh sống của loài vượn má trắng phương Bắc đang bị đe dọa nghiêm trọng và loài voi châu Á có nguy cơ bị tuyệt chủng. Trang Mongabay cho biết hàm lượng chất arsenic tại những con sông này cao bất thường so với trước đây. Các nhà nghiên cứu cảnh báo nguy cơ môi trường sinh thái đa dạng ở sông Mê Kông, nơi nuôi sống cho hơn 50 triệu người dân do sự phụ thuộc của họ vào nguồn thực phẩm, nguồn nước và sinh kế, bị tổn hại lâu dài và nghiêm trọng là có thực. Các hoạt động khai thác đất hiếm phi pháp tại Miến Điện, phần đông là chủ đầu tư Trung Quốc, đang làm nhiều nhánh sông đi từ Miến Điện đến các vùng phía bắc Thái Lan bị nhiễm độc thạch tín (arsenic) do tình trạng đổ bừa bãi nước thải xử lý đất hiếm ra sông mà không được kiểm soát. Chủ nghĩa thực dân môi trường Phóng sự dài do đài SBS News của Úc thực hiện cho thấy sông Kok nhuộm một màu cam kỳ lạ, cá chết nổi nhiều bất thường và bị biến dạng, cũng như là nhiều trường hợp mắc bệnh đã được ghi nhận ở nhiều ngư dân sống dọc theo con sông. Theo thổ lộ của anh Gob Kotekham, người Thái Lan, 42 tuổi với kênh SBS News, « có điều gì rất lạ đang xảy ra : những nốt phát ban xuất hiện trên người và chúng cứ lan rộng. Chúng làm tôi mẩn ngứa. Tình trạng này kéo dài hơn hai tháng, tôi chưa bao giờ cảm thấy như vậy trước đây ». Đối với nhà báo Guillaume Pitron, đây là những yếu tố các nhà hoạch định chính sách môi trường nên tính đến. « Tôi có cảm giác là mọi thứ nhà mình đều sạch sẽ nhưng trên thực tế là có một ai đó đang trả những cái giá, những khoản phí ở một đầu khác trên thế giới cách xa chúng ta hàng nghìn km mà không ai đặt chân đến cả. Một cái giá "vô hình" nhưng có thực và không thể bỏ qua. Chúng có nguy cơ làm cho quá trình chuyển đổi năng lượng còn khó chấp nhận hơn trên bình diện xã hội nếu chúng ta không làm điều gì đó để giảm nhẹ ». Nhìn chung, đất hiếm là cần thiết cho công nghệ xanh. Nhưng quá trình chế biến nó vốn quá ô nhiễm và nguy hiểm cho các nước Bắc Bán cầu, giờ đây chủ yếu được tiến hành ở các nước Nam bán cầu. Nhà nghiên cứu Simone Lobach, khi trả lời đặc phái viên đài RFI Jeanne Richard, nhân hội nghị COP 30 tại Belem, không ngần ngại ví hiện tượng này là « chủ nghĩa thực dân môi trường » !
Hội nghị khí hậu lần thứ 30 của LHQ được tổ chức ngay trong đại ngàn Amazon, được coi là một lá phổi chính của hành tinh. Mục tiêu của tổng thống Brazil Lula da Silva, khi chọn thủ phủ bang Para làm nơi tổ chức hội nghị khí hậu, là đặt việc bảo vệ rừng để chống biến đổi khí hậu vào tâm điểm chú ý của quốc tế. Thách thức với chính Brazil là chặn đứng được nạn phá rừng để chăn thả gia súc phổ biến hiện nay. Gắn chip gia súc được kỳ vọng cho phép giải quyết tận gốc vấn đề. Kể từ khi ông Lula trở lại nắm quyền năm 2022, diện tích rừng bị phá đã sụt giảm mạnh so với thời tổng thống tiền nhiệm Bolsonaro, đồng minh của tổng thống Mỹ Donald Trump, người phủ nhận tác động của con người đến khí hậu. Tuy nhiên, rừng tại Amazon vẫn tiếp tục bị phá, bị cháy hàng nghìn cây số vuông một năm. Mục tiêu đầy tham vọng của tổng thống Lula, chấm dứt nạn phá rừng ngay từ năm 2030, là điều mà nhiều người coi là bất khả. Hơn nửa lượng thịt tiêu thụ liên quan đến nạn phá rừng Để thực thi chính sách chấm dứt nạn phá rừng của tổng thống Lula, vấn đề gắn chip vào tai gia súc được coi là một trong các biện pháp căn bản nhất. Vì sao như vậy ? Việc gắn chip vào tai gia súc, về mặt nguyên tắc, được coi là biện pháp hữu hiệu để chấm dứt tình trạng gia súc được buôn bán trao tay nhiều lần, xóa sạch vết tích liên quan đến nạn rừng bị phá bất hợp pháp. Chính phủ Brazil đặt mục tiêu áp dụng biện pháp này trên toàn quốc kể từ năm 2032. Riêng với bang Para - tâm điểm của nạn phá rừng - thời hạn là sớm hơn 5 năm, tức ngay từ năm 2027. Bang Para, nơi diễn ra hội nghị khí hậu của Liên Hiệp Quốc, tháng 11/2025, là bang đứng đầu về diện tích rừng Amazon bị phá, kể từ năm 2013. Không kể các cơ sở chăn nuôi lớn, theo chính quyền bang, có đến một nửa trong số khoảng 100.000 hộ chăn nuôi gia súc ở Para, với tổng số gia súc khoảng 26 triệu con, liên quan đến nạn phá rừng bất hợp pháp. Ước tính, hơn một nửa lượng thịt được bán ra thị trường liên quan đến nạn phá rừng. Nhân dịp hội nghị COP30, ban Brazil đài RFI có loạt bài về rừng Amazon. Bài về « những thách thức của việc thực thi chính sách gắn chip để theo dõi gia súc », do đặc phái viên Lúcia Müzell thực hiện, cho biết trước hết về tình trạng gia súc được chăn thả theo lối quảng canh truyền thống là một nguyên nhân căn bản dẫn đến việc rừng bị phá bất hợp pháp là tình trạng phổ biến, rất khó thay đổi. Học cách nuôi nhiều gia súc trên một diện tích hạn chế Tại Brazil, trung bình một đầu gia súc trên một hecta, trong lúc tại châu Âu, như Hà Lan, tỉ lệ này là 7 con/hecta. Một trở ngại hàng đầu với người chăn nuôi tại Amazon như vậy là chuyển đổi phương thức sản xuất, mang lại hiệu suất cao hơn. Ông Adelson Aleves Da Silva Torres, nông dân rừng Amazon, một trong những người đầu tiên bắt đầu áp dụng phương pháp mới, cho biết về hoàn cảnh của ông trước đây và cũng là tình trạng phổ biến hiện nay, đang ngăn cản việc áp dụng kế hoạch gắn chip vào tai gia súc: « Chính phủ có thể giúp chúng tôi quản lý những khu vực nhỏ để chăn nuôi gia súc bằng hàng rào điện. Xác định như vậy có vẻ hợp lý, nhưng chúng tôi là những người nghèo. Chúng tôi không thể quản lý kiểu đó được. Bởi vì nếu dễ dàng như vậy thì đã không cần phải phá rừng. Bởi vì muốn nuôi nhiều gia súc trên khoảng diện tích chỉ 10 hecta thì không thể được. Và nếu đàn gia súc tăng lên, và người ta muốn phát triển chăn nuôi, thì họ sẽ phải phá rừng. Nguyên do phá rừng chủ yếu hiện nay bắt nguồn từ chuyện này. » Chuyển đổi mô hình đòi hỏi đầu tư lớn: Nhà chăn nuôi nhỏ cần được hỗ trợ Ông Bruno Velo, chuyên gia phân tích chính sách công tại Imaflora, tức Viện Quản lý và Chứng nhận Lâm nghiệp và Nông nghiệp, nhấn mạnh đến tiềm năng to lớn của việc gắn chip vào tai gia súc đối với việc chuyển sang mô hình phát triển bền vững, nhưng trách nhiệm đặt lên vai người nông dân là rất lớn : « Việc theo dõi gia súc đến từng cá thể có tiềm năng to lớn đưa ngành chăn nuôi Brazil đi theo hướng bền vững hơn. Nhưng để làm được điều đó, cần phải có sự tham gia của người chăn nuôi. Đây là những người trực tiếp thực hiện quá trình chuyển đổi và các hành động cần thiết, như gắn thẻ tai cho gia súc, thực hiện quy trình quản lý môi trường, cô lập các khu vực rừng bị phá. Làm được việc này chính là người chăn nuôi. » Theo chuyên gia chính sách công Brazil, để thành công trong việc chuyển đổi, các nhà sản xuất nhỏ và vừa cần được hỗ trợ thích đáng về kỹ thuật và tài chính : « Đây là một quá trình đòi hỏi thời gian khá dài và nhiều nỗ lực, cùng nhiều hiểu biết về chuyên môn kỹ thuật ở người chủ. Nhà sản xuất, người muốn hợp thức hóa đất đai, cần phải xác định những khu vực này một cách khá chính xác, bằng cách sử dụng các hình ảnh vệ tinh. Và cũng phải tách riêng ra những khu vực rừng đã bị phá bất hợp pháp. Vậy nên, đây là một quá trình tốn kém. Tại một quốc gia bất bình đẳng sâu sắc, tính khả thi của việc này đối với người sản xuất, khả năng chịu đựng những chi phí này, vốn không đồng đều. Các nhà sản xuất lớn, có nhiều vốn liếng hơn, có thể có đủ tiền để chuyển đổi và thực hiện điều này một cách tự chủ hơn. Những nhà sản xuất nhỏ, hộ gia đình nông dân cần được hỗ trợ để có đủ kinh phí cho quá trình chuyển đổi này. » Trước mắt, chính quyền bang Para quy định miễn phí việc gắn chip với các chủ chăn nuôi sở hữu dưới 100 gia súc. Tuy nhiên, còn nhiều việc phải làm trong việc hỗ trợ các nhà chăn nuôi, mà trong số họ, trình độ học vấn thấp cũng là một trở ngại lớn, theo ghi nhận của đặc phái viên RFI. Cơ bản vẫn là mong muốn của người dân Người phụ trách Môi trường và Phát triển Bền vững của bang Para, ông, nguyên công tố viên ghi nhận việc nhân sự và các phương tiện cho việc phòng chống phá rừng đã được tăng cường hơn so với việc trước : « Chúng tôi đã tăng gấp 10 lần lực lượng chống phá rừng của bang. Trước đây, chỉ có 10 thanh tra, giờ đây chúng tôi có 100 thanh tra. Không chỉ thanh tra viên, mà còn có xe cộ, drone, tất cả các thiết bị cần thiết cho hoạt động thanh tra này. » Trên thực tế, việc giám sát chặt diện tích rừng rộng hơn 2 lần lãnh thổ nước Pháp tại bang Para, chỉ với số nhân viên như trên quả là điều vô cùng nan giải. Người phụ trách Môi trường và Phát triển Bền vững của bang Para, ông Raul Protásio Romão, coi việc nhà chăn nuôi tự nguyện hành động vì nhận ra lợi ích của mình là điều căn bản: « Một nửa trong số các chủ trang trại liên quan đến nạn phá rừng trái phép. Nhưng lượng đất trái phép chỉ chiếm chưa đến 10% tổng diện tích đất mà họ sở hữu. Đây là nhóm các chủ sở hữu có xu hướng tìm kiếm cách hợp pháp hóa đất đai. Nếu không hợp thức hóa được, họ có thể phải gánh chịu những thiệt hại đáng kể do bị phạt. Khi cân nhắc thiệt hơn, việc hợp thức hóa có lợi cho họ hơn nhiều. » Giảm nuôi gia súc, tăng rừng phục hồi Bà Maria Goretti Rios, ở Para, là một trong những hộ nông dân đi trước trong việc gắn chip theo dõi gia súc. Năm ngoái, gia đình người nông dân này đã lần đầu tiên trực tiếp bán được bò có gắn chip cho công ty đóng gói thịt JBS, lớn nhất Brazil, thay vì phải bán qua các trung gian. Bài phóng sự điều tra của Ban Brazil cũng ra dẫn trường hợp nhà chăn nuôi Wanderlan Sousa Damasceno, đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số khu rừng bị phá trái phép, và trong vòng một năm, ông đã thí điểm được mô hình nuôi 5 gia súc/hecta. Ban Brazil, nhân dịp hội nghị khí hậu tại rừng Amazon, có một bài viết khác giới thiệu về xu thế giới chăn nuôi ở Amazon giảm đàn gia súc, để đầu tư cho trồng ca cao bền vững, vừa mang lại một nguồn thu nhập đáng kể, vừa giúp phục hồi rừng. Sự kỳ diệu của ca cao « bền vững » Bang Para từ mươi năm nay đã vươn lên đứng đầu Brazil về sản xuất ca cao. Ca cao tại Para có thể được chế biến đến 30 sản phẩm khác nhau, từ bơ, chocolat đến trà, mật, đến bia… Khác với nhiều nhà sản xuất ca cao lớn trên thế giới, dựa vào cây ca cao độc canh, đặc biệt như ở châu Phi, dẫn đến nạn phá rừng để trồng ca cao, tại bang Para, Brazil, 70% lượng ca cao đến từ cây ca cao bền vững, được trồng ngay trong rừng. Người nông dân Jackson da Silva Costa được dẫn ra như một biểu tượng cho sự thay đổi đầy triển vọng này. Nhà chăn nuôi gia súc quản lý 24 hecta đất này, kể từ năm 2023, để tránh bị phạt và « hợp thức hóa đất đai », đã để 5 hecta đất rừng bị phá tự hồi sinh, và bên trong khu rừng đang tái sinh, ông trồng cacao và các loài cây ăn quả phù hợp với rừng. Nền dân chủ Brazil thời Lula tăng tốc bảo vệ Amazon Bất chấp 4 năm cầm quyền của tổng thống Bolsonaro, sự trở lại của tổng thống Lula đã góp phần mang lại một sức bật mới trong việc đẩy lùi và hướng đến chấm dứt nạn phá rừng Amazon. Việc gắn chip vào tai gia súc chăn thả để giám sát di chuyển được kỳ vọng như một biện pháp căn bản giúp chặn đứng nạn tàn phá Amazon. Thách thức là chồng chất, nhưng định hướng này mang lại hy vọng sẽ góp phần đáng kể vào cuộc chiến bảo vệ rừng, chống biến đổi khí hậu. Việc Châu Âu, và có thể tiếp theo là Trung Quốc, siết chặt các biện pháp chống tiêu thụ các sản phẩm liên quan đến phá rừng, sẽ mang lại những áp lực quan trọng giúp tăng tốc việc chuyển đổi mô hình chăn nuôi, giúp gìn giữ rừng Amazon - tài sản chung của nhân loại.
Cho đến hiện tại Bình Nhưỡng vẫn tỏ ra kín tiếng trước nhiều lời mời từ tổng thống Mỹ Donald Trump gởi đến nhà lãnh đạo Kim Jong Un. Tuy nhiên, trong tháng 9/2025, Bắc Triều Tiên để ngỏ khả năng nối lại đàm phán với điều kiện Hoa Kỳ từ bỏ yêu cầu phá dỡ kho vũ khí hạt nhân của nước này. Theo giới quan sát, nguyên thủ Mỹ hiện đang đối mặt với một nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên ngày càng tự tin hơn, được tiếp thêm sức nhờ vào sự hậu thuẫn của Nga. Ngày 29/07/2025, Kim Yo Jong, em gái lãnh đạo Bắc Triều Tiên tuyên bố rằng sức mạnh hạt nhân của của CHDCND Triều Tiên là « không thể đảo ngược », vị thế quốc gia có trang bị vũ khí hạt nhân là « vĩnh viễn », và bất kỳ cuộc đối thoại nào trong tương lai sẽ phải bắt đầu bằng sự thừa nhận vị thế đó . Bà Kim Yo Jong còn nói thêm « năm 2025 không phải là năm 2018, cũng không phải 2019 », hàm ý nhắc đến các thượng đỉnh trước đây giữa Bắc Triều Tiên và Mỹ trong nhiệm kỳ đầu tiên của Donald Trump. Trong một lần xuất hiện hiếm hoi tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, ngày 29/09/2025, thứ trưởng Ngoại Giao Bắc Triều Tiên Kim Son Gyong đã tái khẳng định rằng nước ông sẽ không từ bỏ vũ khí hạt nhân bất chấp yêu cầu của quốc tế, xem đây là những yếu tố then chốt để duy trì « cân bằng thế mạnh » với Hàn Quốc. Theo nhiều nhà quan sát, những tuyên bố trên của Bắc Triều Tiên phản ảnh một bước tiến đáng kể trong lập trường ngoại giao của chế độ Kim Jong Un. Hơn năm năm sau thất bại thượng đỉnh Hà Nội 2019, Bình Nhưỡng đang đưa ra một tầm nhìn hoàn toàn khác cho tương lai. Để hiểu rõ hơn những thách thức mới của chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên đối với an ninh bán đảo Triều Tiên và khu vực Đông Bắc Á cũng như là đối với thế răn đe của Hoa Kỳ trong khu vực, RFI Tiếng Việt có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu về Đông Bắc Á, Đông Nam Á Laurent Gédéon, Đại học Sư phạm Lyon. ---------- ***** ---------- RFI Tiếng Việt : Trước hết, ông giải thích như thế nào về những tuyên bố gần đây của Bình Nhưỡng ? Laurent Gédéon : Theo tôi, có ba điểm chính có thể phân tích từ những tuyên bố trên của Kim Yo Jong : Thứ nhất, vũ khí hạt nhân, với tư cách là một yếu tố răn đe, hiện đã được đưa vào Hiến pháp của CHDCND Triều Tiên và không còn chỉ là đòn bẩy hay một biến số điều chỉnh trong các cuộc đàm phán tương lai. Thứ hai, việc nối lại đàm phán chắc chắn sẽ thất bại nếu Hoa Kỳ vẫn kiên trì yêu cầu phi hạt nhân hóa như là một điều kiện tiên quyết. Điểm thứ ba, đối thoại vẫn có thể thực hiện được, nhưng trên cơ sở thừa nhận « sự đã rồi » được thể hiện qua tình trạng hạt nhân của CHDCND Triều Tiên. Liệu ta có thể nói rằng với lời khẳng định trên, Bắc Triều Tiên đang vạch ra một đường lối đối ngoại mới với Hoa Kỳ ? Laurent Gédéon : Tuyên bố này của Bình Nhưỡng thực sự cho thấy rõ ba trục, có thể hiểu như là đường lối mới trong chính sách đối ngoại, nhất là với Hoa Kỳ. Trục thứ nhất là nhằm củng cố tính chính đáng trong nội bộ, cũng như với bên ngoài về chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Bằng cách khẳng định quy chế hạt nhân là « không thể đảo ngược » và « vĩnh viễn », CHDCND Triều Tiên tìm cách hợp pháp hóa việc sở hữu vũ khí nguyên tử, không còn là một con bài mặc cả tạm thời, mà là một thành phần lâu dài trong lập trường chiến lược của đất nước. Điều này giúp Bình Nhưỡng khẳng định trong đối nội rằng răn đe hạt nhân là một trụ cột không thể thay đổi của chủ quyền quốc gia, và trong đối ngoại – không chỉ đối với Mỹ và các đồng minh của Mỹ, mà cả với Trung Quốc và Nga – rằng kể từ giờ phải tính đến thực tế địa chiến lược này. Trục thứ hai, theo tôi, liên quan đến việc có một sự thay đổi cơ bản trong khuôn khổ đàm phán với Mỹ. Trong quá khứ, các cuộc đàm phán giữa Washington và Bình Nhưỡng được thực hiện trên cơ sở Mỹ muốn hạn chế và sau đó là chấm dứt chương trình vũ khí hạt nhân Bắc Triều Tiên. Khi đòi được công nhận vị thế hạt nhân trước, lập trường mới của Bình Nhưỡng rõ ràng đang làm thay đổi khuôn khổ đàm phán trước đây. Cuối cùng, khi nói rõ là « 2025 không phải là năm 2018 hay 2019 », CHDCND Triều Tiên bác bỏ ý tưởng trở lại với sự năng động của những thượng đỉnh trước đây giữa Donald Trump và Kim Jong Un tại Singapore và Hà Nội. Theo Bình Nhưỡng, bối cảnh chiến lược và ngoại giao mới đòi hỏi phải « xuất phát lại từ đầu » với những luật chơi mới. Tuy nhiên, vài ngày sau khi nhậm chức vào tháng 01/ 2025, tổng thống Mỹ Donald Trump, trước giới báo chí, đã có vài bình luận ngắn gọn, ngầm thừa nhận Bắc Triều Tiên là một cường quốc hạt nhân. Vậy Bình Nhưỡng còn trông đợi điều gì từ Washington khi đòi được công nhận là một cường quốc hạt nhân « vĩnh viễn » ? Laurent Gédéon : Theo tôi, Bắc Triều Tiên có thể kỳ vọng các tiến triển trong một số lĩnh vực. Trước hết, một sự công nhận ngầm về vị thế hạt nhân của Bắc Triều Tiên ngụ ý chấm dứt câu chuyện « phi hạt nhân hóa toàn diện » và Washington chấp nhận vị thế của Bình Nhưỡng là một cường quốc hạt nhân hợp pháp. Bắc Triều Tiên không còn muốn bị đối xử như là một kẻ bị ruồng bỏ cần phải giải trừ vũ khí, mà là một cường quốc hạt nhân có chủ quyền được công nhận, một bên đối thoại chiến lược hợp pháp, tương tự như Ấn Độ, Pakistan hay Israel. Cả ba quốc gia hạt nhân này đều không ký kết TNP (Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân), nhưng trên thực tế được cộng đồng quốc tế chấp nhận. Hệ quả của sự công nhận này đối với Bình Nhưỡng có lẽ sẽ là khép lại vấn đề giải giới, nâng Bắc Triều Tiên lên hàng cường quốc không thể phủ nhận trong các cuộc đàm phán về an ninh khu vực và buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận một mối quan hệ bình đẳng theo kiểu « cường quốc với cường quốc ». Bước tiến thứ hai đối với Bắc Triều Tiên, theo tôi, liên quan đến việc nước này muốn một cuộc đàm phán vô điều kiện tiên quyết với Hoa Kỳ, có thể đi vào đàm phán song phương trực tiếp và bình đẳng chiến lược với Washington. Trên thực tế, Bình Nhưỡng muốn có một tiến triển tương tự như Ấn Độ, quốc gia mà Hoa Kỳ đã dần chấp nhận vị thế hạt nhân và cuối cùng đã ký kết một thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự năm 2008 mà vẫn không chính thức thừa nhận Ấn Độ là một cường quốc hạt nhân. Yếu tố thứ ba có thể khiến Bình Nhưỡng quan tâm đến là việc nới lỏng cấm vận, giảm nhẹ áp lực kinh tế đang đè nặng lên Bắc Triều Tiên. Điều này rõ ràng sẽ có những hệ quả tích cực cả về mặt đối nội, xét về cấp độ uy tín bên ngoài của nước này, lẫn các mối quan hệ của Bình Nhưỡng với quốc tế. Một lý do khác mà Bình Nhưỡng có thể coi là điều tích cực, đó là việc cắt giảm các cuộc tập trận quân sự Mỹ - Hàn, nhất là việc đình chỉ các cuộc tập trận thường kỳ hàng năm, cũng như áp lực quân sự đối với Bình Nhưỡng. Điểm cuối cùng là quá trình bình thường hóa dần dần để từ đó có thể đi đến một thỏa thuận hòa bình cho phép chế độ Bắc Triều Tiên củng cố quyền lực trong nước và xác định vị thế tích cực trong cộng đồng quốc tế. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu nước Mỹ của Donald Trump chấp nhận chính thức công nhận vị thế cường quốc hạt nhân như Bắc Triều Tiên đòi hỏi ? Laurent Gédéon : Hệ quả của việc Hoa Kỳ công nhận chính thức vị thế hạt nhân của Bắc Triều Tiên là đáng kể. Đều này sẽ có những tác động đến toàn khu vực, bởi vì làm như vậy sẽ phá vỡ nền tảng chính sách nhất quán của Washington từ nhiều thập niên qua, từ chối cho Bình Nhưỡng tiếp cận bất kỳ vũ khí hạt nhân nào. Điều chắc chắn là Hàn Quốc sẽ không ngồi yên và điều này sẽ khơi lại cuộc tranh luận nội bộ về việc Seoul phát triển vũ khí hạt nhân, và có nhiều khả năng mối quan hệ giữa Seoul và Washington sẽ bị thay đổi, do sự mất lòng tin. Tương tự đối với Nhật Bản: Tokyo cũng sẽ xem tiến triển này là một thách thức đối với trật tự khu vực. Nhật Bản chắc chắn sẽ cố gắng tăng ngân sách quân sự và có thể, giống như Hàn Quốc, sẽ có một cuộc tranh luận trong nước về nhu cầu trang bị một năng lực hạt nhân độc lập cho quốc gia. Điều này có nguy cơ phá vỡ điều cấm kỵ hạt nhân mà Nhật Bản duy trì từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Sự công nhận đó có thể có những tác động đối với nhiều cường quốc hạt nhân khác, đặc biệt là Trung Quốc và Nga. Việc Washington lùi bước trong hồ sơ này, tất nhiên, có thể sẽ được Bắc Kinh cũng như là Matxcơva coi đó là một thắng lợi chiến lược trước Hoa Kỳ và là dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực đang suy yếu. Điểm cuối cùng không kém phần quan trọng, sẽ có những hệ quả đáng kể đối với Hiệp ước Không Phổ biến Hạt nhân (TNP). Công nhận vị thế hạt nhân Bắc Triều Tiên sẽ mở cánh cửa cho nhiều yêu sách khác, chẳng hạn như từ Iran, cũng có thể đòi được công nhận tương tự, đồng thời có thể thúc đẩy những nước được gọi là các quốc gia ngưỡng hạt nhân, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ả Rập Xê Út, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, dấn bước và trang bị vũ khí nguyên tử cho riêng mình. Nhìn chung, thế giới sẽ chuyển từ một trật tự hạt nhân do một vài cường quốc kiểm soát sang một hệ thống đa cực bất ổn nhiều hơn, thậm chí hỗn loạn, qua việc nhiều quốc gia sẽ tìm cách bù đắp thế yếu kém của mình bằng cách sở hữu vũ khí nguyên tử. Như vậy chúng ta sẽ có hiện tượng gọi là phổ biến hạt nhân theo chiều ngang, tức là có nhiều quốc gia hạt nhân mới, và một sự phổ biến theo chiều dọc, nghĩa là hiện đại hóa các kho vũ khí hạt nhân hiện có. Ông giải thích thế nào về thái độ tự tin này của Bình Nhưỡng ? Phải chăng đó là vì chế độ Kim Jong Un đã đạt được một số mục tiêu được đề ra trong kế hoạch 5 năm được thông báo hồi đầu năm 2021 để phát triển nhiều loại vũ khí hạt nhân tân tiến hơn ? Và nhất là nhờ vào sự hỗ trợ về công nghệ của Nga ? Laurent Gédéon : Nhiều khả năng là kế hoạch năm năm do Kim Jong Un khởi xướng đầu năm 2021 và sự hỗ trợ về mặt công nghệ của Nga đã đóng một vai trò quan trọng trong sự thay đổi lập trường của Bắc Triều Tiên đối với Mỹ. Tôi xin nhắc lại là kế hoạch năm năm 2021-2025 đã được công bố tại Đại hội Đảng Lao Động Triều Tiên lần thứ 8 vào tháng 01/2021. Trong kỳ họp này, một lộ trình đã được vạch ra với mục tiêu phát triển đồng thời các lực lượng hạt nhân « thế hệ mới » và tầu ngầm chiến lược, cùng nhiều loại vũ khí siêu thanh. Tất cả những điều này là một phần trong chính sách chung « phát triển song song » các lực lượng hạt nhân và quy ước. Sự hỗ trợ của Nga chắc chắ
Kế hoạch hòa bình cho Gaza của tổng thống Mỹ Donald Trump được các bên xung đột chấp thuận và giai đoạn một đã nhanh chóng được triển khai vào giữa tháng 10/2025. Lần đầu từ kể khi xung đột bùng nổ cách nay hai năm, viễn cảnh hòa bình lâu dài cho Gaza hé mở. Giải giáp lực lượng quân sự của Hamas là đòi hỏi chủ yếu của Israel để tổ chức mà nhiều nước phương Tây coi là « khủng bố » này không còn là mối đe dọa với Nhà nước Do Thái. Tổ chức Hamas không tự nguyện buông súng và để ngỏ khả năng gắn liền vấn đề này với sự ra đời của một Nhà nước Palestine có chủ quyền. Theo giới quan sát, viễn cảnh giải giáp lực lượng Hamas, một nội dung chính trong kế hoạch hòa bình 20 điểm của tổng thống Mỹ, có khả năng thực thi được hay không là một vấn đề còn hoàn toàn để ngỏ. Hamas suy yếu, buộc phải chấp nhận thỏa thuận « hạ vũ khí » Sau khi kế hoạch 20 điểm của tổng thống Mỹ được công bố, chuyên gia về chiến tranh đô thị John Spencer, Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point, một người thân cận với thủ tướng Israel Netanyahu, tỏ ra rất tin tưởng vào viễn cảnh thực thi việc tước vũ khí của Hamas: « Kế hoạch 20 điểm được thảo ra là một kế hoạch hòa bình toàn diện, hoàn toàn loại bỏ Hamas khỏi vai trò là một tác nhân. Nếu mọi điểm của kế hoạch đó được tuân thủ thì sẽ không còn Hamas nữa. Hamas sẽ không có vai trò gì trong các nỗ lực chính trị, thậm chí là trong các hoạt động xây dựng xã hội trong tương lai. Điều quan trọng nữa là các quốc gia với đa số là người Ả Rập và Hồi giáo đã ký kết vào kế hoạch này. Đây không phải là một thương vụ để đàm phán, mà là một kế hoạch 20 điểm để thực hiện… Dải Gaza sẽ được phi cực đoan hóa và phi quân sự hóa. Hamas sẽ phải từ bỏ tất cả vũ khí. Chắc chắn kế hoạch này là chiến thắng hoàn toàn của Israel, nhưng cũng phục vụ các lợi ích của người Palestine không thuộc Hamas. Người Palestine sẽ có một chính phủ mới. Sẽ có một chương trình giáo dục giải cực đoan, và thậm chí cả con đường hướng tới quyền tự quyết của người Palestine nói chung. Kế hoạch này mang lại nhiều tiềm năng nhất cho hòa bình, không chỉ cho Gaza mà còn cho người dân Palestine. » Đọc thêm : Israel và Hamas đạt thỏa thuận về giai đoạn đầu trong kế hoạch hòa bình của Trump cho Gaza Tuy nhiên, thách thức của việc thực thi mục tiêu giải giới lực lượng vũ trang Hamas nằm ngay trong các điều khoản của kế hoạch này. Theo nhà nghiên cứu David Rigoulet-Roze, Viện Phân tích Chiến lược Pháp (IFAS), chuyên gia về các cuộc xung đột ở Trung Đông, điều 13 của kế hoạch quy định việc « phi quân sự hóa » bao gồm phá hủy cơ sở hạ tầng quân sự (đường hầm, kho vũ khí và xưởng sản xuất vũ khí), nhưng hiện tại vẫn chưa có thỏa thuận cụ thể về việc giám sát quá trình này. Trong chuyến công du mới đây tại Israel, phó tổng thống Mỹ J.D Vance thừa nhận là không có thời hạn cụ thể cho việc giải giáp Hamas. Sau hai năm chiến tranh, Hamas vẫn là một thế lực Theo giới chuyên gia, hai năm sau khi xung đột bắt đầu, lực lượng Hamas vẫn bám trụ vững chắc ở dải Gaza, mặc dù suy yếu nhiều. Hiện chưa có số liệu thống kê chính xác về tổn thất của phong trào Hồi giáo này. Nhiều nguồn tin đưa ra con số từ 8.000 đến 12.000 chiến binh thiệt mạng trong hai năm chiến tranh, trên tổng số 25.000 đến 30.000 chiến binh Palestine trước vụ khủng bố ngày 07/10/2023. Hamas có thể vẫn tiếp tục tuyển mộ thêm đến 15.000 chiến binh trong thời gian chiến tranh chống Israel, theo một số nguồn tin Mỹ, được trang mạng Bỉ RTL trích dẫn. Theo truyền thông Anh quốc, chỉ vài giờ sau khi lệnh ngừng bắn được thực thi, Hamas đã ngay lập tức triển khai đến 7.000 chiến binh trên những vùng đất mà Israel rút quân. Một số giới chức Hamas cho biết mục tiêu là để bảo đảm an ninh chống lại những kẻ trộm cướp và các băng đảng người Palestine được sự hậu thuẫn của quân đội Israel trước đây. Đọc thêm - Trung Đông : Phe Hamas từ chối cam kết giải giáp Hamas sở hữu một kho vũ khí đa dạng, bao gồm vũ khí hạng nhẹ, hỏa tiễn tự chế và drone thô sơ. Theo ghi nhận năm 2018 của Small Arms Survey, một chương trình nghiên cứu chuyên về vũ khí của Thụy Sĩ, Hamas từ lâu đã phát triển một ngành công nghiệp tại chỗ để sản xuất hỏa tiễn từ các vật liệu dân dụng. Dự trữ vũ khí của Hamas được đánh giá là phân tán, rất khó truy tìm. Sức mạnh Hamas (1) : Hệ thống đường hầm hàng trăm cây số Sức mạnh quân sự của Hamas một phần chủ yếu dựa vào các hệ thống đường hầm nằm sâu trong lòng đất dài hàng trăm cây số, và các đô thị ở dải Gaza được Hamas dày công xây dựng để biến thành các thành lũy khó chinh phục. Chuyên gia về chiến tranh đô thị John Spencer nhận định hệ thống đường hầm quân sự nhưng gắn liền với các công trình dân sự, và hệ thống phòng thủ đô thị nói chung ở Gaza là độc nhất vô nhị : « Hamas cai quản dải Gaza từ năm 2005 đã chi hơn một tỷ đô la cho hệ thống đường hầm phức hợp ước tính dài hơn 350 dặm, dành cho mục đích quân sự, nằm bên dưới các khu vực đô thị của Gaza, bắt đầu từ ngay dưới các tòa nhà cho đến hơn độ sâu khoảng 60 mét dưới lòng đất. Không chỉ đường hầm, mà mọi khía cạnh của môi trường Gaza đã được Hamas chuẩn bị cho chiến tranh trong vòng 20 năm, kể từ khi họ nắm quyền vào năm 2007. Nhưng trước đó nữa, ngay cả trong giai đoạn Israel chiếm đóng dải Gaza (cho đến năm 2005), Hamas đã xây dựng nhiều đường hầm vì mục tiêu quân sự. Đó là một điều rất độc đáo và thực sự độc nhất vô nhị trong lịch sử chiến tranh đô thị. Trong lịch sử, hầu hết các trận chiến đô thị đều là nơi mà bên phòng thủ có rất ít thời gian chuẩn bị. Càng có nhiều thời gian chuẩn bị phòng thủ thì chiến tranh càng kéo dài và càng tàn khốc. Một số trận chiến lớn nhất trong lịch sử chiến tranh đô thị như Stalingrad về cơ bản là giao tranh giữa hai lực lượng quân đội trên địa hình đô thị. Trận chiến đô thị lớn nhất kể từ Đệ nhị Thế chiến II, trước chiến tranh Ukraina, là trận Mosul, một trận chiến kéo dài chín tháng để giành lại thành phố từ tay tổ chức Nhà nước Hồi giáo. Phải huy động đến hơn 100.000 quân, lực lượng an ninh Irak mới giành lại được thành phố (có từ 3.000 đến 5.000 quân cố thủ), vì Daech đã có hai năm chuẩn bị phòng thủ. Trong khi tại thành phố lớn như Gaza, Hamas đã có 20 năm chuẩn bị. Bên dưới mỗi bước chân người đi đường đều có một đường hầm. Về cơ bản, mọi ngôi nhà đều đã được quân sự hóa, hầu hết đều có kho chứa bom, thiết bị nổ tự chế hoặc vị trí bắn tỉa. » Sau hai năm chiến tranh, với khoảng 80% khu vực Gaza bị phá hủy, và 90% vũ khí hạng nặng của Hamas bị tiêu hủy, theo quân đội Israel, Hamas không còn là mối đe dọa trực tiếp với Israel, nhưng 60% của hệ thống đường hầm 500, 600 km vẫn còn nguyên vẹn, theo số liệu của chính Israel. Sức mạnh của Hamas không chỉ ở hệ thống đường hầm quân sự độc nhất vô nhị này, mà một phần chủ yếu nằm ở việc tại dải Gaza, Hamas không có đối thủ cạnh tranh. Theo nhà nghiên cứu Hugh Lovatt, chuyên về Trung Đông và Bắc Phi tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Châu Âu, Hamas không thể sụp đổ, do các nhóm đối địch « không có đủ sức mạnh quân sự để đạt được điều này » và « cũng không có được sự ủng hộ của người Palestine, nhất là khi họ bị mất uy tín do mối quan hệ với Israel ». Sức mạnh Hamas (2): Từ phong trào thuần túy tôn giáo đến bàn tay sắt tại Gaza Về nguồn gốc của tổ chức độc quyền thống trị dải Gaza từ năm 2006, nhà xã hội học chính trị Laetitia Bucaille, Viện INALCO và Trung tâm CESMA, tác giả cuốn « Gaza quel avenir ? » (Tương lai nào cho Gaza ?) vừa ra mắt, nhấn mạnh đến quan hệ với Huynh đệ Hồi giáo, một tổ chức tôn giáo với tham vọng chính trị mang tầm vóc khu vực (Radio France) : « Hamas là từ viết tắt tiếng Ả Rập của Phong trào Kháng chiến Hồi giáo, được thành lập vào cuối năm 1987, thời điểm bắt đầu Intifada lần thứ nhất, tức phong trào phản kháng của người Palestine chống lại ách cai trị của Isarel. Phong trào này là một nhánh chính trị của tổ chức Huynh đệ Hồi Giáo. Chúng ta biết là Huynh đệ Hồi giáo bắt đầu thành lập các mạng lưới hoạt động tại các vùng lãnh thổ Palestine vào cuối những năm 1970, được Ả Rập Xê Út và Koweit tài trợ. Các thế lực này dựa vào việc tái Hồi giáo hóa xã hội để chuẩn bị về dài hạn tái chiếm Palestine. Với họ, chủ nghĩa dân tộc Ả Rập thế tục đã thất bại, và họ tin tưởng lực lượng tiếp nối giúp đạt được mục tiêu này chính là Hồi giáo. » Hamas độc quyền thống trị tại dải Gaza sau cuộc bầu cử năm 2006. Nhà nhân chủng học Đức Susanne Schroter, trong bộ phim tài liệu « Hệ thống Hamas » (của Arte), mô tả « sau chiến thắng bầu cử, họ đã tấn công Fatah, một phong trào chính trị yếu hơn, bằng những hành động cực kỳ tàn bạo. Bắn người tại nơi làm việc, buộc họ phải rời bỏ nhà cửa, trục xuất họ khỏi đất nước. Hamas đã bộc lộ bản chất thật sự của mình và gửi một thông điệp rõ ràng đến người dân Palestine: Không có sự phản đối nào được dung thứ. » Đọc thêm - Điểm lại lịch sử tranh đấu vì độc lập: Từ "20 năm bị xóa sổ" đến Nhà nước Palestine Nhà sử học Đức Ulrik Becker, cũng trong bộ phim tài liệu nói trên, nhấn mạnh đến việc tổ chức Hồi giáo này, trong thời gian độc quyền kiểm soát Gaza, đã truyền bá rộng rãi tư tưởng thánh chiến dân tộc chủ nghĩa chống Israel cho trẻ em, ngay từ trong nhà trường : « Điều tôi thấy bi thảm và đặc biệt khủng khiếp là hệ tư tưởng hiếu chiến và bài Do Thái này đang được gieo rắc vào đầu óc trẻ em từ rất nhỏ. Thật đáng sợ khi thấy ý tưởng hy sinh bản thân vì lý tưởng thánh chiến lại xuất hiện trong sách giáo khoa và trong mọi môn học. Ví dụ, trong môn toán, có những bài tập như, ‘‘chênh lệch giữa số liệt sĩ bị giết trong cuộc Intifada đầu tiên với cuộc Intifada thứ hai là bao nhiêu ?’’ hoặc trong môn vật lý, ‘‘dùng ná cao su để nhắm vào người Israel, cần tính toán góc bắn như thế nào’’ ». Vòng xoáy hận thù Israel – Palestine: Mảnh đất màu mỡ cho Hamas và quyền lực của Netanyahu Kế hoạch hòa bình 20 điểm cho Gaza của tổng thống Mỹ không xác định rõ lộ trình giải giáp Hamas, không có thời hạn cho việc phi quân sự hóa Gaza. Sau hai năm chiến tranh, bất chấp các tổn thất nặng nề, lực lượng quân sự Hồi giáo dân tộc chủ nghĩa Hamas vẫn còn sở hữu hàng trăm cây số đường hầm, được coi là căn cứ địa vững chắc. Đông đảo người dân Palestine
Từ ngày 08 đến 10/10/2025, tổng thống Vladimir Putin có chuyến thăm cấp nhà nước ba ngày tại Tajikistan vào thời điểm các nước Trung Á đang có những chuyển đổi địa chính trị trong khi Nga tìm cách duy trì ảnh hưởng đang dần suy yếu của mình do cuộc chiến xâm lược Ukraina. Về mặt chính thức, tổng thống Nga đến thủ đô Dushanbe để dự hai cuộc họp quan trọng : Thượng đỉnh Nga và năm nước Trung Á Kazakhstan, Kirghizistan, Ouzbekistan, Tajikistan, và Turkmenistan, và Thượng đỉnh Cộng đồng Các Quốc gia Độc lập (CIS) giữa Nga, năm nước Trung Á cùng với Belarus, Armenia và Azerbaijan. Trung Á : Sân sau chiến lược truyền thống của Nga Theo giới quan sát, những cuộc họp này còn là cách để ông Putin chứng tỏ Nga vẫn duy trì kiểm soát đối với « các nước láng giềng gần », những nước nằm trong vùng ảnh hưởng của Matxcơva, đặc biệt là tại Trung Á, đang trở thành vùng tranh giành ảnh hưởng giữa Trung Quốc và phương Tây. Nhìn từ góc độ lịch sử, Trung Á từ lâu được xem như là sân sau chiến lược của Nga. Và mỗi nước Cộng hòa có những nét đặc biệt và riêng biệt trong quỹ đạo thuộc địa Nga và Xô Viết cũng như là trong mối quan hệ của họ đối với Nga. Các mối liên hệ trong nhiều lĩnh vực kinh tế, thương mại, giáo dục và an ninh, quân sự cũng từ đó được siết chặt hơn. Nhà nghiên cứu về Trung Á đương đại, Isabelle Ohayon, trợ lý giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về thế giới Nga, Kavkaz và Trung Âu, trên đài phát thanh France Culture, ngày 08/04/2025, nhắc đến Kazakhstan như một ví dụ điển hình : « Kazakhstan có mối liên hệ rất chặt chẽ và lâu đời với Nga, bởi vì nước này là quốc gia đầu tiên, là không gian đầu tiên bị đế chế Nga đô hộ ngay từ đầu thế kỷ XVIII. Đây cũng là đất nước, trước khi Liên Xô sụp đổ, có cộng đồng cư dân Nga và nói tiếng Nga đông nhất. Người Kazakhstan chỉ chiếm có 39% dân số vào năm 1991 so với tỷ lệ 70% hiện nay. Điều đó cho thấy là hiện tượng Nga hóa, sự hiện diện của Nga, cũng như sự gắn bó với nền văn hóa lớn của Nga theo nghĩa chung đã thâm nhập, thấm nhuần sâu sắc tại Kazakhstan hơn là các nước Cộng hòa khác. Nếu chỉ xét về việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng Nga được dùng phổ biến, song ngữ phát triển khá mạnh mẽ ». Năm 1991, Liên Xô tan rã, nhưng các mối quan hệ đó vẫn tồn tại. Theo nữ tiến sĩ Laetitia Spetschinsky, chuyên ngành Quan hệ Quốc tế tại trường đại học Công giáo Louvain, Bỉ, trả lời phỏng vấn báo Bỉ L’Echo, « sự tan rã một đế chế không có nghĩa là toàn bộ cấu trúc được xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử bị sụp đổ : Hệ thống liên thông đường sắt và các tiêu chuẩn công nghiệp vẫn được duy trì ». Về điểm này, nhà nhiếp ảnh người Ouzbekistan Timur Karpov, trong một chương trình trên đài truyền hình ARTE (19/11/2024), có cùng nhận định : « Nga luôn gây sức ép mạnh mẽ đối với Uzbekistan. Mối quan hệ giữa hai nước đã bắt đầu phát triển trong suốt thời kỳ Xô Viết. Vào thời điểm đó, toàn bộ giới lãnh đạo đất nước, bằng cách này hay cách khác, đều có liên hệ chặt chẽ với Nga. Hệ quả là việc nước tôi khó thể tách rời khỏi Nga cũng là lẽ tất nhiên ». Chiến tranh Ukraina : Bàn cờ Trung Á được xáo lại Nhưng việc Nga phát động chiến tranh xâm lược Ukraina đã làm thay đổi bàn cờ địa chính trị tại Trung Á. Những phát biểu của ông Putin sẵn sàng dùng vũ lực để chiếm lại những vùng lãnh thổ từng thuộc về đế chế Nga hay để bảo vệ kiều dân Nga ở hải ngoại càng làm gia tăng nỗi lo về an ninh tại các nước Trung Á. Điều này thôi thúc các nước trong khu vực cùng với một số nước vùng Kavkaz bắt đầu mở rộng các mối quan hệ với nhiều nước đối tác cũng như đối thủ của Nga, từ Trung Quốc, Liên Hiệp Châu Âu, cho đến Thổ Nhĩ Kỳ hay các nước Vùng Vịnh, nhằm tìm cách bảo vệ trước nguy cơ một cuộc tấn công mới từ Nga. Đối với năm nước Trung Á, cuộc chiến Ukraina một thời cơ tốt để thiết lập các mối quan hệ mới với nhiều cường quốc khác. Vladislav Inozemstsev, cố vấn đặc biệt tại Viện Nghiên cứu về Truyền thông Trung Đông, trả lời hãng Bloomberg, lưu ý, « tầm ảnh hưởng của Putin đang suy yếu, nhưng sẽ không kéo dài bao lâu ». Trong số các nước tận dụng khoảng trống quyền lực do Nga để lại, Trung Quốc là bên hưởng lợi nhiều nhất. Phóng sự của ký giả Heike Smith, ban tiếng Pháp đài RFI, nêu trường hợp cửa khẩu Khorgos, nằm giữa Trung Quốc và Kazakhstan. Tại đây, các hoạt động vận chuyển hàng hóa từ Trung Quốc sang châu Âu tăng vọt ngoạn mục kể từ khi chiến tranh Ukraina bùng nổ, theo như mô tả của Hicham Belmaachi, một doanh nhân người Maroc. « Từ khi xảy ra chiến tranh ở Ukraina, chúng tôi nhận thấy nhiều công ty quốc tế, đặc biệt là các hãng vận tải biển lớn nhất, đã rút khỏi Nga. Điều này đồng nghĩa với việc các hãng lớn vận tải đường biển quốc tế đã ngừng hoạt động tại Nga. Vì vậy, chúng tôi đã phải thiết kế lại hoàn toàn hệ thống kho bãi tại khu vực này. Cụ thể là Kazakhstan, Uzbekistan và Kyrgyzstan, thay vì nhập khẩu phần lớn sản phẩm từ Nga, nay đã chuyển hướng sang Trung Quốc ». Mối tương quan lực lượng cũng vì thế có thay đổi. Nga không còn thế ưu việt tại Trung Á như trước đây. Nếu như Matxcơva vẫn thống trị khu vực trong lĩnh vực an ninh, Nga lại bị Trung Quốc cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại, công nghệ và thậm chí cả ngoại giao. Về điểm này, nhà chính trị học người Kazakhstan, Dossym Satpaiev, giám đốc trung tâm tư vấn Risks Assessment Group, trả lời RFI, nhận định cuộc chiến tại Ukraina đã mang đến một cơ hội tốt cho phép Kazakhstan giữ khoảng cách với Matxcơva. « Đúng là chúng tôi có đường biên giới rất dài với Nga. Khoảng 20% dân số là người Nga. Dầu mỏ xuất khẩu của chúng tôi vẫn đi qua lãnh thổ Nga. Hơn nữa, một phần lãnh thổ Kazakhstan phụ thuộc vào nguồn cung cấp điện của Nga. Kazakhstan cũng nhận khí đốt từ Nga. Vì vậy, Nga vẫn có ảnh hưởng đối với Kazakhstan. Nhưng mặt khác, cuộc chiến ở Ukraina đã tạo cho Kazakhstan một cơ hội tốt để dần dần tách khỏi Matxcơva. Kazakhstan giờ đây phải tìm kiếm một đối trọng địa chính trị với Nga. » Trung Á : Thách thức mới cho Nga Không chỉ có Trung Quốc, nhiều cường quốc phương Tây cũng bắt đầu dòm ngó đến Trung Á, từ Liên Hiệp Châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, cho đến nước Mỹ của Donald Trump, thông qua các thỏa thuận về đầu tư khai thác khoáng sản, vận chuyển và năng lượng. Trên đài RFI, Michael Levystone, đồng sáng lập Đài Quan sát Tân Á – Âu, chuyên gia về Châu Âu và vùng Á-Âu tại INALCO, nhận xét tiếp : « Đây là khu vực có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, chẳng hạn như năng lượng mặt trời ở Uzbekistan, năng lượng gió trên bờ biển Caspi của Kazakhstan và Turkmenistan, và thủy điện, vốn đã rất phát triển ở Kyrgyzstan và Tajikistan. Một khu vực nằm ở ngã tư của các cường quốc : Nga, Trung Quốc, Iran, và cũng không xa Thổ Nhĩ Kỳ. Trong bối cảnh các lệnh trừng phạt rất khắc nghiệt đối với nền kinh tế Nga nhằm trả đũa cho cuộc xâm lược Ukraina ngày 24 tháng 2 năm 2022, khu vực này một lần nữa thực sự trở thành trung tâm thương mại xuyên khu vực giữa Trung Quốc và Liên Hiệp Châu Âu theo hướng Đông-Tây, và giữa Nga và Nam Á theo hướng Bắc-Nam. Đây là những quốc gia, các nước Cộng hòa Trung Á, đang nỗ lực tối đa hóa tiềm năng địa kinh tế mới này, gắn liền với việc điều chỉnh quy mô các hành lang giao thông đi qua khu vực này để kết nối các cường quốc kinh tế với nhau. » Dù vậy, giới chuyên gia đều nhận định, bất chấp cuộc chiến tại Ukraina, tầm ảnh hưởng của Nga tuy suy giảm, nhưng Matxcơva vẫn còn hiện diện đáng kể về mặt chính trị, kinh tế và quân sự trong vùng. Trang Bloomberg lưu ý, hàng triệu di dân Trung Á đang sinh sống và làm việc tại Nga gởi tiền, góp phần nuôi sống nền kinh tế trong nước. Kazakhstan, Kirghizistan và Armenia là thành viên của khu vực thuế quan chung do Nga điều hành. Còn Tajikistan tham gia vào khối liên minh phòng thủ với Matxcơva, trong khi Kazakhstan là quốc gia duy nhất trong vùng không có căn cứ quân sự Nga. Trong bối cảnh mới này, theo quan điểm của ông Michael Levystone, mục tiêu chuyến công du Trung Á của tổng thống Putin là nhằm chứng minh Nga vẫn có ảnh hưởng trong vùng. Trên làn sóng RFI, ông nhận định : « Nga đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ Trung Quốc và các nước vùng Vịnh, đặc biệt là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Ả Rập Xê Út. Về đất hiếm, Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ rất chú ý và ngày càng hiện diện nhiều hơn. Năng lượng hạt nhân theo truyền thống là một trong những điểm mạnh trong chính sách ngoại giao kinh tế của Matxcơva trong khu vực. Ngoài năng lượng hạt nhân, còn có vũ khí Nga. Vấn đề nhỏ là tại Uzbekistan, Rosatom đã trúng thầu xây dựng một nhà máy điện hạt nhân, nhưng công suất lắp đặt đã bị tổng thống Mirziuyev hạ xuống đáng kể vào năm 2024. Và tại Kazakhstan, dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên Hồ Balkash thực tế đã được chính quyền Astana trao cho Rosatom vào đầu năm nay. Bộ trưởng Năng lượng Kazakhstan khi đó đã tuyên bố Trung Quốc sẽ được trao thầu xây dựng một dự án hạt nhân khác tại Kazakhstan. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rõ ràng ngay cả ở đây, Nga cũng không hoàn toàn có chủ quyền. Các nước Trung Á, trong trường hợp này là Kazakhstan, vẫn có phản xạ muốn cân bằng mọi thứ để tránh, về cơ bản, giao phó một phần đáng kể an ninh năng lượng của họ cho riêng Nga. »
Moldova, quốc gia nhỏ bé với hơn 2 triệu dân, thành viên Liên Xô cũ, vốn rất ít được chú ý, đột ngột trở thành tâm điểm thời sự châu Âu cuối tháng 9/2025. Bầu cử Quốc Hội Moldova không chỉ là cuộc đấu giữa đảng PAS cầm quyền của tổng thống Maia Sandu, chủ trương nhanh chóng gia nhập Liên Âu và khối đảng phái yêu nước thân Nga (BECS), mà còn là một thử thách lớn với Liên Âu, coi việc mở rộng khối là con đường giúp củng cố hòa bình, an ninh và thịnh vượng. Cuộc bầu cử Modlova là trận quyết đấu mới giữa Liên Âu với Nga trong « cuộc chiến hỗn hợp », khi chiến tranh tâm lý, chiến tranh trên mạng đi kèm với những can thiệp hoặc đe dọa can thiệp bằng vũ lực. Báo chí châu Âu nói đến một « trắc nghiệm lớn đầu tiên » trong cuộc đọ sức giữa Liên Âu và Nga » (RTBF). « Một phần tương lai của Liên Âu và chính sách mở rộng của khối sẽ được quyết định tại đây », theo nhà chính trị học Florent Parmentier, chuyên về khu vực đông Âu hậu Liên Xô. Nhìn từ Ukraina, đang trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nga, đây là một trắc nghiệm « với Ukraina và toàn châu Âu ». Tổng thống Volodymyr Zelensky khẳng định : « Châu Âu không thể cho phép mất Moldavia, như đã mất Belarus và Gruzia ». Tình thế đầy bất trắc trước bầu cử Ngày 28/09/2025 vừa qua, cử tri Moldova đã dành đa số quá bán tại Quốc Hội mới cho đảng của nữ tổng thống Maia Sandu, người đã đặt cử tri trước lựa chọn « địa-chính trị » rõ ràng: Bầu cho PAS là hội nhập hoàn toàn với gia đình Liên Âu. Và ngược lại, nếu đảng PAS mất đa số, Moldavia sẽ rơi trở lại quỹ đạo của điện Kremlin, đất nước « sẽ mất tất cả ». Xét theo sự ủng hộ trước đó của cử tri, tình thế Moldova trước bầu cử là đầy bất trắc, dù mục tiêu gia nhập Liên Âu được ghi vào Hiến pháp, sau cuộc trưng cầu dân ý cuối năm ngoái 2024. Phe ủng hộ gia nhập Liên Âu chỉ giành chiến thắng trong gang tấc (50,35%). Số người ủng hộ tổng thống Maia Sandu cũng sụt giảm nhiều trong cuộc bầu cử tổng thống năm ngoái. Chiến tranh Ukraina khiến kinh tế Moldova suy trầm, lạm phát tăng vọt. Moldova có lúc phải tiếp nhận đến 1,5 triệu người tị nạn Ukraina. Điện Kremlin cắt khí đốt với Moldova từ đầu năm nay. Chưa kể đến sự tồn tại của vùng ly khai thân Nga Transnistria, nơi có cả nghìn quân Nga trú đóng, và nhiều khu vực, nơi có đến hơn 90% cư dân chống gia nhập Liên Âu. Theo một số ước tính, trước thềm bầu cử, có đến 30% cử tri do dự. Tung tin giả, mua phiếu bầu, gây rối: « Lòng tin vào Liên Âu », mục tiêu triệt hạ chính Nga và các thế lực thân điện Kremlin bị cáo buộc chi hàng trăm triệu euro để can thiệp vào cuộc bầu cử, tương đương với nhiều phần trăm tổng sản phẩm quốc nội của Moldova, một quốc gia thường được xếp vào nhóm nghèo nhất châu Âu. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn Viện Pháp về Quan hệ Quốc tế (IFRI), ngay sau cuộc bầu cử Quốc Hội Moldova, nhà nghiên cứu Florent Parmentier, ghi nhận ba yếu tố « can thiệp bầu cử » chính: « Thứ nhất là thông tin bịa đặt, và việc thiết lập một hệ thống tuyên truyền với mục tiêu cuối cùng là lên án Liên Âu, lĩnh vực được triển khai hết công suất. Một ví dụ : trong chuyến thăm Chisinau của tổng thống Pháp, thủ tướng Đức và thủ tướng Ba Lan ngày 27/8/2025, có một tin giả được tung ra. Nếu tổng thống Maya Sandou chiến thắng trong cuộc bầu cử lập pháp, rất có thể ngay lập tức sẽ có 700 binh sĩ Moldova được cử tham gia liên quân tình nguyện vì Ukraina do Pháp và Anh chủ trương. Loại tin giả này nhằm làm cho mọi người tin là tổng thống Maia Sandou sẽ kéo Moldova vào cuộc chiến tranh (chống Nga). Bên cạnh việc thường xuyên tung tin giả, một nỗ lực gây bất ổn khác liên quan đến vấn đề mua phiếu bầu, điều vốn đã được bàn luận rộng rãi trong cuộc bầu cử tổng thống cuối năm ngoái. Ngày 20/10/2024, vòng bỏ phiếu đầu tiên, bà Maia Sandou tuyên bố : đã có đến 300.000 cử tri bị mua chuộc. Để đánh giá đúng tầm mức to lớn của con số này, cần liên hệ với tổng số dân Moldova 2,6 triệu người. Yếu tố thứ ba là trong trường hợp có sự chênh lệch sít sao về kết quả bầu cử, có thông tin về kế hoạch của Nga huấn luyện một số phần tử gây bạo loạn người Moldova cùng với người Serbia, tổ chức các cuộc biểu tình phản đối sau bầu cử, và có các hành động gieo rắc không khí lo sợ. Như vậy, chúng ta thấy cái đích tấn công của Nga là lòng tin vào Liên Hiệp Châu Âu cũng như chính sách kết nạp thành viên mới của Liên Âu và những lợi ích mà Liên Âu có thể mang lại. Tiếp theo đó là làm xói mòn lòng tin vào các định chế nhà nước Moldova. » ECFR : Gần như hóa giải được nạn mua phiếu trước bầu cử Để chống lại các can thiệp Nga, Liên Âu dồn lực cho Moldova. Tháng 9/2025, trước thềm cuộc bầu cử, Hội đồng Đối ngoại châu Âu (European Council on Foreign Relations - ECFR), viện tư vấn hàng đầu về các chính sách của châu Âu, tiến hành một khảo sát tại quốc gia này. Theo thẩm định của ECFR, với các hỗ trợ của các cơ quan của Liên Âu về điều tra tài chính và chia sẻ các thông tin khác, chính quyền Moldova về cơ bản đã hóa giải được các can thiệp của Nga trong lĩnh vực mua phiếu bầu, giảm mạnh so với kỳ bầu cử tổng thống năm ngoái. Tổng cộng 25.000 người đã bị phạt vì tội mua bán phiếu bầu trong thời gian tranh cử. Chính quyền Moldova kết hợp tấn công các mạng lưới mua bán phiếu bầu với việc tuyên truyền rộng rãi về « tính chất tội phạm » của hoạt động này, nâng cao nhận thức cộng đồng quy mô lớn, « bao gồm quảng cáo, truyền hình và mạng xã hội, đặc biệt tại các nhà thờ Chính thống giáo », khiến « hầu hết các mạng lưới mua bán phiếu bầu » được coi là « đã bị tê liệt » trước bầu cử. Việc nhà tài phiệt Vladimir Plahotniuc bị dẫn độ từ Hy Lạp về Moldova ngay trước thềm bầu cử được coi là một đòn nặng giáng vào các thế lực thao túng. Plahotniuc là cựu chủ tịch đảng Dân Chủ Moldova cánh tả, cựu phó chủ tịch Quốc Hội, được coi là người giàu nhất Moldova. Plahotniuc cùng Ilan Shor, nhà tài phiệt Moldova, cựu chủ tịch đảng Sor thân Nga cánh hữu, hiện đang lưu vong tại Matxcơva, bị cáo buộc lừa đảo 1 tỉ euro. Cả hai đều chạy ra nước ngoài năm 2019 vì sợ bị bắt. Ilan Shor hiện bị cáo buộc đứng sau các tài trợ cho hoạt động đưa tin giả, tin bóp méo trên các mạng Facebook, TikTok, Telegram… Chống tin giả: Lần đầu tiên EU triển khai « Đội Phản ứng Nhanh » Lần đầu tiên Liên Âu triển khai Đội Phản ứng Nhanh chống lại cuộc chiến Hỗn hợp (Hybrid Rapid Response Team) để hỗ trợ một quốc gia, là Moldova, chống lại can thiệp của nước ngoài, từ đầu năm nay, với thành phần gồm nhóm chuyên gia từ Bruxelles và từ nhiều quốc gia thành viên. Vào tháng 6, Liên Âu họp với đại diện các tập đoàn truyền thông kỹ thuật số Google, Meta và TikTok cùng các cơ quan chức năng Moldova và các nhóm thuộc xã hội dân sự nước này để phối hợp đối phó với các chiến dịch thông tin sai lệch. Kể từ tháng 7/2025, Ủy Ban Châu Âu lập FACT, một chi nhánh khu vực thuộc Đài quan sát Truyền thông Kỹ thuật số Châu Âu (EDMO), tập trung vào việc chống các chiến dịch thông tin sai lệch của Nga trong kỳ bầu cử vừa qua tại Moldova. Chủ thuyết của Liên Âu : Kết nạp thành viên mới giúp « bảo đảm an ninh » Liên Hiệp Châu Âu hiện tại gồm 27 quốc gia thành viên. Tính từ Cộng đồng Kinh tế châu Âu, thành lập năm 1957, với 6 nước (Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg), được coi là tiền thân của Liên Âu, khối đã trải qua 7 đợt kết nạp. Việc mở rộng cho sự tham gia của các thành viên mới, về mặt nguyên tắc, được Liên Âu coi là điều giúp mang lại hòa bình và an ninh cho châu lục, thúc đẩy kinh tế, củng cố nền dân chủ, nhà nước pháp quyền, nhân quyền. Moldova và Ukraina, cùng Gruzia là ba quốc gia chính thức đệ đơn gia nhập Liên Âu ngay sau khi Nga tấn công Ukraina đầu năm 2022. Trong bối cảnh này, Ủy Ban Châu Âu tiếp tục coi việc mở rộng khối như một chiến lược không những là hàng đầu, mà còn có ý nghĩa sống còn với khối. Ủy viên châu Âu phụ trách việc kết nạp các thành viên mới, bà Marta Kos, nhận định : « Việc mở rộng Liên Âu là một yếu tố then chốt trong việc đảm bảo an ninh của châu Âu trong bối cảnh đối đầu leo thang giữa các chế độ dân chủ và độc tài. » (họp báo sau cuộc gặp của các bộ trưởng phụ trách các vấn đề Châu Âu đầu tháng 9/2025, tại Copenhagen). Ủy viên châu Âu phụ trách việc kết nạp các thành viên mới nhấn mạnh : « tiến trình mở rộng Liên Âu đã trở thành một phần của cuộc đối đầu địa-chính trị giữa các xã hội dân chủ tự do và các chế độ độc tài. Điều này được thể hiện rõ ràng và khắc nghiệt nhất ở Ukraina, cũng như qua các hình thức chiến tranh hỗn hợp, kín đáo hơn ở các quốc gia ứng cử viên khác, chẳng hạn như Cộng hòa Moldova ». Ủy viên phụ trách kết nạp khẳng định tiến trình gia nhập của Ukraina và Moldova đang tiến triển nhanh chóng, và Ủy Ban Châu Âu đang nỗ lực để thúc đẩy. Trắc nghiệm « khả năng đề kháng » của châu Âu trước Putin Sau chiến thắng của đảng cầm quyền chủ trương hội nhập Liên Âu, thủ tướng Ba Lan Donald Tusk phát biểu trên X: « Các vị đã ngăn chặn được nỗ lực của Nga kiểm soát toàn bộ khu vực. Một bài học tốt cho tất cả chúng ta. » Trước thềm bầu cử, một báo cáo của Hội đồng Đối ngoại châu Âu ECFR, nói rõ: « nếu các đảng phái hoặc nhóm đảng phái liên kết với điện Kremlin trúng cử, sẽ có rủi ro an ninh trực tiếp ở biên giới phía tây nam Ukraina và Nga sẽ có một căn cứ ở vùng trung tâm để tiến hành các hoạt động chống lại các nước Liên Âu ». Hội đồng Đối ngoại châu Âu giải thích: « Châu Âu nên xem Moldova như một nơi thử nghiệm khả năng đề kháng của chính mình (European resilience). Cuộc bầu cử này có thể mang đến cho Bruxelles cái nhìn sâu sắc và quý giá về các chiến thuật, các công cụ và các hệ quả từ các hoạt động của Matxcơva… Cơ hội để phản bác chiến lược tuyên truyền sai lệch và chiến tranh hỗn hợp của Nga ». Nga: Tham vọng phục hồi quyền lực tại nhiều vùng thuộc Liên Xô cũ Về mặt chính thức, chính quyền Nga không chống lại việc các nước nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Matxcơva gia nhập Liên Hiệp Châu Âu. Tuy nhiên, tham vọng của Matxcơva khôi phục ảnh hưởng, thậm chí chi phối trở lại các vùng thuộc Liên Xô trước đây là điều mà đông đảo giới quan sát ghi nhận. Cách nay hai năm, truyền thông Mỹ loan tải kế hoạch bí mật của cơ quan an ninh Nga FSB, đề ra chiến
Vào lúc Trung Quốc tăng cường các hoạt động hăm dọa quân sự xung quanh đảo Đài Loan, tổng thống Mỹ Donald Trump kể từ ngày nhậm chức đã có những cử chỉ gây áp lực với chính quyền Đài Bắc từ quốc phòng, kinh tế cho đến công nghệ. Điều này làm dấy lên nghi vấn : Liệu các bảo đảm về an ninh trong khuôn khổ Taiwan Relations Act mà Hoa Kỳ cung cấp cho Đài Loan vẫn sẽ vững chắc ? Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 2013, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có một mục tiêu : Thống nhất Trung Quốc bằng cách đặt Đài Loan dưới sự quản lý của Bắc Kinh, kể cả bằng vũ lực nếu cần thiết. Tuy nhiên, đảo Đài Loan, mà Trung Quốc coi như là một phần lãnh thổ, một tỉnh ly khai, từ năm 1979, được hưởng sự bảo vệ của Mỹ thông qua Taiwan Relations Act (Đạo luật Quan hệ Đài Loan). TRA : Hoàn cảnh ra đời Chính sách này của Mỹ đối với Đài Loan ra đời trong bối cảnh Washington công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, có thủ đô là Bắc Kinh, như là nước Trung Quốc duy nhất, quốc gia mà Mỹ thiết lập quan hệ chính thức. Theo Camille Grand, nhà nghiên cứu tại Hội đồng Châu Âu về Quan hệ Quốc tế (ECFR), cựu trợ lý tổng thư ký NATO, trên làn sóng France Culture ngày 18/07/2025, việc Hoa Kỳ tìm cách xích lại gần Trung Quốc của Mao Trạch Đông, ngoài mục tiêu chiến lược chống Liên Xô, còn thể hiện một cái nhìn thực tế chiến lược của Washington, « về một đất nước sắp có một tỷ dân so với một hòn đảo nhỏ dân tộc chủ nghĩa mà cơ may lấy lại quyền lực ở lục địa đã trở thành một điều khôi hài ». Tuy công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Washington vẫn muốn duy trì các mối quan hệ đồng minh tại vùng Thái Bình Dương, và do vậy Mỹ vẫn hiện diện tại Hàn Quốc, Nhật Bản, cũng như đúc kết một mối quan hệ với Đài Loan trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về an ninh, quốc phòng. Cũng trên làn sóng France Culture, chuyên gia về Trung Quốc, Alice Ekman, giám đốc nghiên cứu Viện Nghiên cứu An ninh Liên Hiệp Châu Âu, lưu ý TRA là một văn bản cho phép định hình hợp tác quốc phòng, nhưng không bảo đảm bất kỳ sự can thiệp quân sự nào của Mỹ nếu Đài Loan bị tấn công: «"Hoa Kỳ cam kết hỗ trợ duy trì hòa bình, an ninh và ổn định ở Tây Thái Bình Dương", như cách gọi vào thời điểm đó. Sau đó, mục 2, đoạn 2, đề nghị cung cấp cho Đài Loan "vũ khí phòng thủ cần thiết để đảm bảo sự ổn định và an ninh này". Rồi ở mục 3, tôi sẽ không đi sâu vào thủ tục và chi tiết, nhưng điều quan trọng là văn bản này cũng chính thức hóa việc bán vũ khí cho Đài Loan: "Hoa Kỳ cam kết cung cấp cho Đài Loan các mặt hàng quốc phòng và dịch vụ quốc phòng với số lượng đủ để đảm bảo khả năng tự vệ của Đài Loan" ». Trump II và những thách thức cho TRA Trong nhiệm kỳ I, tổng thống Trump đã để lại ấn tượng mạnh mẽ và tích cực đối với Đài Loan. Chính sách thuế quan và các quyết định hạn chế chuyển giao công nghệ của ông đã giúp Đài Loan đạt được mục tiêu mà họ theo đuổi từ gần hai thập niên : Đa dạng hóa đầu tư Đài Loan và dịch chuyển sang các quốc gia khác trong khu vực, đồng thời khuyến khích đưa một số nhà xưởng về đảo. Trong lĩnh vực quốc phòng, chính quyền Trump I cũng có những cử chỉ tích cực với doanh số bán vũ khí cho Đài Bắc đã đạt mức 18 tỷ đô la, so với con số 14 tỷ thời chính quyền Obama. Cũng trong nhiệm kỳ I, ông Trump còn ký Taiwan Travel Act (Đạo luật Du lịch Đài Loan) năm 2018, chấm dứt một số hạn chế trao đổi chính thức kể từ khi quan hệ bang giao bị cắt đứt năm 1979. Nhưng từ khi bắt đầu nhiệm kỳ II, mọi sự thay đổi. Tổng thống Trump có những phát biểu gay gắt đối với Đài Bắc, cho rằng hòn đảo này đã đánh cắp công nghệ chip bán dẫn, rằng Đài Loan phải tăng chi quốc phòng, và phải trả « phí bảo vệ » tương tự như một loại phí « bảo hiểm an ninh ». Và gần đây nhất, theo như tiết lộ của tờ Washington Post, tổng thống Mỹ dường như đã từ chối phê duyệt gói viện trợ quân sự cho Đài Loan trị giá hơn 400 triệu đô la. Gói viện trợ này bao gồm các mặt hàng như đạn dược và drone. Nhà Trắng tuyên bố rằng quyết định này vẫn chưa hoàn tất. Ngoài ra, hồi tháng 7/2025, ông Trump còn ngăn cản tổng thống Đài Loan trên đường đến thăm các nước bạn bè Trung Mỹ quá cảnh vào Mỹ sau khi có những phản đối từ Trung Quốc, khiến ông phải hủy chuyến đi. Trước đó, một tháng, Washington hủy một cuộc họp dự kiến tại Mỹ với bộ trưởng Quốc Phòng Đài Loan. Tất cả những động thái « bất thường » này của Mỹ đã làm dấy lên nỗi lo lắng : Chính sách bảo vệ Đài Loan của Mỹ có được bảo đảm dưới thời chính quyền Trump 2.0 ? Liệu những cử chỉ này của ông Trump có làm suy yếu « TRA » mà Mỹ cung cấp cho Đài Bắc ? Để trả lời những câu hỏi trên, nữ chuyên gia về Trung Quốc Alice Ekman, cho rằng nên xét đến vấn đề bán vũ khí. « TRA » là một văn bản chính thức hóa tính liên tục và nhu cầu cung cấp vũ khí cho Đài Loan. Câu hỏi đặt ra ở đây là bất chấp những áp lực từ Trung Quốc, tình hình bán vũ khí cho Đài Loan dưới thời Trump II ra sao ? « Vẫn còn quá sớm để biết được vì ông ấy chỉ mới bắt đầu nhiệm kỳ, nhưng người ta cũng đã bắt đầu có vài ước tính. Chính quyền Mỹ hy vọng sẽ đạt được thành tích như thời Trump I trên phương diện bán vũ khí. Nghĩa là, trong nhiệm kỳ I, họ đã phê duyệt các giao dịch bán vũ khí cho Đài Loan với tổng trị giá là 18 tỷ đô la và do vậy, họ hy vọng chí ít sẽ đạt được con số tương tự, thậm chí cao hơn. Để so sánh, dưới thời Biden, doanh số bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan đạt tổng cộng 8 tỷ đô la. Vì vậy, đây là điều thú vị nên xem xét đến, dù rằng người ta có ấn tượng là ông Trump chưa nói nhiều đến Đài Loan, thậm chí không hề nhắc đến hòn đảo này trong bài phát biểu nhậm chức ngày 20/01/2025. Nhưng điều tôi muốn nói là tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Hoa Kỳ sẽ thay đổi hướng đi liên quan đến Đài Loan kể từ đầu nhiệm kỳ của Trump. Điều tôi thấy, và tôi nghĩ nhiều nhà phân tích cũng thấy, là một cách tiếp cận mang tính giao dịch nhiều hơn, điều đó không có gì mới mẻ ». « TRA » : Đối tượng gây căng thẳng và áp lực Tuy nhiên, theo cách nhìn từ nhà nghiên cứu về an ninh Camille Grand, những phát biểu trên của tổng thống Trump còn là biểu hiện của những căng thẳng trong nội bộ chính trường Mỹ từ hai trường phái. Giữa một bên có sự đồng thuận lưỡng đảng xem cạnh tranh với Trung Quốc là một ưu tiên, trong đó Đài Loan là một trong những điểm nóng và do vậy, ủng hộ bảo đảm an ninh cho Đài Loan mạnh mẽ. « Và đây đặc biệt là quan điểm rất rõ ràng của Lầu Năm Góc, đề cập đến một phần lớn các công cụ quân sự của họ, vị thế của họ ở châu Á, trong trường hợp xảy ra khủng hoảng liên quan đến Đài Loan. Đây chính xác là những gì Bộ trưởng Quốc phòng Peter Hegseth đã phát biểu tại Singapore cách đây không lâu. Nhưng cũng có một xu hướng thứ hai trong phe Cộng hòa, nhìn chung theo chủ nghĩa biệt lập hơn, vì vậy họ rất thô bạo với châu Âu, với chủ trương "hãy tự lo liệu an ninh của mình", và cả trong bối cảnh châu Á, họ cũng nói với các đồng minh rằng, "nếu quý vị không tăng chi tiêu quốc phòng, nếu quý vị không tự lo cho an ninh của mình, chúng tôi sẽ xem xét những gì chúng tôi có thể sẽ làm". Và như vậy, với một thứ áp lực ngầm lên các đồng minh châu Á, dù là Nhật Bản, Hàn Quốc và nhất là Đài Loan hiện đang trên tuyến đầu do mối quan hệ an ninh kém vững chắc của họ, vì không có quân đội Mỹ thường trực, không có hiệp ước nào, như chúng tôi đã đề cập trước đó. » Ngoài ra, vì chỉ là một văn bản luật, không phải là một hiệp ước liên minh quân sự như ông Camille Grand đề cập ở trên, nên TRA luôn mang tính bất ổn và là đối tượng gây sức ép thường trực từ phía Đài Loan và Trung Quốc. Ông giải thích tiếp : « Một nhóm vận động hành lang của Đài Loan hoạt động rất mạnh mẽ - không phải theo nghĩa xấu - tại Washington, và nhóm này vẫn rất tích cực cho đến ngày nay, nhằm đảm bảo việc bảo vệ lợi ích của Đài Bắc trong các cuộc tranh luận tại Hoa Kỳ. Rồi còn có hoạt động của một nhóm vận động hành lang Trung Quốc, nhằm gây ảnh hưởng đến các quyết định của Mỹ ví dụ như chất lượng vũ khí được chuyển giao cho Đài Bắc, chiều sâu của mối quan hệ chính trị, v.v… » Trả lời phỏng vấn The Wall Street Journal, đại diện của Đài Loan tại Hoa Kỳ Alexander Tah Ray Yui khẳng định, trong vòng 10 năm qua, chi tiêu quốc phòng của Đài Loan tăng gần gấp đôi. Trong 8 năm, Đài Loan đã chi 26 tỷ đô la mua vũ khí, chủ yếu từ Mỹ. Và tổng thống Lại Thanh Đức cũng đã tuyên bố sẵn sàng tăng ít nhất 3% GDP cho quốc phòng. Đại diện Đài Loan tại Mỹ nói thêm một chi tiết : « Đã có 48 thông báo bán vũ khí từ Hoa Kỳ cho Đài Loan nhưng bất chấp một phần lớn trong ngân sách mà Đài Loan đã chi, những thiết bị đó vẫn chưa đến được Đài Loan vì nhiều lý do. Chúng tôi rất đánh giá cao việc Mỹ cung cấp những thiết bị này, nhưng điều quan trọng là tốc độ giao hàng mà những thiết bị này, vốn đã có sẵn trong kho, có thể được cung cấp cho Đài Loan ». Trung Quốc : Mối đe dọa hàng đầu Nhìn chung, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan là không thay đổi. Trong nhãn quan Hoa Kỳ, Trung Quốc vẫn là mối đe dọa hàng đầu. Chỉ có điều phương thức thực hiện có thể sẽ mang tính « giao dịch » nhiều hơn, theo như nhận xét của Alice Ekman. Đây còn là cách để Mỹ có thể tiếp tục hỗ trợ Đài Loan và tránh được sức ép từ Trung Quốc trong các cuộc đàm phán về thương mại, theo như nhận định từ Viện Nghiên cứu Chiến tranh (ISW), trụ sở tại Mỹ. Quyết định hủy bỏ gói viện trợ quân sự 400 triệu đô la, nếu được xác nhận, sẽ phù hợp với ưu tiên của chính quyền Trump đối với việc bán vũ khí quân sự hơn là viện trợ quân sự. Đài Loan đã đáp trả mong muốn này của Washington qua việc bày tỏ ý định tăng cường mua thiết bị quân sự Mỹ thông qua các giao dịch mua bán vũ khí với nước ngoài. Cử chỉ này của Đài Bắc đã được Washington ủng hộ mạnh mẽ. Và điều đó cũng đồng nghĩa với việc các yêu cầu mang tính cưỡng ép của Trung Quốc đối với Đài Loan chỉ có tác dụng hạn chế. Theo trang ISW, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua Đạo luật Quỹ Đồng minh Đài Loan và Đạo luật Sáu Đảm bảo với Đài Loan để bỏ phiếu vào ngày 18/09 trước khi được tổng thống ký thành luật. Văn bản thứ nhất quy định dành 120 triệu đô la cho giai đoạn 2026-2028 để trợ cấp các đồng minh ngoại giao và kinh tế của Đài Loan, chống lại sức ép kinh tế từ Trung
Quan hệ giữa Mỹ và Belarus, quốc gia thường được coi là hoàn toàn nằm trong quỹ đạo của điện Kremlin, có một số biến chuyển bất ngờ. Quan sát viên Mỹ được mời dự tập trận Zapad do Nga và Belarus chủ trì. Washington mở lại sứ quán tại Belarus. Trừng phạt với hãng hàng không quốc gia Belarus được dỡ bỏ sau khi Minsk thả hàng chục tù chính trị. Việc Mỹ và Belarus tốc lực bình thường hóa quan hệ có phải là một kịch bản nằm hoàn toàn trong lợi ích của chế độ Putin? Drone Nga xâm nhập lãnh thổ NATO, Mỹ được mời quan sát tập trận Zapad Ngay trước khi cuộc tập trận lớn Zapad 4 năm một lần, đêm 09/09/2025 khoảng 20 drone Nga xâm nhập lãnh thổ Ba Lan, quốc gia sườn đông của khối NATO. Đây là lần thứ 4 trong lịch sử liên minh phòng thủ NATO từ khi thành lập năm 1949, điều 4 Hiến chương của khối được một quốc gia thành viên kích hoạt để tham vấn các đồng minh. Lần đầu tiên chiến đấu cơ NATO được huy động để hủy diệt mục tiêu xâm nhập không phận của một thành viên. Chính trong bối cảnh đó, các quan sát viên quân đội Mỹ đã được mời tham dự cuộc tập trận Zapad vào hai ngày cuối, 15 và 16/09. Trước đó, ngày 11/09, chính quyền Minsk trả tự do cho 52 tù nhân nhiều quốc tịch, trong đó có 14 công dân nước ngoài và nhiều tù nhân chính trị Belarus, gồm cả ông Nikolai Statkevich, ứng cử viên tổng thống Belarus năm 2010 (người đã không chấp nhận đi ra nước ngoài, nên sau đó bị đưa trở lại nhà tù). Tuyên bố trả tự do cho tù nhân nói trên được đưa ra vào lúc luật sư John Coale, đặc sứ của tổng thống Trump, dẫn đầu một phái đoàn Mỹ đến Minsk. Cũng trong dịp này, phía Mỹ thông báo mở lại sứ quán tại Belarus, bị đóng cửa năm 2022 sau khi Nga xâm lược Ukraina, dùng Belarus làm bàn đạp tấn công Ukraina từ phía bắc. Trước đó, quan hệ giữa chính quyền Trump và Belarus đã có một bước tiến đáng kể. Hồi cuối tháng 6/2025, đặc phái viên của tổng thống Mỹ về Ukraina, ông Keith Kellogg, công du Belarus. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa một quan chức cấp cao Nhà Trắng và nhà độc tài Belarus từ 5 năm nay, và chuyến thăm đã « đánh dấu một bước ngoặt lớn » so với chính sách của tổng thống tiền nhiệm Joe Biden. Trong dịp này chế độ Lukashenko đã trả tự do cho 14 tù nhân chính trị Belarus, trong đó có ông Sergei Tikhanovsky, lãnh đạo đối lập, bị bắt giam khi cổ vũ cho phong trào biểu tình phản đối chính quyền trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2020. Ông Tikhanovsky là chồng của bà Sviatlana Tsikhanouskaya, lãnh đạo hiện tại của phong trào đối lập Belarus, tị nạn ở hải ngoại. Đọc thêm : Quốc Hội Belarus « hợp thức hóa » trấn áp phong trào đòi dân chủ Trước khi bay đi Alaska hội kiến với tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 15/08, ông Trump đã gọi điện cho tổng thống Lukashenko. Sau cuộc điện đàm, ông Trump gọi nhà độc tài Belarus, hiện không được các nước phương Tây công nhận sau cuộc bầu cử bị lên án là gian lận, là « vị tổng thống rất đáng kính », cho biết đã nhận lời mời thăm Belarus và « nóng lòng » gặp mặt đồng nhiệm. Vì sao Trump và chế độ Minsk nhanh chóng xích lại gần nhau ? Điểm chung bề ngoài có thể thấy rõ giữa tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà độc tài Belarus là hai bên có sự gặp gỡ về quan điểm trong việc ủng hộ việc tìm giải pháp cho việc chấm dứt chiến tranh Ukraina. Hãng thông tấn Nhà nước Belarus Belta, trong một bài viết hồi cuối tháng 8/2025 (« Lukashenko: Trump excelled as a mediator during Alaska talks / Tổng thống Belaurs : Trump là một nhà trung gian tuyệt vời tại cuộc đối thoại Alaska »), cho biết tổng thống Belarus đã ca ngợi lãnh đạo Mỹ, bênh vực cuộc thượng đỉnh Alakska, bị không ít người lên án là đã quá nhân nhượng Putin. Một chuyên gia hàng đầu về Belarus, ông Artyom Shraibman, trong một bài trả lời phỏng vấn, với chủ đề chính « Những gì diễn ra trong lòng Belarus » (What’s Going On Inside Belarus), đăng tải cuối tháng 8/2025 trên trang Carnegie Russia Eurasia Center, đã ghi nhận các nỗ lực bình thường hóa quan hệ Mỹ - Belarus diễn ra vào thời điểm mà các đàm phán giữa Mỹ và Nga nhằm tìm giải pháp chấm dứt xung đột Ukraina « rõ ràng đang bị đình trệ ». Đọc thêm : Hạn định 50 ngày với Nga và rủi ro bế tắc chính trị cho Donald Trump Tổng thống Trump đã tuyên bố chấm dứt chiến tranh 24 giờ sau khi nhậm chức, rồi sau đó triển hạn thêm 6 tháng. Nửa năm đã trôi qua, cuộc xung đột tiếp diễn. Không có gì cho thấy là Nga từ bỏ các tham vọng tối đa về Ukraina, như chiếm lĩnh nhiều vùng lãnh thổ của Ukraina, đòi Ukraina phi quân sự hóa. Theo chuyên gia Artyom Shraibman, trong lúc tổng thống Lukashenko tìm cách thoát thế cô lập, dùng việc trả tự do cho các tù nhân chính trị đổi lại việc dỡ bỏ trừng phạt, và cải thiện quan hệ với Mỹ, ông Trump muốn phá thế bế tắc trong các đàm phán với Nga về chấm dứt chiến tranh Ukraina, thông qua Belarus. Mỹ bình thường hoá quan hệ với Belarus : « Con đường vòng » để Washington bỏ cấm vận Nga ? Việc Mỹ đẩy nhanh việc bình thường hóa quan hệ với Belarus, quốc gia đàn em của Nga, được một số nhà quan sát xem như mang lại nhiều lợi thế cho điện Kremlin. Nhà báo Marie Jégo, của Le Monde, chuyên về Nga, cựu thông tín viên tại Matxcơva, trong bài « Sự nhượng bộ hoàn toàn của Trump đối với Putin », nêu bật : « Về những điều đã xảy ra, cá nhân tôi thấy khá là bất ngờ. Và đây là điều đã không được các chuyên gia và nhà quan sát thực sự chú ý. Đó là vụ xâm nhập bằng drone của Nga vào bầu trời Ba Lan, và chỉ một ngày sau sự kiện này, nước Mỹ đã cử một đặc phái viên đến Minsk. Mỹ đã đạt được thỏa thuận với nhà độc tài Lukashenko, người được Matxcơva coi là một quân cờ, và chính Belarus là nơi khởi nguồn của cuộc tấn công xâm lược Ukraina của Nga. Và từ Belarus, mà tên lửa đã bắn vào Ukraina. Belarus đã can dự rất nhiều vào cuộc chiến này. Vậy là người Mỹ đã đến đó chỉ một ngày sau sự kiện kinh hoàng drone Nga xâm nhập. Họ đã đến đó. Và đã có một cuộc đàm phán. Ông Lukashenko đã thả 52 tù nhân chính trị. Riêng điều này thì chúng tôi rất vui. Đây là điều tốt. Nhưng mặt khác, chính quyền Mỹ cũng cho biết họ đang dỡ bỏ các trừng phạt, đặc biệt là đối với lĩnh vực hàng không dân dụng của Belarus. Điều đó có nghĩa là Belarus giờ đây sẽ có thể nhận được phụ tùng thay thế từ hãng Boeing của Mỹ. Và nếu như Belarus được như vậy, thì Nga cũng sẽ là nước nhận được. Như vậy, có thể nói, đây là một con đường vòng để dỡ bỏ các trừng phạt Nga. » Đọc thêm : Mỹ « bình thường hóa » quan hệ với Nga: Ác mộng với châu Âu và Ukraina? Trang mạng chuyên về chính trị Quốc tế Politico.eu, có bài ghi nhận về « nguy cơ tan vỡ » của mặt trận Mỹ - Âu trừng phạt Nga. Minsk với thế đi dây một thời giữa nước Nga Putin và châu Âu dân chủ Trước cuộc xâm lăng Ukraina của Nga, kể từ khi lên cầm quyền năm 1994, tổng thống Belarus đã xây dựng chiến lược cân bằng giữa hai đối cực, giữa nước Nga của Putin và châu Âu dân chủ. Chế độ Lukashenko đã lợi dụng vị thế địa-chiến lược đặc biệt nằm ở giữa Liên Âu và Nga để thực thi chính sách « đi dây ». Belarus phụ thuộc vào Nga về năng lượng, quân sự và chính trị, nhưng mặt khác chính sách cởi mở có chọn lọc của quốc gia thành viên Liên Xô cũ này với Liên Âu đã giúp cho Minsk được nhiều lợi thế về kinh tế. Chuyên gia về Belarus, Artyom Shraibman, trên Carnegie Endowment for International Peace, trong bài « Not So Quiet on the Eastern Front: Elements of a Risk Management Strategy Toward Belarus » (Mặt trận phía Đông không quá yên tĩnh: Một số đề xuất về chiến lược quản lý rủi ro đối với Belarus) (6/2025) ghi nhận : « Cho đến năm 2020 (tức trước cuộc bầu cử tổng thống bị lên án là gian lận), ông Lukashenko đã tìm cách duy trì thế cân bằng mong manh của Belarus giữa phương Tây và Nga, đòi phần thưởng từ mỗi bên để đổi lấy việc không xích lại gần bên kia. Chìa khóa cho chiến thuật này là khả năng của Minsk trong việc xử lý mối quan hệ với Nga như một con lắc (pendulum). Sự linh hoạt đó đã đột ngột chấm dứt do mối quan hệ gần như hoàn toàn đổ vỡ với phương Tây sau khi chính quyền Lukashenko đàn áp dữ dội các cuộc biểu tình lớn ở Belarus vào mùa hè năm 2020. Kể từ đó, con lắc Belarus bị kẹt hoàn toàn trong vùng kiểm soát của Nga. » Đọc thêm : Càng bị phương Tây cô lập, Belarus càng lệ thuộc vào người "anh cả" Nga Châu Âu cần ứng xử thế nào với « con lắc Lukashenko » ? Kể từ khi Nga xâm lược Ukraina, « con lắc » Belarus hoàn toàn bị kẹt trong vùng kiểm soát của Nga. Câu hỏi đặt ra là sau các động thái bình thường hóa quan hệ mới đây từ phía Mỹ, liệu chế độ Lukashenko có trở lại với hành xử kiểu « con lắc »? Cho đến nay Liên Âu duy trì chính sách rất cứng rắn với chế độ Minsk, không công nhận Lukashenko là tổng thống Belarus, và coi Belarus là quốc gia đồng lõa với Nga trong cuộc xâm lăng Ukraina. Liên Âu ủng hộ đối lập Belarus lưu vong và có chính sách hậu thuẫn xã hội dân sự Belarus trong tiến trình chuyển tiếp sang chế độ dân chủ, đã bị cuộc đàn áp mùa hè 2020 của chế độ Lukashenko chặn đứng. Hiện tại, hơn 1.200 nhà hoạt động Belarus vẫn bị giam giữ. Đối lập Belarus cảnh báo các nước phương Tây, trước hết là châu Âu, không để Minsk lợi dụng thủ đoạn thả tù nhân nhỏ giọt theo mặc cả với Mỹ, để đánh bóng hình ảnh. Đọc thêm : Tổng thống Belarus Lukashenko "khó xử" vì chiến tranh Ukraina Tuy nhiên, 5 năm sau cuộc bầu cử tổng thống Belarus không được phương Tây công nhận, gần 4 năm kể khi Nga xâm lược Ukraina, quan hệ giữa châu Âu và chế độ Putin ở mức căng thẳng chưa từng có. Belarus không những có thể được Nga dùng làm bàn đạp tấn công Ukraina một lần nữa, mà có thể được dùng để tấn công chính các thành viên NATO châu Âu. Chuyên gia về Belarus, Artyom Shraibman, lưu ý châu Âu cần chủ động xây dựng một chiến lược khéo léo với Minsk, để không bị Mỹ đẩy vào thế bị động trong quan hệ với Belarus (bài « Trump serves Lukashenko a welcome aperitif and pressur on Europe / Trump đãi Lukashenko món khai vị và gây áp lực lên châu Âu », ngày 22/09/2025). Để làm được điều đó, theo vị chuyên gia này, không nên đi theo định kiến cho rằng Belarus hoàn toàn là « tay sai », nhất nhất hành xử theo mệnh lệnh của điện Kremlin. Đọc thêm : Belarus lo chiến tranh hạt nhân, nhưng khẳng định sẽ tiếp nhận vũ khí hạt nhân "chiến lược
Ngày 28/08/2025, Anh, Pháp và Đức đã dọa kích hoạt cơ chế tái áp đặt các lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Quốc, còn được gọi là « snapback », vào lúc thỏa thuận về hạt nhân Iran ký kết 2015 sắp hết hiệu lực ngày 18/10/2025. Nhưng ít ai biết rằng, trong quá khứ, một số nước phương Tây, đặc biệt là Pháp, đã từng đóng góp tích cực vào việc khai sinh chương trình hạt nhân Iran. Một mảng tối khác trong mối quan hệ căng thẳng giữa Iran và phương Tây. Ngược dòng thời gian, vào năm 1957, vào lúc châu Âu đang vực dậy từ nỗi kinh hoàng của Đệ Nhị Thế Chiến, Iran, dưới sự trị vì của vua Mohammad Reza Pahlavi, đã bắt tay vào việc tìm kiếm năng lượng nguyên tử. Quốc vương Iran lo sợ rằng dầu hỏa mà đất nước phụ thuộc một ngày nào đó sẽ cạn kiệt và do vậy phải tìm kiếm một giải pháp thay thế. Atome For Peace : Đổi hạt nhân lấy dầu lửa Một dự án điện hạt nhân dân sự được hình thành qua sự trợ giúp của chương trình « Atom for Peace – Nguyên tử vì hòa bình », do tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower khởi xướng từ năm 1953. Cũng như nhiều nước thành viên khác của chương trình, Iran cam kết giới hạn sử dụng hạt nhân cho mục đích hòa bình. Đổi lại, Hoa Kỳ đào tạo các nhà khoa học Iran và cung cấp các trang thiết bị cho Teheran, bao gồm lò phản ứng nghiên cứu được thiết kế vào năm 1967 để sản xuất đồng vị phóng xạ dùng trong y tế. Quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa hai nước kéo dài cho đến cuối những năm 1970. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn dành cho Viện Nghe nhìn Quốc gia Pháp (INA), vào tháng 12/2022, nhà nghiên cứu Heloise Fayet, chuyên gia về phổ biến hạt nhân Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI) giải thích « trong những năm 1950, dưới thời quốc vương Iran, mối quan hệ giữa Mỹ và Iran rất bền chặt. Hoa Kỳ đã đưa Iran vào chương trình Atom For Peace (Nguyên tử vì hòa bình), được sử dụng để phát triển chương trình hạt nhân dân sự cho Iran, để đổi lấy dầu lửa và sự bảo đảm rằng quốc gia này sẽ duy trì một chế độ ổn định gần gũi với Hoa Kỳ ». Tuy nhiên, vào lúc diễn ra Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ ngày càng lo lắng khi thấy xuất hiện nhiều cường quốc hạt nhân khác. Chương trình « Nguyên tử vì hòa bình » có nguy cơ phản tác dụng. Năm 1968, Iran gia nhập Hiệp ước Không phổ biến Hạt nhân TNP và đặt các cơ sở hạt nhân của mình dưới sự giám sát của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (AIEA). Nhưng quốc vương Iran có tham vọng xây thêm 20 lò phản ứng, đồng thời bày tỏ quan tâm đối với một số công nghệ. Điều này đã khiến Mỹ lo ngại, nhất là đối với kỹ thuật tách rời plutonium hoặc làm giầu uranium. Mặc dù mục tiêu nêu ra vẫn mang tính dân sự, Washington nghi ngờ vua Iran âm thầm thèm khát vũ khí nguyên tử. Clément Therme, giáo viên tại Đại học Paul-Valéry tại Montpellier, trong chương trình Giải Mã (19/05/2025) của kênh truyền hình ARTE nhắc lại, « ngay từ tháng 12/1975, Cơ quan Tình báo Mỹ (CIA) đã đánh giá rằng Iran rất có thể sẽ trang bị hệ thống vũ khí hạt nhân vào năm 1985. Vì vậy, ngay từ những năm 1970, đã có những nghi vấn về mục đích dân sự hay quân sự của chương trình Iran ». Pháp, Đức thay chân Mỹ Trước mối ngờ vực từ Mỹ, quốc vương Iran chuyển hướng tìm kiếm các đối tác châu Âu, được đánh giá là « ít quan tâm » đến những vấn đề được nêu trên, theo như nhận định của François Nicoullaud, cựu đại sứ Pháp ở Téhéran, trong bài viết đề tựa « La France et la négociation avec l’Iran » (Pháp và cuộc đàm phán với Iran). Pháp và Tây Đức thời đó đang chạy theo vàng đen của Iran. Cú sốc dầu hỏa năm 1973 biến Teheran thành một đối tác thiết yếu và ưu tiên cho Paris. Trong một bài giải thích, trang RFI tiếng Pháp nhắc lại, ngay từ năm 1974, bộ trưởng Tài Chính lúc bấy giờ là Jean-Pierre Fourcade đã ký kết rất nhiều hợp đồng với Iran để bảo đảm nguồn cung dầu khí cho đất nước. Teheran là nhà cung cấp nhiên liệu thứ hai cho Paris. « Chuyến thăm của Quốc vương tới Marcoule có ý nghĩa quan trọng hơn sau thông báo đặt xây năm nhà máy điện hạt nhân được xác nhận hôm qua và các thỏa thuận liên quan đến việc cung cấp uranium làm giàu cho Iran. » (France 2 ngày 25/06/1974) Trên đây là lời bình của bản tin lúc 20 giờ kênh truyền hình Pháp France 2 ngày 25/06/1974, nhân chuyến thăm của quốc vương Iran đến Pháp và trung tâm khai thác điện hạt nhân ở Marcoule vùng Gard, đông nam Pháp. Được xây dựng vào năm 1956, cơ sở công nghiệp này từng là mũi nhọn cho ngành năng lượng hạt nhân Pháp, cả về sản xuất điện lẫn sử dụng cho mục đích quân sự. Với hợp đồng trị giá gần 5 tỷ đô la – một khoản tiền « khổng lồ » theo như tuyên bố của bộ trưởng Tài Chính Jean-Pierre Fourcade – Pháp thay thế Mỹ trong lĩnh vực hạt nhân bất chấp những ngờ vực của Washington. Paris cam kết đào tạo nhân sự và cung cấp các nhà máy điện hạt nhân cho Teheran như hai lò phản ứng tại Ahvaz miền nam Iran do tập đoàn Framatome của Pháp xây dựng. Nước Đức cũng không kém cạnh. KraftWerk Union, một chi nhánh của tập đoàn năng lượng Siemens, trúng thầu xây dựng hai lò phản ứng hạt nhân ở Bushehr, miền nam Iran, trị giá 7,8 tỷ mác Đức. Chính quyền Berlin còn ký kết một thỏa thuận về hợp tác hạt nhân với vua Iran, tương tự như « hợp đồng thế kỷ », được ký một năm trước đó với Brazil. Cổ đông Eurodif : Tham vọng hạt nhân của vua Iran ? Tuy nhiên, việc các nước đồng minh mới châu Âu có những hứa hẹn tham gia tích cực vào chương trình phát triển hạt nhân Iran càng củng cố hơn nỗi lo lắng từ Mỹ. Không những vua Iran tự cung cấp phương tiện cho các tham vọng của mình và cùng với những thỏa thuận khác nhau, quốc vương Mohammad Reza còn biến nước ông thành một trong những nhà đầu tư chính cho ngành hạt nhân Pháp. Trong khuôn khổ thỏa thuận hợp tác đầu tư Eurodif - European Gaseous Diffusion Uranium Enrichissement Consortium - quốc vương Iran cho Pháp vay một tỷ đô la để xây dựng nhà máy làm giầu chất uranium Tricastin và sở hữu 10% vốn của Eurodif. Đổi lại, Iran bảo đảm lấy đi 10% chất uranium làm giầu do Eurodif sản xuất. Nhìn lại lịch sử, người ta không khỏi đặt nghi vấn về ý định quân sự của vua Iran. Một công nghệ « lưỡng dụng » uranium làm giàu có thể được sử dụng cả cho các nhà máy điện hạt nhân lẫn các đầu đạn được chế tạo theo mô hình Little Boy, từng được sử dụng để san bằng Hiroshima. Trong cuộc chạy đua vũ trang thời Chiến Tranh Lạnh, liệu quốc vương Iran có muốn trang bị vũ khí hạt nhân cho đất nước mình hay không ? Theo báo Pháp Le Monde, ngày 20/07/2025, trong bài viết dài đề tựa « Khi Pháp hứa hẹn uranium làm giầu cho Iran, nguồn cội của một hiệp ước hạt nhân đáng nguyền rủa », Akbar Etemad, chủ tịch Tổ chức Năng lượng Nguyên tử Iran (1974 – 1978) trước ống kính trong một bộ phim tài liệu của France 2 phát sóng ngày 08/10/2017, kể lại ông đã chất vấn Quốc vương như thế nào: « Liệu chúng ta có thể cân nhắc phương án quân sự hay không ? Ông ấy nói với tôi là 'Tại sao không?' Tôi hiểu rằng nhiệm vụ của tôi là phát triển tất cả các công nghệ cần thiết để sẵn sàng triển khai bom hạt nhân ». Vào thời điểm đó, Mohammad Reza Pahlavi khẳng định ông không cần đến bom nguyên tử. Dù không thể chắc chắn, châu Âu đã tin lời ông. Ngoại trưởng Pháp Jean-François Poncet (1978 – 1981), trong một chương trình phim tài liệu của kênh ARTE, khẳng định rằng, « tất cả các biện pháp phòng ngừa luôn được đặt ra để đảm bảo những gì chúng tôi thực hiện về phát triển hạt nhân với Iran sẽ không được sử dụng cho mục đích quân sự. » Cách mạng Hồi giáo 1979 và các cuộc khủng hoảng Pháp - Iran Nhưng cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979 bùng nổ, buộc vua Iran phải sống lưu vong, chương trình hạt nhân của ông cũng tan theo. Đại giáo chủ Khomeini lên cầm quyền và chính quyền mới cho ngưng tất cả các hợp đồng xây dựng nhà máy điện hạt nhân, cũng như mua chất uranium. Hai tập đoàn Framatome của Pháp và KWU của Đức chấm dứt công trình và cho hồi hương các nhân viên. Ngoài ra, Teheran còn đòi Paris phải hoàn trả tiền vay, một đòi hỏi mà Pháp đã từ chối khi cho rằng chế độ Iran mới không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ được đặt ra với tư cách là một cổ đông của dự án. Nhưng cử chỉ này của Pháp đã bị nước Cộng hòa Hồi giáo xem như là một hành động đối đầu. Xung đột Iran – Irak nổ ra còn làm cho căng thẳng giữa Teheran và Paris thêm căng thẳng. Trong nhiều năm sau đó, Iran tiến hành một loạt hoạt động chống Pháp như bắt cóc và giam giữ các nhà báo và nhà ngoại giao Pháp tại Liban trong những điều kiện tệ hại. Iran đòi Pháp phải hoàn trả số nợ vay cũng như ngưng cung cấp vũ khí cho chế độ Saddam Hussein. Pháp trở thành mục tiêu tấn công của Iran. Nhiều vụ tấn công khủng bố đã xảy ra tại Pháp trong thập niên 1980 mà Iran bị cáo buộc là chủ mưu. Năm 1988, sau nhiều năm bị giam cầm ở Liban, các con tin Pháp được thả. Phần lớn khoản nợ vay của Eurodif cuối cùng đã được trả cho Iran như là tiền chuộc. Về mặt chính thức,tranh chấp đã được giải quyết xong ba năm sau đó, vào năm 1991, sau khi Pháp đổ thêm một tỷ đô la cho Cộng hòa Hồi giáo Iran. Chỉ vừa mới được bình thường hóa, quan hệ giữa Iran và phương Tây một lần nữa trở nên căng thẳng. Vào đầu những năm 2000, qua sự tố giác của một nhóm người Iran phản đối chế độ, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế AIEA phát hiện nhiều cơ sở hạt nhân bí mật của Iran, đặc biệt là các cơ sở ở Natanz và Arak, miền trung đất nước. Một chương căng thẳng mới lại bắt đầu và kéo dài đến tận ngày nay. Các cuộc đàm phán rơi vào bế tắc kể từ khi tổng thống Mỹ Donald Trump trong nhiệm kỳ I rút Hoa Kỳ ra khỏi Thỏa thuận hạt nhân Vienna 2015. RFI Tiếng Việt sẽ tiếp tục trình bày chủ đề này trong một dịp khác. Tóm lại, như thừa nhận của ông Javad Vaeedi, nhà đàm phán Iran giai đoạn 2005-2009, với kênh truyền hình ARTE, « chương trình hạt nhân Iran đã được hình thành nhờ vào sự hợp tác với Mỹ, rồi Pháp cả trong khuôn khổ trao đổi sinh viên và cả trong việc hình thành các cơ sở hạ tầng có liên quan đến chương trình hạt nhân Iran ». (Nguồn INA, ARTE, RFI, Le Monde)
Tám tháng kể từ khi Donald Trump trở lại nắm quyền, cuộc xâm lăng Ukraina của Nga không có dấu hiệu chấm dứt bất chấp các vận động ngoại giao của tổng thống Mỹ, được quảng bá rầm rộ là có thể làm thay đổi lập trường của điện Kremlin. Vào lúc khả năng đạt được ngừng bắn tại Ukraina trở nên xa vời, châu Âu bị Nga lên án làm « thất bại » các nỗ lực hướng đến hòa bình. Phe cầm quyền tại Mỹ đòi hỏi châu Âu đóng góp nhiều hơn nữa trong hồ sơ Ukraina. Mỹ và Nga đổ dồn trách nhiệm lên châu Âu trong vấn đề chiến tranh Ukraina như thế nào ? Lối thoát nào với châu Âu trong tình thế nhiều phần bế tắc hiện nay ? *** Ngày 04/09/2025, hơn 30 quốc gia thuộc « Liên minh tình nguyện » bảo đảm an ninh cho Ukraina họp tại Paris và trực tuyến dưới sự chủ tọa của tổng thống Pháp và thủ tướng Anh. Sau hội nghị này, 26 quốc gia cam kết sẽ triển khai lực lượng tại Ukraina để bảo đảm an ninh một khi xung đột chấm dứt. « Liên minh tình nguyện » đã được gấp rút lập ra theo sáng kiến của Pháp và Anh, trong bối cảnh tân chính quyền Trump đe dọa đàm phán riêng rẽ với Nga về chiến tranh Ukraina, và để ngỏ khả năng không tuân thủ điều 5 của Hiến chương NATO, cam kết bảo vệ các đồng minh. « Lực lượng bảo đảm an ninh » cho Ukraina : « Chiếc vé » giúp châu Âu tham gia đàm phán ? Châu Âu lên tuyến đầu. Việc thành lập « Liên minh tình nguyện » giúp châu Âu khẳng định vị thế. Trả lời phỏng vấn đài France Info, hồi đầu tháng 5/2025, chuyên gia Jean de Gliniasty, cựu đại sứ Pháp tại Nga, giám đốc nghiên cứu Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), nhận định : Liên minh tình nguyện từng được coi như một « chiếc vé » vào cửa, cho phép Châu Âu có chỗ tại bàn đàm phán về giải pháp chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, đây là một chiếc vé bấp bênh bởi phụ thuộc hoàn toàn vào thái độ của Mỹ: « Vậy là ở đây chúng ta từng có một thứ như kiểu vé vào cửa. Ông Trump đã từng nói châu Âu ‘‘bất tài’’ và ‘‘không có vé vào cửa’’, không có chỗ ngồi ở bàn đàm phán. Mà cái vé vào cửa mà chúng ta có thể có, đó chính là mang lại ‘‘các bảo đảm an ninh’’. Bởi vì chính Mỹ cũng đã nói họ sẽ không đưa một binh sĩ nào đến để bảo vệ Ukraina, và việc đảm bảo an ninh phải do chính người châu Âu lo liệu. Chính vì thế mà châu Âu đã thực thi một chút nghĩa vụ của mình. Hiện có 30 quốc gia châu Âu sẵn sàng đưa quân đến để đảm bảo an ninh cho Ukraina. Nhưng Nga cho rằng những ‘‘bảo đảm an ninh’’ do Pháp và châu Âu đưa ra thực chất là với tư cách đồng minh của Ukraina, và như vậy là thù địch với Nga. Vì thế, họ không muốn. Thực ra chúng ta đang rơi vào bế tắc, và hiện tại chúng ta đã không còn ‘‘vé vào cửa’’ bàn đàm phán nữa ». Bốn tháng sau, vào thời điểm Liên minh tình nguyện được khẳng định mạnh mẽ hơn với cuộc họp tại Paris hôm 4/9, vẫn chuyên gia Jean de Gliniasty ghi nhận : « chiếc vé » vào bàn đàm phán của châu Âu vẫn « tạm thời bị đình chỉ », để chờ đợi các kết quả thương lượng giữa Mỹ và Nga. Vị thế « chiếu dưới » của châu Âu và cuộc phản công ngoại giao của Nga « hậu thượng đỉnh Alaska » Xin nhắc lại là ít tháng trước khi chiến tranh Ukraina bùng nổ, trong bối cảnh Nga liên tục khẳng định muốn thương thuyết lại với phương Tây về việc khối NATO mở rộng về phía đông, và việc triển khai các hệ thống vũ khí tối tân tại nhiều nước láng giềng với Nga, các nước châu Âu đã gần như không có tiếng nói gì trong hồ sơ này. Chiến tranh bùng nổ, châu Âu bừng tỉnh, nỗ lực ban hành các biện pháp trừng phạt Nga, cùng với Mỹ, hậu thuẫn Ukraina về quân sự và nhiều mặt. Tuy nhiên, về các đàm phán chấm dứt chiến tranh, nhìn chung châu Âu không có tiếng nói. Nói một cách khác, châu Âu vốn phụ thuộc nặng nề vào Mỹ về mặt đảm bảo an ninh cho chính châu Âu, nên luôn ở vị thế chiếu dưới, khó có thể nào có được một vị trí đáng kể trong các thương lượng về viễn cảnh chấm dứt chiến tranh Ukraina kể từ khi chiến tranh bùng nổ. Không những thế, sau cuộc thượng đỉnh Trump – Putin tại Alaska, Mỹ, ngày 15/08/2025, chế độ Putin thoát khỏi thế cô lập tương đối về ngoại giao, đã tranh thủ cơ hội để phản công châu Âu. Nga đổ lỗi cho châu Âu về bất kỳ thất bại nào trong các đàm phán tương lai, cáo buộc châu Âu trở thành « trở ngại chính » do thúc đẩy đối đầu về ý thức hệ, trong lúc Trump và Putin nỗ lực tìm kiếm một thỏa thuận. Nhật báo thân điện Kremlin Izvestia mỉa mai « Bruxelles và Kiev đang thành trở ngại chính cho hòa bình ». Một nguồn tin gần gũi với điện Kremlin tung ra quan điểm « lần đầu tiên, có một cơ hội thực sự để bắt đầu đàm phán với Ukraina và châu Âu về tất cả các vấn đề cần giải quyết để chấm dứt chiến tranh, thế nhưng giờ đây xuất hiện một vấn đề nan giải thực sự đối với châu Âu, đang mắc kẹt trong ngõ cụt về tư tưởng. Đó là họ đang bảo vệ những nguyên tắc trừu tượng trong khi hàng trăm nghìn người đã bỏ mạng trong chiến tranh. Cuộc chiến mà Kiev đã thua trên thực tế cần phải được chấm dứt, chứ không phải cứ tiếp tục cho đến khi Ukraina bị hủy diệt hoàn toàn ». Tổng thống Nga « hy vọng châu Âu sẽ không cố gắng phá hoại tiến trình này bằng những hành động khiêu khích hoặc những âm mưu trong hậu trường ». Người phát ngôn của bộ Ngoại Giao Nga Maria Zakharova mỉa mai : « Tinh thần đồng đội của ‘‘liên minh’’ Starmer-Macron-Merz-Rutte-von der Leyen (tức các lãnh đạo Anh, Pháp, Đức, NATO và Ủy Ban Châu Âu), vẫn tỏ ra hung hăng trong cuộc đối đầu với Nga, Ukraina đã bị họ biến thành một con tin đắt giá ». Trump mềm mỏng với Nga, điện Kremlin không khoan nhượng: Châu Âu kẹt giữa hai làn đạn Chính sách của tổng thống Mỹ thúc đẩy đàm phán ngoại giao với Nga từng được coi là mang lại hy vọng cho việc chấm dứt chiến tranh Ukraina trong thời gian ông Trump mới lên cầm quyền, như ghi nhận của cựu đại sứ Jean de Gliniasty : « Chúng ta đang ở thời điểm giữa chừng của một cuộc vận động ngoại giao kiểu truyền thống, tức là ngoại giao “từng bước nhỏ”, giống như những gì chúng ta đã chứng kiến sau cuộc Chiến tranh Kippur tháng 10/1973 (liên quân Ai Cập và Syria tấn công Israel), khi ngoại trưởng Mỹ Kissinger đã phải đi đi lại lại khoảng 15 lần giữa Tel-Aviv, Jerusalem và Cairo, đi qua đi lại giữa các bên, và mỗi lần như vậy đều mang về những tiến bộ rất nhỏ, nhưng cuối cùng thì đã thành công. Và thực ra, người Mỹ cũng rất giỏi trong việc này, đó là một truyền thống ngoại giao của họ. Vì vậy, chúng ta đang trong một tiến trình ngoại giao “tàu con thoi” và “từng bước nhỏ”, và tôi cho rằng chúng ta có thể hy vọng rằng cuối cùng nỗ lực này sẽ đạt được kết quả. » Cựu đại sứ Pháp Pierre Vimont, nguyên tổng thư ký điều hành của cơ quan đối ngoại Liên Âu (2010-2015), tức nhân vật số hai của ngành ngoại giao Liên Âu, đã sớm cảnh báo về nguy cơ các nước châu Âu bị kẹt giữa hai làn đạn của Mỹ và của Nga, trong bối cảnh tổng thống Donald Trump rất có thể sẽ có nhiều nhân nhượng với Matxcơva : « Điều gây phiền toái hơn cho tất cả chúng ta, những người châu Âu, là liệu Trump có nhượng bộ thêm Putin để đạt được một thỏa thuận ngừng bắn quan trọng hơn hay không. Như quý vị biết, hầu hết những yêu cầu mà Putin đưa ra đều rất khó có thể dung hòa với quan điểm và lợi ích của châu Âu. Ví dụ như Ukraina trung lập và phi quân sự hóa, Ukraina không được gia nhập NATO, hay không có sự hiện diện của quân đội châu Âu tại Ukraina, châu Âu không tiếp tục viện trợ quân sự cho Ukraina, v.v. Vì vậy, chúng ta đang ở trong một tình thế mà nếu ông Trump nhượng bộ cho tổng thống Nga một hoặc một số yêu cầu nào đó, thì chúng ta — những người châu Âu — sẽ lâm vào thế khó. Chúng ta sẽ phải nói rằng chúng ta không đồng ý và không chấp nhận những đề xuất này, và như vậy, chúng ta sẽ bị coi là bên cản trở tiến trình đạt được thỏa thuận ngừng bắn, mở ra viễn cảnh giải quyết xung đột. » Trên đây là trích đoạn bài « L'Europe au défi de la nouvelle administration Trump / Châu Âu trước thách thức của chính quyền Trump », chương trình phỏng vấn chuyên gia của Viện Quan hệ Quốc tế Pháp IFRI, trong mục « Thế giới theo IFRI », tháng 5/2025. Ukraina: Tâm điểm cạnh tranh toàn cầu thời « hậu Chiến tranh Lạnh » Cuộc chiến Nga xâm lược Ukraina không đơn giản là cuộc chiến tranh của một quốc gia này chống lại một quốc gia khác. Cuộc chiến với những cội nguồn phức tạp này là kết tinh của những tranh chấp mang tính toàn cầu của thế giới thời kỳ hậu chiến tranh Lạnh. Vấn đề Ukraina, đế chế Nga, và lục địa Á – Âu (Eurasie) được nêu bật trong tác phẩm « Bàn Cờ Đại Chiến lược toàn cầu : Quyền lực tối thượng của nước Mỹ và những mệnh lệnh địa chiến lược đi kèm » (The Grand Chessboard: American Primacy and Its Geostrategic Imperatives) (xuất bản năm 1997), của chiến lược gia Mỹ Zbigniew Brzezinski (1928–2017), người gốc Ba Lan, cố vấn an ninh quốc gia thời tổng thống Jimmy Carter. Ukraina là một quân cờ căn bản của « Bàn cờ đại chiến lược toàn cầu ». Chiến lược gia người Mỹ được gợi cảm hứng từ nhà địa-chính trị người Anh đầu thế kỉ 20 Halford J. Mackinder, với tư tưởng : Ai kiểm soát được khu vực Đông Âu sẽ thống trị vùng trung tâm (hearthland), ai cai trị vùng trung tâm sẽ thống trị lục địa Á-Âu, ai cai trị lục địa Á-Âu thì sẽ thống trị thế giới. Trong tác phẩm Bàn Cờ Đại Chiến lược toàn cầu, chiến lược gia Mỹ dự đoán : « Việc NATO không thể mở rộng bất chấp những nỗ lực của Mỹ có thể khơi dậy những tham vọng lớn nhất của Nga ». Tổng thống Nga và các cộng sự thường xuyên cáo buộc : Mỹ nỗ lực tách Nga khỏi các quốc gia bao quanh Nga từng tạo nên Liên Xô trước đây (bài « Ce livre qui a inspiré Poutine / Cuốn sách mang lại nhiều tưởng cho Putin » Le Point). Trên thực tế, chế độ Putin cũng đã coi Ukraina là một thành tố không thể thiếu của một nước Nga hùng mạnh. Cuộc tấn công Ukraina diễn ra sau khi Matxcơva hoàn tất lý thuyết về một « thế giới Nga », bao gồm Ukraina. « Thế giới Nga » (Rousski Mir), không bị giới hạn trong biên giới quốc gia của nước Nga, được nhiều nhà quan sát xem như là một nỗ lực khôi phục đế chế Nga của chính quyền Putin. Đọc thêm : Chính Thống Giáo Nga và "Thế giới Nga" Để thoát cái bóng của Mỹ: Châu Âu cần đối thoại với Nga, xây dựng lập trường chung với Ukraina…. Đối mặt với các tham vọng địa chính trị nói trên của Nga trong bối cảnh thế đối đầu giữa phương
Ngày 03/09/2025, tiếp đồng nhiệm Ukraina Volodymyr Zelensky, một ngày trước khi diễn ra hội nghị « Liên minh các nước tình nguyện », tổng thống Pháp Emmanuel Macron tuyên bố, châu Âu « sẵn sàng cung cấp các bảo đảm an ninh cho Ukraina và người dân Ukraina vào ngày mà thỏa thuận hòa bình sẽ được ký kết ». Đây cũng là những gì Kiev muốn đạt được trước khi bước vào một cuộc đàm phán hòa bình (nếu có) với Matxcơva. Chưa có lúc nào nỗi ám ảnh về thất bại Bị Vong Lục Budapest 1994 mạnh mẽ như lúc này đối với Kiev và người dân Ukraina. Ngược dòng thời gian, vào ngày 05/12/1994, ba năm sau khi tuyên bố độc lập và dưới áp lực mạnh ngoại giao, Kiev cùng với Liên bang Nga, Hoa Kỳ và Anh Quốc ký kết Bị Vong Lục tại Budapest, Hungary. Nỗi lo nguy cơ phổ biến hạt nhân hơn là an ninh Ukraina Theo đó, Ukraina chấp nhận chuyển giao toàn bộ kho vũ khí hạt nhân được cất trữ trên lãnh thổ cho Nga, bao gồm khoảng 1.900 đầu đạn chiến lược và 2.500 vũ khí chiến thuật tức chiếm đến gần 10% kho vũ khí Xô Viết. Đổi lại, các bên tham gia cam kết « tôn trọng nền độc lập, quyền chủ quyền và các đường biên giới hiện hữu của Ukraina » và « tránh sử dụng hành động dọa dẫm hay dùng vũ lực xâm hại toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của Ukraina ». Ngoài ra, theo các hình ảnh và bài báo tư liệu được Viện Nghe Nhìn Quốc Gia Pháp (INA) trích dẫn ngày 09/03/2025, ngoài việc tăng gấp đôi số tiền viện trợ 155 triệu đô la, Hoa Kỳ còn cam kết cung cấp « hỗ trợ đặc biệt để tăng cường an ninh cho các lò phản ứng hạt nhân dân sự, kiểu Tchernobyl », và nhất là « mở rộng cánh cửa "đối tác vì hòa bình" cho Ukraina, nói một cách khác, cho phép Kiev phát triển hợp tác quân sự với NATO ». Nhà nghiên cứu Marie Dumoulin, giám đốc chương trình Wider Europe, thuộc tổ chức tư vấn European Council on Foreign Relations, trong chương trình « Sự ra đời và cái chết của Bị Vong Lục Budapest » do đài phát thanh France Culture thực hiện trong tháng 7/2025, có lưu ý rằng sự kiện diễn ra trong bối cảnh Hoa Kỳ và Anh Quốc lo lắng cho mối họa phổ biến hạt nhân hơn là vấn đề an ninh của Kiev. Bởi vì, ngoài Ukraina, còn có hai nước thành viên Xô Viết khác cất trữ vũ khí hạt nhân là Belarus và Kazakhstan. « Có một cơ chế quốc tế quản lý các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân : Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân TNP. Nhưng các quốc gia độc lập mới này sinh ra từ đống đổ nát của Liên Xô lại không tham gia vào hiệp ước này, bởi vì, cho đến lúc đó, những nước này chưa tồn tại. Do vậy, thách thức đầu tiên là phải bảo đảm rằng Ukraina, Belarus và Kazakhstan, ba quốc gia cùng với Nga có triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của mình, tuân thủ Hiệp ước TNP (…) Nhưng điều quan trọng cần hiểu là đối với các nhà đàm phán Mỹ và Anh Quốc, thách thức chính vào thời điểm đó, không hẳn là vấn đề an ninh và chủ quyền lãnh thổ của ba nước này, mà thực sự là vấn đề không phổ biến hạt nhân, đồng thời bảo đảm rằng chỉ có một quốc gia kiểm soát vũ khí hạt nhân được thừa hưởng từ thời kỳ Xô Viết. » Hạt nhân và chủ quyền : Ukraina không có chọn lựa nào khác Chính vì điều này, vào tháng 12/1991, vào thời điểm Liên Xô tan rã, Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Bill Clinton đã nhìn nhận Nga như là một quốc gia hạt nhân, đồng thời tuyên bố sẵn sàng cung cấp hỗ trợ cho những nước khác xuất thân từ Liên Xô với điều kiện các nước này chấp nhận quy chế quốc gia không hạt nhân, theo như chuyên gia về Nga, bà Anne de Tinguy, giáo sư danh dự, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế CERI trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po từng giải thích với báo Libération (11/03/2022). Nhiều nhà quan sát tại Pháp đánh giá rằng với việc ký kết Bị Vong Lục Budapest, chính quyền Ukraina lúc bấy giờ đã chấp nhận từ bỏ vị thế « cường quốc hạt nhân đứng hàng thứ ba » trên thế giới (tính theo số lượng vũ khí hạt nhân). Đối với nhà ngoại giao Pierre Lévy, cựu đại sứ Pháp tại Nga (2020 – 2024), điều này là không hoàn toàn chính xác, do việc hệ thống kiểm soát và chỉ huy đều trú đóng tại Matxcơva. Vũ khí hạt nhân được bố trí tại Ukraina không đồng nghĩa với việc Kiev nắm giữ « nút bấm » hạt nhân. Chuyên gia Marie Dumoulin nhắc lại : « Việc từ bỏ kho vũ khí hạt nhân, trên thực tế, đó còn là một trong số các điều kiện cho quyền chủ quyền của Ukraina. Nếu như số vũ khí này vẫn còn được bố trí trên lãnh thổ Ukraina, điều đó cũng có nghĩa là Matxcơva có lẽ vẫn sẽ tiếp tục có một vai trò chủ đạo trong an ninh của Ukraina và do vậy, quyền tự quyết của Ukraina như chúng ta đã biết từ trước đến nay, có lẽ sẽ không thể được thực thi trong cùng những điều kiện. Đó chính là những gì đang diễn ra với Belarus, quốc gia đã chấp nhận để Nga bố trí vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của mình. Trên thực tế, ngoài ý nghĩa của động thái này đối với an ninh châu Âu, còn có những hậu quả tức thì cho quyền tự quyết của Belarus, hiển nhiên không còn giống như khi họ đã có thể từ chối quyền xem xét lại các quyết định của Matxcơva liên quan đến chủ quyền và an ninh của chính mình ». Bị Vong Lục Budapest : Những cam kết « ảo » ? Bất chấp những cam kết, hai mươi năm sau, năm 214, Matxcơva chiếm đoạt và cho sáp nhập bán đảo Crimée vào Nga, và thổi bùng cuộc xung đột ở Donbass. Không một bên ký kết Bị Vong Lục Budapest nào có những phản ứng thực sự. Đến năm 2022, Nga chính thức phát động « chiến dịch quân sự đặc biệt », xâm chiếm Ukraina. Ngày 04/03/2022, vào ngày thứ chín của cuộc chiến, tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky cay đắng chỉ trích NATO từ chối lập vùng cấm bay : « Tất cả những gì Liên minh Quân sự làm được đến hiện tại, là vận chuyển khoảng 50 tấn dầu diesel cho Ukraina thông qua hệ thống cung cấp của khối. Có lẽ là để chúng ta có thể đốt bỏ và thiêu rụi Bị Vong Lục Budapest. Nhưng đối với chúng ta, văn bản này đã bị đốt cháy, dưới hỏa lực của quân đội Nga ». Về điểm này, nhà nghiên cứu Marie Dumoulin, cũng trong chương trình « Sự ra đời và cái chết của Bị Vong Lục » trên đài France Culture, giải thích thêm như sau : « Bị Vong Lục Budapest bao gồm một danh sách các cam kết của các quốc gia bảo lãnh, tức là Nga, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, liên quan đến Ukraina, nhưng đây là những cam kết thụ động, nghĩa là các quốc gia này cam kết không làm một số điều nhất định liên quan đến Ukraina, không gây rắc rối về chủ quyền, độc lập và biên giới của Ukraina, không đe dọa sử dụng vũ lực, không gây áp lực kinh tế lên Ukraina và trong trường hợp Ukraina bị tấn công hạt nhân, họ cũng cam kết sẽ nhờ đến Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Không có cam kết chủ động nào, nghĩa là không có cam kết hành động nào khác ngoài cam kết tham vấn Hội đồng Bảo an nếu toàn vẹn lãnh thổ của Ukraina bị đe dọa. » Cam kết bị xâm phạm : Lỗi tại ai ? Ngày nay, phương Tây và Nga đổ lỗi cho nhau là không tôn trọng các cam kết đưa ra trong văn bản. Hoa Kỳ và Anh Quốc tuyên bố họ không vi phạm các cam kết, rằng họ không đe dọa tính toàn vẹn lãnh thổ Ukraina. Và quốc gia duy nhất đã vi phạm các cam kết đưa ra chính là Nga. Điều thú vị, theo nhà cựu đại sứ Pháp Pierre Levy khi giải thích với France Culture là những lập luận từ phía Nga. « Câu trả lời mà Vladimir Putin dành cho Reuters vào tháng 3/2024 mà ít ai nói đến, và theo tôi là rất thú vị, trong đó, ông ấy nói rằng "Nhìn xem, quý vị đã vi phạm các cam kết của mình đưa ra trong Bị Vong Lục Budapest. Ông ấy nói rõ là ông ấy không bị ràng buộc bằng những thỏa thuận quốc tế với một quốc gia vừa có một cuộc cách mạng bên trong. Thế nên, trong cách tiếp cận của Nga, đối diện với họ là một quốc gia mới. Tiếp theo, chúng ta thấy rõ sự nhất quán trong lập trường, bởi vì, đối với Nga, có một chính quyền quân sự cầm quyền ở Kiev đã thành công lập một chế độ mới với sự trợ giúp của phương Tây sau một cuộc đảo chính. Do vậy tất cả những điều này đều nằm trong lô-gic của Nga ». Năm 2014, quyết định sáp nhập bán đảo Crimée và cuộc chiến tại Donbass đã làm lộ rõ những điểm yếu của Bị Vong Lục, vốn chỉ là một bản ghi nhớ không phải là một hiệp ước và không mang tính chất ràng buộc. Các thỏa thuận Minks được ký kết, nhằm chấm dứt các cuộc giao tranh nhưng không bao hàm một bảo đảm an ninh nào cho Ukraina, cũng không cho phép giải quyết được vấn đề. Đảm bảo an ninh Ukraina : « Trò chơi chính trị » của phương Tây Ba mươi mốt năm sau ngày ký Bị Vong Lục, và với hai cuộc chiến xâm lược của Nga sau đó, chính quyền Kiev giờ đây muốn tránh bằng mọi giá rằng các cuộc đàm phán về bảo đảm hòa bình một lần nữa sẽ không là những « tờ giấy lộn ». Trước khi ký kết bất kỳ một thỏa thuận nào với Matxcơva, tổng thống Volodymyr Zelensky mong muốn có được những bảo đảm quân sự vững chắc từ phía các đối tác nhằm ngăn ngừa một cuộc chiến xâm lược mới. Tuy nhiên, bà Tatiana Stanovaya, chuyên gia về chính trị Nga và là nhà sáng lập nhóm nghiên cứu R. Politik, trả lời báo Pháp Le Figaro, nhắc lại lập trường của Nga đối với hòa bình cho Ukraina là rất rõ ràng, điện Kremlin, « không chấp nhận rằng các bảo đảm an ninh tập thể cho Ukraina để giải quyết khủng hoảng Ukraina được thông qua mà không có sự tham dự của Nga ». Nói một cách cụ thể : « Ukraina chỉ có thể được hưởng các bảo đảm về tôn trọng đường biên giới với điều kiện thực hiện một danh sách các cam kết do Nga đề ra ». Cũng theo nhà nghiên cứu về Nga, phương Tây khó thể bảo đảm an ninh cho Ukraina do phải đối mặt với hai thực tế : « Nga là một cường quốc hạt nhân và nước này đang chiến thắng trên chiến trường. Từ góc độ này, không nước nào, hoàn toàn không một nước nào, có thể đưa ra bất kỳ đảm bảo nào cho Ukraina. Điều gì sẽ thay đổi nếu cuộc xung đột đang bị đóng băng này lại bị Nga vi phạm trong tương lai ? Phương Tây có thể làm gì hơn hoặc khác đi ? Nga là một cường quốc hạt nhân, chỉ riêng câu trả lời này đã khép lại mọi cuộc tranh luận. Khi Emmanuel Macron nói về một "lực lượng tái bảo đảm" sẽ được triển khai tại Ukraina trong trường hợp hòa bình, thì vài nghìn quân có thể làm được gì để bảo vệ nước này khỏi sức mạnh quân sự của Nga ? Ý tưởng này là không nghiêm túc. » Trong bối cảnh này, các cuộc thảo luận xoay quanh những bảo đảm được nêu ra trong các cuộc đàm phán ngoại giao, đối với nhà khoa học chính trị Tatiana Stan
Cuộc chiến tranh tại dải Gaza giữa quân đội Israel và lực lượng Hamas, bùng lên sau vụ tấn công khủng bố của Hamas trên đất Israel khiến hơn một nghìn người chết, và hơn 250 người bị bắt làm con tin, đã kéo dài gần hai năm. Vùng lãnh thổ rộng hơn 40 km² của người Palestine bị tàn phá tan hoang, khiến hàng chục nghìn người chết, hàng trăm nghìn người bị thương, đa số dân cư phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Tuy nhiên, việc công nhận Nhà nước Palestine một lần nữa trở thành một vấn đề nóng bỏng của thời sự quốc tế. Nhiều nước châu Âu, tuyên bố công nhận Nhà nước Palestine. Nước Pháp dự kiến sẽ chính thức công nhận Palestine trong dịp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng 9/2025. Nhà nước Palestine là một trong những vấn đề chính trị quốc tế đương đại phức tạp bậc nhất. Tạp chí Tiêu điểm thời sự điểm lại một số diễn biến chính trong tiến trình tranh đấu vì một Nhà nước độc lập của người Palestine. Nghị quyết LHQ năm 1947 về hai Nhà nước, thế giới Ả Rập không công nhận Về vấn đề Nhà nước độc lập của người Palestine, ngày 29/11/1947 mà một cái mốc lịch sử. « Nghị quyết của ủy ban lâm thời của Liên Hiệp Quốc về vấn đề Palestine đã được thông qua với 33 phiếu thuận, 13 phiếu chống và 10 phiếu trắng. » Theo Nghị quyết 181 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, vùng lãnh thổ gọi là xứ Palestine, nằm dọc bờ biển đông Địa Trung Hải, phía bắc là Liban và phía nam là Ai Cập hiện nay, sẽ được chia thành hai Nhà nước, một Nhà nước của người Ả Rập và một của người Do Thái, và một khu vực do quốc tế kiểm soát, bao gồm các thánh địa như Jerusalem và thành Bethleem. Theo nghị quyết 181 của Liên Hiệp Quốc, nước Anh, quốc gia được Hội Quốc Liên – tiền thân của Liên Hiệp Quốc - giao trách nhiệm bảo trợ cho vùng đất này từ năm 1922, sau khi đế chế Ottoman giải thể, sẽ phải rút khỏi Palestine vào cuối năm 1948. Nghị quyết về hai Nhà nước liên quan đến vùng đất lịch sử Palestine được coi là một nguyên tắc pháp lý căn bản của Liên Hiệp Quốc về « vấn đề Palestine ». Năm 2000, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã thông qua nghị quyết 1397 tái khẳng định « giải pháp hai Nhà nước ». Tuy nhiên, nghị quyết 181 của Liên Hiệp Quốc đã không được thực thi đầy đủ. Ngày 14/05/1948, Nhà nước Israel của người Do Thái chính thức ra đời. Nhưng đã không có một Nhà nước của người Ả Rập. Các đụng độ bùng phát dữ dội giữa các cộng đồng người Ả Rập cư trú lâu đời tại xứ Palestine, với người Do Thái, trong đó có rất nhiều người đến từ châu Âu, đặc biệt sau các cuộc diệt chủng người Do Thái của chế độ Đức Quốc xã. Ước tính từ khoảng 800.000 người đến hơn 1 triệu người Ả Rập tại Palestine đã phải rời bỏ quê hương trong biến cố được gọi là « Nakba », tiếng Ả Rập có nghĩa là đại thảm họa. Năm 2023, lần đầu tiên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức tổ chức kỷ niệm thường niên biến cố « Nakba ». Cho đến nay, theo Liên Hiệp Quốc, có hơn 4 triệu người là người Palestine tị nạn sau biến cố Nakba, hoặc hậu duệ của họ. Thế giới Ả Rập không công nhận nhà nước Do Thái. Cuộc chiến tranh Ả Rập – Do Thái đầu tiên bùng nổ vào năm 1949. Sau cuộc chiến tranh này Jordanie kiểm soát vùng Cisjordanie và Đông Jerusalem, dải Gaza thuộc quyền kiểm soát của Ai Cập. Cũng năm này, Liên Hiệp Quốc công nhận Nhà nước Israel. Hai mươi năm « bị xóa sổ khỏi lịch sử » Nếu như trước khi Nhà nước Do Thái ra đời, các cộng đồng người Ả Rập Palestine từng có một vị thế nhất định, thì sau thời điểm này, người Palestine hoàn toàn « bị xóa sổ khỏi lịch sử », như ghi nhận của chuyên gia Jean-Paul Chagnollaud, giáo sư danh dự các trường Đại học, chủ tịch Viện nghiên cứu về vùng Trung Đông Địa Trung Hải (IREMMO) với đài France Culture : « Trong suốt 20 năm đó – từ 1949 đến cuộc chiến 1967 - có thể nói rằng người Palestine đã bị đẩy ra khỏi ‘‘lịch sử’’ hoặc bị xóa sổ khỏi lịch sử như người ta thường nói, và chủ nghĩa dân tộc Palestine – vốn đang hình thành - đã bị suy yếu nghiêm trọng. Những người mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa Palestine vào thời điểm đó chính là những người Palestine đã rời khỏi vùng đất nơi Nhà nước Israel được thành lập. Đó là những người tị nạn, những người sẽ đến Liban, đến Jordanie. Có rất nhiều người tị nạn ở Jordanie. Họ cũng đến dải Gaza, nơi đang nằm dưới sự quản lý của Ai Cập của thời điểm đó. Điều này khiến dân số dải Gaza vào những năm 1949 - 1950 gồm đến 90% là người tị nạn, tức là những người có quê hương tại các vùng đất ở Palestine, cách đó chỉ 10, 30, 50, 100 km, tức rất gần, vì Gaza là một vùng lãnh thổ rất nhỏ, chỉ bằng hai, ba tỉnh của nước Pháp. Như vậy là người Palestine biến mất và trên bình diện quốc tế, người ta chỉ còn nói đến ‘‘vấn đề người tị nạn’’. Người ta thậm chí không còn dùng đến từ “Palestine” nữa. Để lấy một ví dụ cụ thể, có thể dễ dàng kiểm chứng về mặt pháp lý : Đó là nghị quyết đầu tiên sau cuộc chiến tranh năm 1967, nghị quyết 242 tháng 11/1967. Đây là một nghị quyết quan trọng, nghị quyết đầu tiên sau cuộc chiến năm 1967. Nghị quyết này nói rằng các lãnh thổ đã chiếm đoạt phải được trả lại cho các quốc gia, và khi nói về người tị nạn, thì chỉ có một dòng về họ. Người ta thậm chí không dùng từ “Palestine”, mà chỉ yêu cầu có ‘‘một giải pháp công bằng’’, chỉ một dòng đó mà thôi (un juste règlement du problème des réfugiés). Nói cách khác, người Palestine đã biến mất. » Tổ chức Giải phóng Palestine ra đời dưới quyền kiểm soát của Ai Cập Tổ chức Giải phóng Palestine PLO được thành lập chính thức vào năm 1964. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, tổ chức mang tôn chỉ giải phóng Palestine phục vụ trước hết cho quyền lợi của một số thế lực Ả Rập trong khu vực, đặc biệt là nước Ai Cập của Nasser (một cường quốc trong khu vực, đặc biệt sau cuộc chiến thắng lợi trước liên minh Anh, Pháp và Israel nhằm kiểm soát kênh đào Suez năm 1956), và vương quốc Jordanie, kiểm soát vùng Cisjordanie của người Palestine. Chuyên gia Jean-Paul Chagnollaud nhận định : « Lãnh đạo Palestine Arafat, với việc thành lập tổ chức Fatah (phong trào giải phóng dân tộc Palestine) năm 1959, đã xuất hiện trong bối cảnh đó, một bối cảnh bị chi phối bởi lãnh đạo Ai Cập Nasser. Còn người dân vùng Cisjordanie bị chi phối bởi quan điểm chính thống về dân tộc Jordan, với những gia tộc lớn gần gũi với hoàng gia Jordanie, các thế lực kiểm soát các thành phố Cisjordanie. Trong toàn bộ giai đoạn này, việc khẳng định tinh thần dân tộc Palestine là điều gần như bất khả thi. Làm sao có thể làm cho người Palestine cảm thấy mình là một dân tộc đang hình thành sau tất cả những sự kiện đã làm cho họ bị phân mảnh, tan tác, bị đập nát theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tổ chức Giải phóng Palestine PLO được thành lập năm 1964. PLO được thành lập bởi ai ? Trong tổ chức này có người Palestine, nhưng PLO là do lãnh đạo Ai Cập Nasser lập ra, với sự ủng hộ của vua Jordanie Hussein. Tại sao họ lại thành lập PLO vào thời điểm đó ? Bởi vì họ biết rằng thực sự có một phong trào dân tộc đang manh nha, đang được xây dựng, đang định hình, đó là phong trào dân tộc chủ nghĩa Fatah, do Arafat lãnh đạo, từ đầu những năm 1960. Nasser không thể để mình bị vượt mặt. Và vì vậy, cần phải kiểm soát. Vậy làm sao để kiểm soát ? Bằng cách thành lập một tổ chức, Tổ chức Giải phóng Palestine, với sứ mệnh lúc đó là xác lập sự thống nhất của các nước Ả Rập, trước khi lo chuyện Palestine. Khối Ả Rập thống nhất sẽ cho phép giải phóng Palestine, đó là cách người ta nói vào thời điểm đó. Trong kịch bản đó, PLO không phải là của người Palestine, mặc dù người đứng đầu PLO là Ahmad Shukeiri. Ông ấy là một người Palestine, nhưng là một người Palestine làm bình phong cho Nasser. Nhân vật này từng làm việc tại Liên đoàn Ả Rập với Nasser. Lập ra PLO thực sự là một việc chủ yếu do Ai Cập chủ trương để cố gắng kiểm soát tình hình, và họ đã thành công. » Cuộc chiến « Sáu ngày » 1967 : Thất bại của khối Ả Rập và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Palestine Năm 1967, cuộc chiến tranh thứ ba giữa các nước Ả Rập và Israel bùng nổ. Cuộc chiến chỉ kéo dài 6 ngày nhưng để lại các hệ quả lớn. Israel giành lại dải Gaza và vùng Cisjordanie, nhưng thất bại của khối Ả Rập, cũng để ngỏ cơ hội cho sự trỗi dậy của phong trào dân tộc Palestine với vai trò hàng đầu của nhà lãnh đạo Arafat. Giáo sư Jean-Paul Chagnollaud nhận định : « Đối với chủ nghĩa dân tộc Palestine, vốn bị kìm hãm bởi chủ nghĩa dân tộc Ả Rập, điều này đã mở ra những triển vọng mới. Chủ nghĩa dân tộc Palestine có thể nói đã nhanh chóng lấp đầy khoảng trống, đột ngột mở ra do thất bại hoàn toàn của các nước Ả Rập, do thảm họa năm 1967. Việc thay đổi lãnh thổ như vậy đã mang lại thay đổi địa-chính trị to lớn, và tiếp đó là sự suy yếu của chủ nghĩa dân tộc Ả Rập, đã mở rộng đường cho chủ nghĩa dân tộc Palestine và cho Arafat. Tôi có thể nói thêm một điều này : Nếu như năm 1964 PLO đã bị Ai Cập, Nasser và Ahmad Shukeiri thao túng, thì ngay sau cuộc chiến, tức là vào những năm 1968-1969, người Palestine đã giành quyền kiểm soát PLO. Kể từ tháng 2/1969, PLO đã thực sự trở thành tổ chức của người Palestine kể từ năm 1968. » Phong trào Intifada đầu tiên, PLO tuyên bố thành lập Nhà nước Palestine Phong trào PLO dưới sự lãnh đạo của Arafat, để hướng tới khẳng định quyền tự quyết dân tộc, quyền của một Nhà nước độc lập của người Palestine, đã tiến hành cùng lúc hai cuộc chiến, cuộc tranh đấu vũ trang và cuộc tranh đấu về chính trị và ngoại giao. Năm 1974, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chính thức công nhận « quyền tự quyết » và « nền độc lập » của người Palestine, và công nhận vai trò quan sát viên của PLO tại Liên Hiệp Quốc. Trong tiến trình tranh đấu của người Palestine, phong trào tranh đấu ôn hòa Intifada lần thứ nhất, bùng lên từ cuối năm 1987 trước hết tại Gaza, rồi lan rộng sang vùng Cisjordanie, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhà nghiên cứu François Ceccaldi, đảm nhiệm môn lịch sử thế giới Ả Rập đương đại của Collège de France nhận định : « Phong trào Intifada là một giai đoạn lịch sử trong đó đã có rất nhiều biến chuyển, ít nhất là đã cho phép Arafat thay đổi phần nào chính sách của mình, thúc đẩy bởi những thành quả của phong trào Intifada và uy tín ngày càng tăng của tổ chức PLO. Ông đã quyết
Ngày 27/07/2025, Mỹ và Liên Hiệp Châu Âu đã ký kết một thỏa thuận thương mại, dự trù áp thuế 15% với hàng nhập khẩu của Liên Âu vào Mỹ . Chính sách kinh tế quyết liệt này của chính quyền Trump gợi nhắc đến chính sách của Richard Nixon, tổng thống Mỹ từ năm 1969 đến năm 1974. Giống như người tiền nhiệm, Donald Trump sử dụng kinh tế như một công cụ đàm phán để áp đặt các lựa chọn ngoại giao và thương mại. Sự việc bắt đầu vào một ngày Chủ Nhật 15/08/1971, vào lúc các sàn chứng khoán đóng cửa, tổng thống Richard Nixon bất ngờ thông báo « tạm thời » chấm dứt thỏa thuận Bretton Woods ký kết năm 1944, và tuyên bố áp thuế 10% đối với tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ, chủ yếu nhắm vào Đức và Nhật Bản, đang trên đà trỗi dậy. Quyết định này đã gây ra điều mà người ta gọi là « cú sốc Nixon ». 1944 : Thỏa thuận Bretton Woods Để hiểu được hành động của Richard Nixon, cần phải xem xét lại bối cảnh tiền tệ vào thời điểm trước và trong những năm 1940. Tháng 7/1944, Hoa Kỳ cùng với 44 nước đồng minh kinh tế họp tại khách sạn Mount Washington, thành phố Bretton Woods, bang New Hampshire, để chuẩn bị những nền tảng cơ bản cho hệ thống kinh tế toàn cầu. Theo như giải thích của giáo sư kinh tế Sébastien Jean, trường Conservatoire National des Arts et Metiers, trong một chương trình của tuần báo Pháp L’Express, « Tại hội nghị này, những nền tảng sắp xếp, tổ chức các mối quan hệ kinh tế quốc tế thời hậu chiến đã được đặt ra với ba trụ cột : thứ nhất là tài chính – hệ thống tiền tệ, thứ hai là viện trợ cho phát triển với việc thành lập Ngân hàng Thế giới và thứ ba là thương mại, phức tạp hơn một chút, nhưng sau đó, vào năm 1947, được thể hiện qua GATT (General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch), một hiệp định sau này cho ra đời WTO – Tổ chức Thương mại Thế giới. » Cũng theo giáo sư Sebastien Jean, trong thỏa thuận này, điều đáng chú ý nhất là các nước tham gia hội nghị quyết định áp dụng một chế độ tỷ giá hối đoái cố định mới dựa vào đồng đô la thay cho cơ chế bản vị vàng, vốn dĩ xác định giá trị các loại tiền tệ dựa theo vàng. « Đồng đô la vẫn sẽ giữ được khả năng chuyển đổi tự do sang vàng. Điều này là khả thi bởi vì trong thời kỳ chiến tranh, do Hoa Kỳ cung ứng cho các nước và bắt họ thanh toán bằng vàng, vì vậy vào thời điểm đó, Mỹ nắm giữ hơn hai phần ba dự trữ vàng của thế giới. Do đó, họ có rất nhiều vàng và có đủ sức thuyết phục để tuyên bố "Chúng tôi muốn đồng tiền của chúng tôi và giá trị của chúng được xác định bằng vàng", bởi vì vào thời điểm đó, vàng được coi là sự đảm bảo tối thượng. Nhưng đô la là đồng tiền duy nhất trong tình huống này. » Bretton Woods và những hạn chế Nhưng hệ thống tiền tệ mới này bắt đầu cho thấy có những hạn chế. Mỹ và đồng đô la phải đối mặt với những « mệnh lệnh đầy mâu thuẫn ». Thứ nhất, khi biến đô la thành đồng tiền dự trữ và được neo theo vàng, Hoa Kỳ trở thành nguồn cung cấp đô la chính cho toàn thế giới : Đô la vừa là tài sản dự trữ quốc tế, vừa là tài sản giao dịch. Hệ quả, theo giáo sư Sebastien Jean, là Mỹ « phải cho lưu hành rất nhiều đô la bởi vì phải có thanh khoản trong hệ thống tiền tệ quốc tế. Và để có thanh khoản, Mỹ phải đi vay : Một đô la lưu hành tương đương với một chứng khoán nợ do Ngân hàng Trung ương Mỹ phát hành, giống như bất kỳ loại tiền tệ nào. » Cùng lúc, Hoa Kỳ phải đối mặt với mệnh lệnh mâu thuẫn thứ hai : Cơ chế neo đồng đô la với vàng. « Để việc neo giá này trở nên đáng tin cậy, để cho giá trị đồng đô la có uy tín trên thế giới, Mỹ không được vay nợ quá mức. Bởi vì mỗi khi mắc nợ, Hoa Kỳ lại phát hành đồng đô la mà họ cho là có một giá trị cố định bằng vàng. Nhưng càng phát hành nhiều, độ tin cậy của đô la càng giảm. » Chỉ có điều, vào cuối những năm 1960, những khoản chi cho cuộc chiến ở Việt Nam khiến tình trạng thâm hụt ngân sách Mỹ ngày càng nặng. Điều này làm dấy lên mối ngờ vực từ nhiều nước về độ tin cậy của khả năng tự do quy đổi đô la thành vàng, trong khi Hoa Kỳ cảm thấy bị bó buộc, bởi vì họ muốn vay nợ nhiều hơn để tài trợ cho cuộc chiến, nhưng lại không thể thực hiện mà không gây nguy hiểm cho sự ổn định của hệ thống tiền tệ, theo như nhận định của giáo sư Sebastien Jean. Trả lời tuần báo Pháp L’Express, ông giải thích : « Như thông lệ trên thị trường tài chính, có thể có những dự báo được thực hiện (tự chứng dự báo), nghĩa là nếu một số tác nhân bắt đầu nghi ngờ giá trị đồng đô la, về khả năng chuyển đổi tự do thành vàng, thì vào lúc đó, tất cả những ai giữ đô la đều sẽ muốn đổi đô la ra vàng và như vậy, họ phá hủy độ tín nhiệm của đồng đô la và điều đó có nguy cơ dẫn đến phản ứng dây chuyền, kết thúc nhanh chóng một cách thảm khốc ». Đây chính là điều Pháp đã thực hiện. Tháng 8/1971, Paris đã cho quy đổi một lượng lớn đô la dự trữ thành vàng, đưa lượng lớn vàng dự trữ từ Mỹ về nước. Hệ quả là lượng vàng dự trữ của Hoa Kỳ sụt giảm mạnh : từ mức 2/3 dự trữ thế giới vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến, đến năm 1970 rớt xuống còn 1/6. Mỹ không còn vị thế như xưa để có thể tác động đến cơ cấu hệ thống tiền tệ thế giới. Chính trong bối cảnh bất định này, Hoa Kỳ còn phải đối mặt với một sự cạnh tranh kinh tế khốc liệt với châu Á và châu Âu, những điều kiện tạo nên chiến thắng lợi của ông Richard Nixon, ứng viên đảng Cộng Hòa, trong bầu cử năm 1969. Giáo sư kinh tế Sebastien Jean cho biết : « Vào thời kỳ đó, Hoa Kỳ đương nhiên vẫn là một đại cường về kinh tế, đi đầu về công nghệ. Nhưng đó cũng là thời điểm các nước châu Âu cũng như Nhật Bản, không những đã kết thúc giai đoạn tái thiết đất nước mà còn bắt kịp về cơ bản sự chậm trễ về công nghệ đối với Mỹ. Những nước này có sức tăng trưởng rất nhanh, được giữ vững từ năm 1945. Họ chưa bắt kịp nhưng đã lấp được phần lớn cách biệt với Mỹ đến mức trở thành những cường quốc kinh tế, thương mại, công nghệ, những đối thủ cạnh tranh với Mỹ, điều chưa từng có trong quá khứ ». Cùng một phương pháp Chủ Nhật, ngày 15/08/1971, tổng thống Mỹ Nixon thông báo tạm dừng khả năng quy đổi tự do đô la thành vàng với hiệu lực tức thì. Như vậy, Hoa Kỳ đã có thể in tiền và bơm chúng vào nền kinh tế mà không cần tăng lượng vàng dự trữ. Thông báo này gây chấn động thị trường thế giới. Ngày hôm sau, 16/08/1971, ngay khi thị trường mở cửa, cam kết chuyển đổi đô la sang vàng ở mức 32 đô la/ounce đã bị Hoa Kỳ đình chỉ « tạm thời ». Nhưng trên thực tế, cam kết này sẽ không bao giờ được khôi phục. Richard Nixon : « Tôi chỉ thị cho bộ trưởng Tài Chính tạm dừng cơ chế chuyển đổi đô la sang vàng hay bất kỳ tài sản dự trữ nào khác, ngoại trừ các điều kiện được ấn định vì lợi ích của việc ổn định tiền tệ và vì lợi ích tốt nhất cho nước Mỹ. » Cùng một lúc, tổng thống Nixon tuyên bố áp thuế 10% đối với tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ. Đây là một cách để ông hạ giá đồng đô la một cách giả tạo và tạo ra ngoại hối, cho phép « vực dậy nền kinh tế Mỹ và đồng đô la, để trả lại cho Mỹ vị thế nền kinh tế hàng đầu thế giới ». Quyết định đơn phương này của chính quyền Nixon, đương nhiên đã bị nhiều nước phản đối và đưa ra các biện pháp trả đũa, nhưng lại khá rời rạc và có phần hạn chế. Sự việc cũng đã mở ra một thời kỳ bất ổn kinh tế và những căng thẳng cho các mối quan hệ quốc tế. Giới truyền thông lúc bấy giờ gọi chính sách này của Mỹ là « Nixon Round ». Các hình ảnh tư liệu của Viện Nghe nhìn Quốc gia Pháp (INA) cho thấy rõ lập trường và ý định của Mỹ muốn buộc các cường quốc kinh tế mới nổi (Nhật Bản, Cộng Hòa Liên Bang Đức và Cộng đồng Kinh tế Châu Âu), phải trả giá. Đó là những nước, khu vực đã tự vực dậy nhờ vào viện trợ tài chính của Mỹ và giờ đây đang đe dọa cạnh tranh kinh tế với Mỹ. Hai bối cảnh Hơn nửa thế kỷ sau, Donald Trump, tổng thống thứ 47, cũng thực hiện một cách thức tương tự như người tiền nhiệm áp dụng chính sách bảo hộ khi đơn phương đưa ra các mức thuế quan « chóng mặt » nhắm vào các đối tác, bất kể là đồng minh. Tuy nhiên, trang mạng INA lưu ý thêm rằng, nếu như các phương pháp thực hiện có vẻ giống nhau, thì bối cảnh và các mục tiêu là hoàn toàn khác biệt. Đối với Richard Nixon, tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ, biện pháp này trước hết là nhằm thống trị thị trường thế giới bằng cách tái cân bằng dòng chảy thương mại và buộc các đối tác hung hăng nhất của Mỹ phải tái điều chỉnh giá trị đồng nội tệ của họ so với đô la qua đó, hạn chế lợi thế cạnh tranh của những nước đó. Vào năm 2025, với khẩu hiệu « America First », mục tiêu của tổng thống Donald Trump mang tính ý thức hệ nhiều hơn. Như đã nêu rõ vào ngày 02/04/2025, Donald Trump hy vọng đưa nhà xưởng trở lại Mỹ để tạo ra việc làm, giảm lạm phát và giảm thâm hụt thương mại. Một chính sách mang hơi hướng chủ nghĩa biệt lập. Các quyết định kinh tế của Donald Trump, không hẳn nhằm khôi phục sức mạnh của Mỹ ở bên ngoài, mà là tập trung trở lại vào thị trường nội địa. Ngoài ra, Trump hoạt động trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa và các chuỗi cung ứng quốc tế đã được thiết lập vững chắc. Ngược lại, chính quyền Nixon ban hành các biện pháp thuế quan trong tình trạng mất cân bằng thương mại ngày càng lớn, thế ưu việt của Mỹ đang bị suy giảm dần. Việc sử dụng thuế quan như là một công cụ đàm phán là một khía cạnh chung khác trong cả hai chính sách, nhưng đối với Donald Trump đó là nhằm đạt được các nhượng bộ về những vấn đề không hoàn toàn mang tính kinh tế như việc giám sát biên giới và chống di dân bất hợp pháp. Vào năm 1971, đối với Nixon, đó là nhằm bảo vệ nền kinh tế Mỹ bằng cách tự giải thoát khỏi sự kìm kẹp tiền tệ mà ông cho là quá cứng nhắc ! Những hệ quả Ngoài mục đích chính trị nội bộ, thu hút lá phiếu cử tri, cả hai chính sách này có những tác động đáng kể trong cơ cấu kinh tế thế giới. Những quyết định của chính quyền Nixon năm xưa đã thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa, củng cố các liên minh đối thủ cạnh tranh kinh tế, chẳng hạn như sự ra đời của Liên Hiệp Châu Âu, hay Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa OPEC… Vào năm 2025, hệ quả toàn cầu từ « học thuyết Mar-a-Lago » do Trump đề xướng là sự bùng phát các đòn trả đũa từ nhiều tác nhân kinh tế. Năm 1971, Hoa Kỳ vẫn chiếm thế độc tôn về kinh tế và nhiều lĩnh vực khác. Nhưng tron



